VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ QUỲNH THANH
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Trần Văn Luyện
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Trần Văn Luyện. Các số liệu và trích dẫn trong
luận văn là trung thực. Các kết quả nghiên cứu của Luận
văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nào khác. Tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu
của mình.
Tác giả luận văn
Ngô Quỳnh Thanh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
CTTP
Cấu thành tội phạm
Thông tư liên tịch số
Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-
17/2007/TTLT
BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP
Thông tư liên tịch số
Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-
08/2015/TTLT
BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tỉ lệ % số vụ án, số bị cáo xét xử về tội tàng trữ trái phép chất
nhưng diễn biến phức tạp, khó quản lí vì có nhiều người nghiện là lao động tự
do, tạm trú trên địa bàn quận, tính đến ngày 15/01/2018 quận Hà Đông có 354
người nghiện có hồ sơ quản lí, con số này sẽ là cao hơn nữa nếu thống kê đủ số
người nghiện chưa có hồ sơ quản lí, đó cũng là một trong những nguyên nhân
dẫn đến nhu cầu sử dụng ma túy cao, đồng nghĩa với tội phạm về tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy phát triển. Quận Hà Đông nằm giữa giao
1
điểm của quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình và quốc lộ 70A; cũng là điểm khởi
đầu của quốc lộ 21B nối trung tâm Hà Nội với các huyện phía Nam của Thủ đô
và tỉnh Hà Nam, tỉnh Ninh Bình, giao thông thuận lợi tạo điều kiện để giao lưu,
mua bán với các huyện của Thủ đô và các tỉnh lân cận; lại đang trong quá trình
đô thị hóa rất nhanh với nhiều công trình dân sinh, giao thông lớn được xây
dựng, thu hút nhiều lao động ở các tỉnh, thành về sinh sống. Đây là những yếu tố
thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, song cũng làm phát sinh các loại
tội phạm và tệ nạn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự trên
địa bàn quận. Đáng chú ý là tình hình tội phạm về ma túy, mặc dù số vụ không
tăng nhiều, thậm chí có năm giảm nhưng tăng số người phạm tội và số lượng ma
túy thu giữ được.
Trước tình hình đó, các cấp, các ngành của quận Hà Đông đã có nhiều
giải pháp nhằm kìm chế, xóa bỏ ma túy trên địa bàn như tăng cường công tác
tuyên truyền, giáo dục tác hại của ma túy trong cộng đồng; tăng cường công tác
cai nghiện, quản lí sau cai nghiện,… đặc biệt nâng cao vai trò, hiệu quả của hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về ma túy. Những năm qua, Tòa án nhân
dân quận Hà Đông đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong hoạt động xét xử tội tàng
trữ trái phép chất ma túy bằng việc ra những bản án nghiêm minh, đúng người,
đúng pháp luật đã góp phần giáo dục, trừng trị người phạm tội nói riêng; răn đe,
phòng ngừa trong xã hội nói chung. Tuy nhiên vẫn còn những vi phạm, hạn chế
Châu” năm 2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Học viện Khoa học Xã
hội Việt Nam,
- Nguyễn Kim Thanh, “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Long
Biên, thành phố Hà Nội” năm 2016, Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Học
viện Khoa học Xã hội Việt Nam,
- Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh, “Phòng ngừa các tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí
3
Minh hiện nay”, năm 2015, Luận án tiến sĩ, khoa Tội phạm học và phòng ngừa
tội phạm, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu trên dưới góc độ của Luật hình sự hoặc dưới
góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm đưa ra những kiến nghị và giải
pháp hữu ích để áp dụng vào thực tiễn. Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tư cách là tội ghép theo quy định tại
Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 mà chưa có
công trình nào nghiên cứu tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tư cách là một
tội danh độc lập, trong bối cảnh tội danh này có nhiều điểm mới theo quy định
của Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do
vậy, đề tài “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” có
thể coi là một đề tài mới, lần đầu được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật
học, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Từ việc nghiên cứu thực tiễn xét xử, cụ thể là định tội danh và quyết định
hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy của Tòa án nhân dân quận Hà
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương
pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu thực tiễn các bản án,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tội tàng
trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của
Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Do đó có ý nghĩa về mặt lí
luận là có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập của học viên; ý kiến tham khảo
cho hoạt động hoàn thiện pháp luật hình sự. Mặt khác có ý nghĩa về thực tiễn là
góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói
chung và hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội nói riêng.
5
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm:
Phần mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lí luận và pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất
ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam,
Chương 2: Thực tiễn xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy của Tòa án
nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2012-2017.
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với
tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Kết luận,
Danh mục tài liệu tham khảo,
Các bảng thống kê.
6
7
hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ
ban hành” [1, tr.1].
1.1.1.2. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm về “Tội tàng trữ
trái phép chất ma túy”, mà chỉ có khái niệm “Tội phạm là gì?”, “Tàng trữ trái
phép chất ma túy là gì?”.
Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (viết tắt BLHS 1999),
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa” [18, tr.4]
Theo quy định tại khoản 1, Điều 194 BLHS 1999 thì “Người nào tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm” [18, tr.76].
Như vậy, đây là một tội ghép và chỉ nêu tên tội phạm mà không nêu khái
niệm thế nào là “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP (viết tắt là Thông tư liên tịch
số 17/2007/TTLT) ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại
chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999, cũng chỉ đưa ra khái
niệm thế nào là “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
“Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất
ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong
vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người
khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Việc phân chia này chỉ có ý
9
nghĩa về mặt nhận thức còn trong thực tế 4 yếu tố này là một thể thống nhất
không thể tách rời đối với từng CTTP cụ thể.
- Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam,
những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự được quy
định tại Điều 8 của BLHS. Hành vi bị coi là tội phạm theo luật hình sự Việt
Nam là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một trong những quan
hệ xã hội đã được xác định đó.
Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chính sách thống nhất
quản lí của nhà nước về các chất ma túy bị tội phạm xâm hại.
Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm,
bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho
những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [7, tr.94].
Đối tượng tác động của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là các chất ma
túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy [8, tr.203].
Các chất ma túy và tiền chất được quy định tại Nghị định 82/2013/NĐ-CP
ngày 19/7/2013 của Chính phủ và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số
82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành Danh mục các chất ma
túy và tiền chất.
- Mặt khách quan của tội phạm: Là mặt bên ngoài của tội phạm, bao
gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách
quan [7, tr.99].
Biểu hiện bên ngoài đó bao gồm hành vi khách quan của tội phạm, hậu
quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của
xuất trái phép chất ma túy.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy
1.2.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
11
- Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1985
Ngay từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, ngày 03/9/1945,
một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong bài về "Những nhiệm vụ cấp
bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng
mọi thủ đoạn nhằm hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng
gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là
phải giáo dục lại nhân dân chúng ta... Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm thuốc
phiện". Thực hiện chỉ thị của Người, ngày 05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi
phạm thể lệ quản lý thuốc phiện. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 225/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có hành vi vi
phạm thể lệ quản lý thuốc phiện có thể bị tịch thu thuốc phiện, phạt tiền hoặc bị
truy tố trước Toà án nhân dân.
Hai Nghị định này chỉ dừng lại việc xử lí đối với hành vi vận chuyển, tàng
trữ trái phép ma túy, vẫn cho phép trồng thuốc phiện do đó tình trạng nghiện ma
túy trong nhân dân vẫn không giảm. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban
hành Nghị định số 580/TTg ngày 15/9/1955 quy định những trường hợp cụ thể
có thể đưa ra Toà án để xét xử; Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 635/VVH-HS
ngày 29/3/1945 và Thông tư số 33/VHH-HS ngày 05/07/1958 hướng dẫn đường
10/10/1996, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao
đã ban hành Thông tư liên ngành số 09/TTLN hướng dẫn Điều 96a và Điều 203.
Ngày 10/5/1997 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung (lần thứ 4) một
số điều của BLHS năm 1985, đã quy định các tội phạm về ma túy thành một
chương riêng - Chương VIIA.
Chương VIIA gồm 14 điều, quy định 13 tội danh, gồm „Tội trồng cây
thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy” – Điều 185a, “Tội sản
xuất trái phép chất ma túy” – Điều 185b, “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” –
13
Điều 185c; “Tội vận chuyển trái phép chất ma túy” – Điều 185d, “Tội mua bán
trái phép chất ma túy” – Điều 185đ; “Tội chiếm đoạt chất ma túy” – Điều 185e...
Trong Chương VIIA, tội phạm về ma túy đã được quy định thành các
điều luật riêng cụ thể, rõ ràng từng hành vi tương ứng với từng khung hình
phạt. Cho thấy tư duy và trình độ lập pháp của Nhà nước ta đã có nhiều tiến
bộ; đồng thời qua đó thấy được việc Đảng, Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc
hơn về tác hại của ma túy và những hành vi vi phạm về ma túy sẽ phải chị u
hình phạt nghiêm khắc.
1.2.2. Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật Hình sự
năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
- Quy định về tội phạm:
Trong quá trình áp dụng BLHS năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế bất cập,
để đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội, ngày 21/12/1999 BLHS mới được
ban hành trên cơ sở kế thừa những thành tựu khi áp dụng BLHS năm 1985. Bộ
luật Hình sự năm 1999 quy định các tội phạm về ma túy tại Chương XVIII, gồm
10 tội, từ Điều 192 đến Điều 201.
Điều 194 BLHS 1999 được hình thành trên cơ sở ghép 04 điều luật của
BLHS năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1997 là “Tội tàng trữ trái phép chất ma
Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số
08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP (viết tắt Thông tư liên tịch số
08/2015/TTLT) sửa đổi một số điều của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT đã
góp phần tháo gỡ khó khăn, bất cập khi áp dụng Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT.
- Quy định về hình phạt:
Điều 194 BLHS 1999 quy định hình phạt chính gồm có 4 khung, khung cơ
bản quy định tại khoản 1 có mức hình phạt tù từ 02 đến 07 năm. Khung tăng
nặng quy định tại khoản 2, 3, 4 có mức cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình.
Ngoài hình phạt chính, còn có hình phạt bổ sung như: hình phạt tiền, tịch thu
15
một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định.
1.2.3. Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Qua quá trình thực tế áp dụng Điều 194 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung
năm 2009 cho thấy những khó khăn, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung đó là:
Khó khăn khi xác định tội danh và hình phạt vì xét về hành vi nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm thì hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy và hành
vi chiếm đoạt chất ma túy không nguy hiểm bằng hành vi mua bán trái phép chất
ma túy, nhưng Điều 194 BLHS 1999 lại qui định về định lượng, mức hình phạt
đối với các hành vi này là như nhau nên thực tiễn gặp không ít khó khăn.
Ví dụ như: Trong vụ án vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nếu là
tội phạm đơn lẻ, độc lập thuộc trường hợp đặc biệt thì mức áp dụng hình phạt có
thể là chung thân hoặc tử hình. Nhưng với lượng ma túy như vậy hoặc có thể
nhiều hơn trong vụ án đồng phạm, có tổ chức, nhiều bị cáo hơn và vai trò của bị
cáo này thấp hơn bị cáo khác thì sẽ không áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử
là những đơn vị tính khối lượng chứ không phải trọng lượng. Vì vậy, BLHS
2015 thay đổi “Trọng lượng” thành “ Khối lượng” để phù hợp với đơn vị tính.
Qui định cụ thể thêm các chất ma túy nằm trong Danh mục chất ma túy ban
hành kèm theo Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ như:
Methamphetamine, Amphetamine, MDMA.
Như vậy, có thể thấy qua việc sửa đổi, bổ sung Điều 194 BLHS 1999,
BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định chi tiết, cụ thể mức
định lượng đối với từng tội phạm trong luật, thay đổi đơn vị tính từ “Trọng
lượng” thành “Khối lượng”, tách điều luật nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự
giúp cho cơ quan áp dụng pháp luật được chính xác và công bằng hơn, quy định
mức tối thiểu của khung hình phạt ở khoản 1 (khung cơ bản) nhẹ hơn, mặt khác
hạn chế được việc áp dụng hình phạt tử hình theo đúng chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta.
17
Kết luận Chương 1
Căn cứ tình hình thực tế hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật
nào quy định khái niệm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó tác giả đã
nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ma túy, chất ma túy, tội
phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để đưa ra khái niệm về “Tội tàng trữ trái
phép chất ma túy” làm tài liệu tham khảo quy định trong luật; đồng thời phân
tích những dấu hiệu pháp lí của tội tàng trữ trái phép chất ma túy giúp cho việc
định tội danh và quyết định hình phạt được chính xác, khách quan. Bên cạnh đó,
tác giả còn khái quát quá trình lịch sử hình thành và phát triển các quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy để có cách nhìn
khái quát, tổng hợp thấy được những kinh nghiệm gì trong quá trình lập pháp
cần phải phát huy, kế thừa; những gì là hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ
sung trong thời gian tới.
các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định”
[4, tr.33].
19
Theo tác giả Nguyễn Kim Thanh, “Định tội danh là hoạt động thực tiễn
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở
các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so
sánh và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của
hành vi tội phạm cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của
cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong phần các tội phạm BLHS quy
định, cũng như các quy định khác trong BLHS có liên quan, qua đó làm tiền đề
phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt
của người phạm tội” [26, tr.30].
Tác giả Phan Thị Hồng Thắng đưa ra khái niệm“Định tội danh là hoạt
động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở các quy định
của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi
nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm
tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội
phạm của điều luật tương ứng trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy
định, cũng như các quy định khác trong bộ luật hình sự có liên quan, qua đó làm
tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như
hình phạt của người phạm tội” [27, tr.9].
Ba khái niệm trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung về nội
dung là thống nhất, do đó theo tác giả có thể hiểu định tội danh là “việc xác định
và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi
tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã
được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [39, tr.9].
Từ khái niệm “Định tội danh” nêu trên có thể đưa ra khái niệm “Định tội