VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠ MANH QUÂN
PHẠM ANH QUÂN
NGÀNHLU ẬTHÌNHS ỰVÀ TỐ TỤ NGHÌNH SỰ
HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TÒA
ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
KHĨA IX
Hà Nội, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM ANH QUÂN
HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỊA ÁN
NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN TẤT VIỄN
11
1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hủy bản án sơ thẩm trong tố
tụng hình sự…………………………………………………………………..
18
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỦY BẢN
ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA TỊA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH........................................................................................................ 32
2.1.
Tình hình hủy bản án sơ thẩm hình sự tại Tịa án nhân dân cấp cao
Thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………………
32
2.2. Thực tiễn thi hành các quy định về căn cứ hủy bản án sơ thẩm tại Tòa
án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh............................................................................ 35
Chương 3: NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG SAI SÓT, VI PHẠM
TRONG HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
53
3.1. Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ thẩm
hình sự……………………………………………………………………….
Kiểm sát viên
TAND
Tịa án nhân dân
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
VAHS
Vụ án hình sự
VKS
Viện kiểm sát
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phịng, chống tội phạm không chỉ dừng lại ở việc ban hành Bộ
với hiệu lực thi hành của bản án thì bản án bị sửa có hiệu lực ngay cho dù
quyết định sửa đúng hay sai nhưng đối với bản án bị hủy thì phải quay trở lại
giai đoạn tố tụng trước đó, có thể phải điều tra lại hoặc xét xử lại. Do đó, việc
để nhiều vụ án phải xử lý lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng không chỉ gây thiệt
hại lớn cho ngân sách của nhà nước, xã hội, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi
của người tham gia tố tụng và nhất là làm mất lòng tin của nhân dân vào cơng
lý. Ngồi ra, mặc dù vấn đề hủy bản án hình sự là rất quan trọng nhưng quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 và một số văn bản
hướng dẫn thi hành Bộ luật đối với vấn đề này vẫn chưa thật sự chặt chẽ, chưa
đồng bộ, nhất là quy định hủy bản án trong một số trường hợp cụ thể nên đã
tạo ra khơng ít khó khăn, lúng túng cho Tịa án cấp trên khi áp dụng và trong
một số ít trường hợp là kẽ hở gây ra nhũng nhiễu, tiêu cực.
Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có
thể các bản án hình sự bị hủy là yêu cầu đặt ra cấp thiết, có ý nghĩa rất quan
trọng, không chỉ giúp làm sáng tỏ về mặt khoa học mà còn là cơ sở để đánh
giá tính thực tiễn của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), hiệu quả về mặt xã
hội trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Tất cả những vấn đề nêu
trên là lý do mà học viên chọn đề tài “Hủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực
tiễn Tịa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thực tế hiện nay, hủy bản án là một vấn đề được các cấp các ngành
hết sức quan tâm, cũng như những cán bộ làm cơng tác khoa học, trong đó
cũng có một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như sau:
2
-
án mà chưa đi sâu phân tích làm rõ quá trình thực hiện hủy bản án sơ thẩm
3
như thế nào, cũng chưa có tài liệu nào đề cập đến hủy bản án sơ thẩm hình sự
từ thực tiễn Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
(TPHCM). Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và phù hợp với yêu cầu
nâng cao chất lượng xét xử án hình sự trong cải cách tư pháp hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hủy bản
án sơ thẩm, đánh giá việc hủy bản án sơ thẩm từ thực tiễn xét xử của Tòa án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra một số
kiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của tịa án nhân dân cấp dưới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:
-
Làm rõ một số vấn đề lý luận về hủy bản án, mục đích, ý nghĩa của hủy
bản án; các nguyên tắc áp dụng đối với hủy bản án sơ thẩm hình sự.
-
Phân tích đánh giá từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền hủy bản án sơ
thẩm hình sự. Nêu kết quả và những hạn chế trong hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử của tòa án nhân dân cấp dưới thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
-
cấp cao TPHCM trong các năm 2017, 2018, 2019.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, mục đích, ý nghĩa, các
nguyên tắc áp dụng đối với hủy bản án sơ thẩm hình sự. Từ đó làm rõ các căn
cứ, trình tự, thẩm quyền và thủ tục hủy bản án sơ thẩm hình sự của TAND cấp
cao TPHCM.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Qua việc phân tích các quy định của pháp luật TTHS, chỉ ra những bất
cập, tồn tại góp phần giải quyết những khó khăn vướng mắc phát sinh trong
thực tiễn công tác. Từ đó giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra nguyên
5
nhân để xảy ra tình trạng hủy bản án sơ thẩm hình sự và đưa ra kiến nghị
nhằm khắc phục tình trạng này trong thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn được sắp xếp gồm các chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về hủy bản án sơ thẩm
hình sự.
Chương 2. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về hủy bản án sơ
thẩm hình sự của Tịa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ
thẩm và các giải pháp khắc phục.
6
Chương 1
trong thời hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành.
Thứ hai, quyền hủy bản án được thực hiện khi có các căn cứ theo luật
định, tức là phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc pháp chế trong tố tụng.
Như vậy, trong trường hợp vụ án đó có đầy đủ các căn cứ theo luật quy
định thì cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện quyền hủy bản án, tức phải
tuân thủ các quy định mà pháp luật tố tụng hình sự đã đặt ra, khơng được làm
sai hoặc cố tình vi phạm những quy định đó khi áp dụng.
1.1.2. Mục đích
Thứ nhất, việc hủy bản án trong TTHS nhằm mục đích giúp cho các cơ
quan tiến hành tố tụng cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án phát hiện ra
những sai phạm, thiếu sót của mình qua đó có cách thức khắc phục, tạo điều
kiện để đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Đây được xem
là yếu tố quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được những
bản án có vi phạm, tính chất mức độ như thế nào, làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến các quyền lợi cơ bản của công dân ra sao để quyết định có tiếp tục
thi hành bản án hay hoãn thi hành bản án.
Thứ hai, Đối với trường hợp bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật hay Viện
Kiểm sát (VKS) có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu hủy bản án, sửa bản án
hay giữ nguyên bản án. Trong trường hợp này thì tịa án mới quyết định thủ
tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm để đảm bảo các quyền, lợi
ích hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật … cũng như nhằm xác định
các tình tiết cịn chưa đầy đủ trong vụ án, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án
được đầy đủ, đúng đắn, khách quan và cơng bằng.
Thứ ba, Tịa án là cơ quan nhân danh Nhà nước để thực thi pháp luật, vì
vậy đây được xem là chủ thể quan trọng góp phần làm sáng tỏ vụ án, chứng
minh được các tình tiết trong vụ án đó, ai là người có hành vi vi phạm, tính
8
9
nói chung và những người đang trong q trình áp dụng các biện pháp nhằm
phục vụ quá trình điều tra xử lý án nói riêng an tâm vào chính sách đúng đắn
của Đảng, Nhà nước và đảm bảo tính cơng bằng về mặt xã hội được nêu cao.
Việc hủy bản án cũng góp phần khẳng định vai trị và đảm bảo uy tín của các
cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tịa án nói riêng, tránh để xảy ra tình
trạng oan sai hay bỏ lọt tội phạm.
-
Về mặt pháp lý: Việc hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là căn cứ, cơ
sở pháp lý quan trọng để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyên
tắc cơ bản của luật TTHS, là cơ sở để hình thành nguyên tắc “Thực hiện chế
độ hai cấp xét xử”.
-
Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức: Việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức luôn luôn được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đây được xem là một
trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước ta nhằm xây dựng một xã hội
cơng bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, việc tôn trọng và bảo đảm quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là một trong những
nhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như pháp luật TTHS nói riêng. Tại
Điều 8 BLTTHS năm 2015 [15, tr.4] quy định cụ thể và chi tiết trách nhiệm
của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo
vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Như
sự coi là tội phạm.
Thứ hai, tội phạm mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu
cầu khởi tố: Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là một trong những quy
định của pháp luật TTHS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại. Tuy nhiên,
trong thực tiễn có những trường hợp việc khởi tố VAHS để truy cứu trách
nhiệm người thực hiện hành vi phạm tội có thể gây thêm những tổn thất khác
cho bị hại so với việc không khởi tố VAHS như gây thêm những tổn thất về
tinh thần, làm lộ bí mật đời tư của bị hại, phá vỡ sự tha thứ, hòa giải và thỏa
11
thuận bồi thường giữa các bên... Chính vì vậy, pháp luật TTHS quy định đối
với một số trường hợp tội phạm xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của
con người hoặc xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, không phải là tội rất nghiêm
trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội không phải là rất lớn hoặc đặc biệt lớn, khơng có tình tiết định khung tăng
nặng thì việc khởi tố vụ án chỉ có thể được thực hiện khi có yêu cầu khởi tố
của bị hại hoặc người đại diện của họ.
BLTTHS năm 2015 quy định có 10 tội phạm thuộc trường hợp chỉ được
khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, gồm khoản 1 các Điều 134, 135, 136,
138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS.
So với BLTTHS năm 2003, quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của
bị hại trong BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm mới như: BLTTHS năm 2015
mở rộng phạm vi chủ thể có tư cách bị hại, đồng nghĩa với phạm vi chủ thể có
quyền yêu cầu khởi tố VAHS cũng được mở rộng. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều
155 BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định “Bị hại hoặc người đại diện của bị
hại đã rút yêu cầu khởi tố thì khơng có quyền u cầu lại, trừ trường hợp rút
yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức” [15, tr.69]. Quy định của BLTTHS năm
2015 là hợp lý vì cả bị hại và người đại diện của họ đều là chủ thể của quyền
được” [15, tr.141], điều đó cho thấy, người được Tịa án cấp sơ thẩm tun bố
khơng có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội thì Tịa án cấp
phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm hình sự để Tịa án cấp sơ thẩm xem
xét lại theo trình tự sơ thẩm kết án người đó phạm tội. Do đó, nếu VKS đã
truy tố một người về một tội quy định tại BLHS năm 2015 nhưng Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên bố người đó khơng phạm tội, thì VKS mới có quyền kháng
nghị và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Tuy nhiên, nếu một người đã bị khởi tố nhưng trong quá trình điều tra,
truy tố CQĐT hoặc VKS đã đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với người đó
mà khi xét xử sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cũng thấy có căn cứ xác định
13
người đó phạm tội thì VKS khơng được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nếu tại phiên tòa sơ thẩm, qua xét hỏi và tranh luận, VKS thấy việc đình chỉ
điều tra hoặc đình chỉ vụ án đối với một người rõ ràng là khơng đúng pháp
luật và Tịa án cấp sơ thẩm khơng có kiến nghị phục hồi điều tra thì sau khi
bản án có hiệu lực pháp luật VKS sẽ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
để hủy bản án sơ thẩm hoặc quyết định phục hồi điều tra để truy tố người mà
CQĐT hoặc VKS đã đình chỉ (nếu việc điều tra khơng ảnh hưởng đến các bị
cáo khác trong cùng vụ án).
Thứ năm, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để xảy ra vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Ở đây các cơ quan tiến hành tố tụng đã không
thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của các bước trong q
trình giải quyết vụ án, cũng có thể vì thiếu các tài liệu chứng cứ mà đánh giá
sai các tình tiết vụ án dẫn đến việc xác định sai sự thật vụ án cũng như tính
khách quan và tồn diện của vụ án đó.
Theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng
Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về xét xử sơ thẩm VAHS thì vi phạm
Những vi phạm thuộc các trường hợp trên đều coi là vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng và phải được điều tra, truy tố lại hoặc xét xử lại nên Tòa
phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm; cịn những vi phạm ngồi phạm vi khái niệm
này thì được coi là những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng và chỉ thực
hiện việc kiến nghị sửa chữa, khắc phục như vi phạm về thời hạn điều tra,
thời hạn xét xử … cũng là vi phạm tố tụng nhưng không thuộc trường hợp vi
phạm nghiêm trọng.
1.2.2. Các căn cứ theo quy định của Bộ luật Hình sự
Thứ nhất, khơng có sự việc phạm tội: Khơng có sự việc phạm tội tức có
thể thơng tin về tội phạm là khơng chính xác, hồn tồn khơng có sự việc xảy
ra như thơng tin mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận
hoặc có sự việc xảy ra nhưng sự việc đó khơng có dấu hiệu của tội phạm. Ví
dụ như một người khơng thực hiện hành vi phạm tội, mà Tịa án cấp sơ thẩm
có sai lầm trong việc kết án người đó phạm tội, sai lầm này có thể do CQĐT
hoặc VKS trong q trình điều tra, cũng có thể do Tịa án. Việc VKS truy tố
khơng đúng người, đúng tội, nhưng q trình xét xử Hội đồng xét xử khơng
căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa để làm căn cứ kết án dẫn
đến làm oan người vô tội.
Thứ hai, hành vi không cấu thành tội phạm: Cấu thành tội phạm là tổng
hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cho một tội phạm cụ thể được quy định
trong BLHS. Hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi của người hoặc
pháp nhân nào đó không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội
phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Ví dụ như người thực hiện hành vi
gây thiệt hại, khơng có năng lực trách nhiệm hình sự, khơng có lỗi; người
15
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ, hành vi thực hiện
là hành vi phịng vệ chính đáng, là hành vi thực hiện trong tình thế cấp thiết…
ra trước và khi văn bản đại xá đó được ban hành. Tội phạm đã được đại xá là
căn cứ để không khởi tố VAHS.
Thứ sáu, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ
trường hợp cần tái thẩm đối với người khác: Mục đích của việc áp dụng
TNHS và hình phạt đối với người phạm tội là nhằm giáo dục họ ý thức tuân
theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Do
vậy, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
mà xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra quyết định không khởi tố
VAHS, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
1.2.3. Khi có vi phạm nghiêm trọng quy định của các ngành luật khác
BLTTHS năm 2015 bổ sung một trường hợp hủy bản án sơ thẩm để xét
xử lại là do “bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp
luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản
án…”, hay sửa đổi căn cứ hủy bản án để điều tra, xét xử lại là “Có sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự” thành “Có sai lầm nghiêm
trọng trong việc áp dụng pháp luật”. Việc bổ sung vấn đề vi phạm pháp luật
nói chung hoặc thay thế từ “Bộ luật Hình sự” bằng từ “pháp luật” cho thấy
quan điểm của nhà làm luật là những sai lầm nghiêm trọng không chỉ đối với
BLTTHS hay BLHS mà còn đối với các quy định của pháp luật nói chung
gồm cả luật dân sự, luật hành chính, luật doanh nghiệp, luật giao thơng đường
bộ… Vì vậy, khi xét xử VAHS thì Tịa án cấp trên vừa phải căn cứ vào quy
định của BLHS, BLTTHS vừa phải căn cứ vào các ngành luật khác có liên
quan đến vụ án để xem xét đánh giá tính có căn cứ trong bản án của Tịa án
cấp dưới, nếu phát hiện có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
17
hoặc có những tình tiết mới phát sinh thì buộc phải tuyên hủy bản án của Tòa
18
song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội. Đề cao trách nhiệm
của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trước số phận chính
trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của cơng dân, ngun tắc suy đốn vơ
tội là “lá chắn thép” bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo,
phòng chống oan sai, được xem là yếu tố căn bản, thể hiện rõ nhất việc tôn
trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người.
-
Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Điều 27 BLTTHS năm 2015 quy định về nguyên tắc chế độ xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong TTHS [15, tr.7]. Xét xử hai cấp là một
nguyên tắc tiến bộ được áp dụng phổ biến trên thế giới và nhiều quốc gia.
Theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm (xét xử lần thứ nhất) nếu có kháng cáo,
kháng nghị trong thời hạn luật định thì được chuyển lên Tịa án cấp trên trực
tiếp xét xử lại (xét xử lần thứ hai - phúc thẩm).
Thứ nhất, xét xử sơ thẩm là q trình xét xử vụ án đó về nội dung, là thủ
tục bắt buộc, theo đó Tịa án tổ chức phiên tòa, xem xét đánh giá chứng cứ,
kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đưa ra bản án, quyết định. Trong thời gian
theo pháp luật quy định mà bản án đó khơng bị kháng cáo, kháng nghị thì có
hiệu lực thi hành và dĩ nhiên Tịa án sẽ khơng xét xử lại vụ án đó nữa (trừ
trường hợp xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ và
theo thủ tục đặc biệt).
Thứ hai, nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong
thời hạn luật định thì trong trường hợp này bản án, quyết định đó chưa có hiệu
lực thi hành. Việc xét xử ở cấp tiếp theo là bắt buộc, đây được gọi là xét xử ở
cấp phúc thẩm.
bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa [15, tr.36].
Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, BLTTHS năm 2015 đã
bổ sung nhiều quy định, cụ thể: Tịa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho KSV,
bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ
quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tịa án; Quy
định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của KSV,
người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; sự có mặt của
20