5
1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ FDI VÀ LIÊN DOANH NƯỚC NGOÀI
1.1. KHÁI NIỆM CHUNG:
1.1.1. Đònh nghóa và các hình thức đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác
nhằm mục đích kiếm lời. Đó là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước
ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, sản phẩm và dòch vụ với mục đích
kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất đònh. Về bản chất, đầu tư
quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản, hình thức cao hơn xuất khẩu hàng hóa.
Có 03 hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu:
i. Đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct Investment): là hình thức đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lónh
vực sản xuất hoặc dòch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối
tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Đây là hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu
với một số hình thức cụ thể như: hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài và các hình thức khác (hợp đồng xây dựng- kinh
doanh- chuyển giao BOT, hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh
BTO, xây dựng- chuyển giao BT).
ii. Đầu tư gián tiếp (FPI: Foreign Portfolio Investment): là hình thức đầu tư
quốc tế mà trong đó chủ đầu tư nước ngoài chỉ được góp số vốn tối đa nào
đó dưới hình thức mua cổ phiếu, sao cho bên nước ngoài không tham gia
trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
iii. Tín dụng quốc tế: về thực chất đây cũng là hình thức đầu tư gián tiếp,
nhưng nó có những đặc thù riêng cho nên trong thực tế hình thức này vẫn
được phân loại như một hình thức độc lập. Đây là hình thức đầu tư dưới
6
dạng cho vay vốn và kiếm lời thông qua lãi suất tiền vay. Đáng chú ý ở
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn. Mỗi bên liên doanh chòu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn
cam kết góp vào vốn pháp đònh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có
tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ
ngày được cấp Giấy phép đầu tư.
1.1.3. Mục tiêu của các bên tham gia liên doanh tại Việt Nam:
+ Bên Việt Nam:
i. Công nghiệp hóa- hiện đại hóa hướng về xuất khẩu. Chính phủ Việt Nam
áp dụng nhiều chính sách nhằm hướng các liên doanh nước ngoài tham
gia chương trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa hướng về xuất khẩu như
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vò có tỷ lệ xuất khẩu cao.
ii. Nội đòa hóa nguyên vật liệu. Chính phủ khuyến khích các dự án liên
doanh sử dụng nguyên nhiên liệu, vật tư sẵn có, nâng cao tỷ lệ nội đòa
hóa bằng cách áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi.
iii. Tăng dần tỷ lệ góp vốn của phía Việt Nam trong liên doanh. Tuy nhiên,
mục tiêu này rất khó được các nhà đầu tư nước ngoài chấp thuận vì nó
làm giảm quyền kiểm soát liên doanh. Thường thì bên Việt Nam được bắt
đầu tăng tỷ lệ góp vốn khi nhà đầu tư nước ngoài đã thu hồi được vốn đầu
tư và thời gian liên doanh không còn nhiều nữa.
iv. Bảo toàn và phát triển vốn thông qua lợi nhuận. Đây có thể nói là mục
tiêu đầu tiên và quan trọng hàng đầu của đối tác bên Việt Nam. Tuy
nhiên, không phải thành viên nào của bên Việt Nam tham gia quản lý
8
liên doanh có thể quán triệt được mục tiêu này; do đó, việc thất thoát hay
mất luôn vốn là chuyện thường xảy ra.
+ Bên nước ngoài:
i. Thâm nhập và mở rộng thò trường ở Việt Nam trong chiến lược toàn cầu
của các công ty đa quốc gia. Tiêu thụ các sản phẩm và dòch vụ của công
1.2.1. ASEAN:
Trong Tuyên bố về các biện pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài
của các nước ASEAN trong Hội nghò cấp cao lần thứ VI tại Hà Nội, một trong
những biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư ASEAN cũng như khắc phục
nhược điểm của các liên doanh là cho phép đầu tư theo hình thức 100% vốn
nước ngoài. Ngoài ra, các nước còn cụ thể hóa biện pháp này như Indonesia
chấp nhận hình thức 100% sở hữu nước ngoài trong tất cả các lónh vực sản xuất,
thậm chí trong ngành ngân hàng, bán buôn và bán lẻ. Malaysia cũng vậy và
không kèm theo điều kiện xuất khẩu nhưng loại trừ hình thức này trong bảy
ngành cụ thể. Brunei thì dè dặt hơn, cho phép hình thức 100% vốn nước ngoài
trong các ngành sản xuất công nghệ cao và sản xuất hướng vào xuất khẩu. Thái
Lan cũng cho phép đầu tư theo loại hình này đối với dự án sản xuất công
nghiệp, không phân biệt đòa bàn.
1.2.2. Trung Quốc:
Trung Quốc đã cho phép hình thức đầu tư 100% nước ngoài từ lâu và hình
thức này có tốc độ phát triển nhanh hơn hình thức liên doanh. Trung Quốc cũng
đã có một tổng kết ưu, nhược điểm của hình thức liên doanh như sau:
- Ưu điểm: