TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - Pdf 70

Trang 3
Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước
ngoài.

1.1 Giới thiệu khái quát về hoạt động đầu tư nước ngoài.
1.1.1 Một số khái niệm và đặc điểm cơ bản về đầu tư nước ngoài.
Để hiểu được bản chất của đầu tư quốc tế và các hình thức hoạt động
của nó, trước hết ta cần làm rõ khái niệm về đầu tư. Mặc dù còn khá nhiều
quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ
bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là "đầu tư là việc sử dụng một
lượng tài sản nhất đònh như vốn, công nghệ, đất đai... vào một hoạt động kinh
tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận".
Ngày nay, hoạt động đầu tư quốc tế diễn ra ngày càng phổ biến và có
vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của các nước, kể cả nước
đầu tư lẫn nước nhận đầu tư. Đầu tư quốc tế được thực hiện chủ yếu dưới ba
hình thức cơ bản là: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế.
1.1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): là hình thức đầu tư quốc
tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lónh vực sản
xuất hoặc dòch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ
tự bỏ vốn đầu tư. Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp
nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy
đònh của luật pháp Việt Nam. Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp:
− Các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu, tùy
theo quy đònh của luật đầu tư từng nước, thí dụ như Luật Đầu tư của Việt
Nam quy đònh " số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng
30% vốn pháp đònh của dự án".
− Quyền hành quản lý phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng
góp 100% vốn thì toàn bộ do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
− Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc
vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Lời, lỗ được chia

với lãi suất cao sẽ dể trở thành gánh nặng về nợ nước ngoài đối với nước vay
nợ trong tương lai. Đầu tư gián tiếp tuy không trở thành nợ, nhưng sự thay đổi
đột ngột dòng vốn đầu tư nước ngoài ảnh hưởng mạnh đến thò trường vốn, tác
động tiêu cực đến sự ổn đònh kinh tế vó mô của nước nhận đầu tư. Trong khi
đó, hình thức FDI hầu như khắc phục được những bất lợi đã nêu.
FDI được đánh giá là hình thức đầu tư không trở thành gánh nặng về
nợ cho nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài cũng không dễ dàng
rút vốn trong thời gian ngắn. Trái lại, FDI còn tạo điều kiện cho nước nhận
đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. Bên cạnh
đó, FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư, mà thông qua đó còn
giúp tiếp thu được kỹ thuật công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh
doanh của các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, tác động tích cực đến việc nâng
cao năng lực của các ngành sản xuất và dòch vụ trong nước, thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
Mặt khác, FDI còn góp phần làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo
hướng công nghiệp và dòch vụ, làm cho tính hiệu quả của sự phát triển kinh
tế được nâng lên. Góp phần nâng cao mức sống của nước tiếp nhận đầu tư
thông qua giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo đội ngũ lao động có trình
Trang 5
độ và tay nghề. Ngoài ra, FDI còn giúp đẩy nhanh tiến trình hội nhập của
quốc gia với nền kinh tế thế giới vì đầu tư trực tiếp là nhân tố tác động mạnh
tới tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách đến môi trường đầu tư.
1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời đến nay đã hơn 15 năm
(từ 12/1987), kể từ đó tới nay đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay
luật thừa nhận có 4 hình thức FDI cơ bản và một số hình thức đầu tư đặc biệt
khác:
1.1.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (A business co-operation
contract).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc

đònh thời hạn đầu tư khác nhau.
− Tổng giám đốc điều hành liên doanh có thể là người nước ngoài,
trong trường hợp đó phó tổng giám đốc thứ nhất là người Việt Nam, thường
trú tại Việt Nam.
− Hội đồng quản trò là cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên
doanh. Số thành viên của hội đồng quản trò do các bên quyết đònh, mỗi bên
cử người của mình tham gia hội đồng quản trò ứng với phần vốn đóng góp
trong vốn pháp đònh. Bên ít nhất là hai người.
− Lời, lỗ được chia cho mỗi bên căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trong vốn
pháp đònh (trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác đi).
1.1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with
one hundred (100) percent Foreign owned capital).
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
lập tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chòu trách nhiệm về kết quả hoạt
động kinh doanh của mình. Đặc điểm của hình thức này là:
− Doanh nghiệp được lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu
hạn, mang tư cách pháp nhân Việt Nam.
− Vốn pháp đònh của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu
tư, trừ trường hợp đầu tư vào những vùng kinh tế khó khăn thì tỷ lệ này có
thể thấp đến 20% vốn pháp đònh.
− Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp đònh, tăng
vốn pháp đònh phải xin phép.
1.1.2.4 Doanh nghiệp cổ phần
Căn cứ Nghò đònh số 38/2003 của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày
15/04/2003 về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài sang hoạt động công ty cổ phần thì hình thức này được hiểu là "Doanh
nghiệp cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần, trong đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giử
ít nhất 30% vốn điều lệ; được tổ chức hoạt động theo hình thức công ty cổ
phần... được hưởng các đảm bảo của nhà nước Việt Nam và ưu đãi theo Luật

 Hình thức phát triển KCN (Industrial Zone, Industrial Park): ngày
24/4/1997, chính phủ đã ban hành quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp,
khu công nghệ cao gọi chung là khu công nghiệp thay thế cho hai Nghò đònh
là Nghò đònh sốâ 322-NĐ/HĐBT ngày 18/10/1991 và Nghò đònh sốâ 192-NĐ/CP
ngày 28/12/1994. Như vậy, KCN tại Việt Nam được hiểu là: "KCN là khu tập
trung các doanh nghiệp KCN, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các
dòch vụ hổ trợ sản xuất công nghiệp, có ranh giới đòa lý xác đònh, không có
dân cư sinh sống và do Chính phủ quyết đònh thành lập".
1.2 Vò trí, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với
tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
1.2.1 Vò trí:
Đầu tư nước ngoài chiếm vò trí khá quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dòch cơ cấu
theo hướng CNH-HĐH; mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới; nâng cao
năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thò trường xuất khẩu; tạo
thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động
hội nhập kinh tế thế giới.
Trang 8
Như Nghò quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã
khẳng đònh kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa ở nước ta, được
khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Thu hút vốn FDI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực
trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục
vụ sự nghiệp CNH-HĐH, phát triển đất nước.
1.2.2 Vai trò của đầu tư quốc tế:
Có thể nói, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng thể hiện rõ vai trò to
lớn trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước
(nùc đầu tư lẫn nước tiếp nhận đầu tư).

Đầu tư quốc tế giúp các nước này đẩy mạnh tốc độ phát triển nên
kinh tế thông qua việc tạo ra các xí nghiệp, các nhà máy mới hoặc tăng quy
mô của các đơn vò kinh tế. Qua đó góp phần phát triển những ngành nghề
mới, phát triển nguồn nhân lực và tạo công ăn việc làm mới, thu hút thêm
nhiều lao động, từ đó tăng thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện tăng
tích lũy trong nước.
Thông qua tiếp nhận đầu tư quốc tế các nước chậm và đang phát triển
có điều kiện tiếp nhận được kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên
tiến của nước ngoài. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy sự đổi mới công nghệ của
các nước, góp phần tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm.
Đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng bù đắp
cho sự thiếu hụt về vốn của các nước. Đặc biệt đối với các nước chậm và
đang phát triển thì đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư
trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài được đánh giá là có ưu thế nổi bật hơn so với các nguồn vốn đầu tư
nước ngoài khác như vay nợ, viện trợ... do không gây nợ cho nước nhận đầu
tư.
Đầu tư nước ngoài tác động mạnh đến cạnh tranh và độc quyền trong
nước, từ đó thúc đẩy cạnh tranh, làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả
hơn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ngoài ra, nhờ có đầu tư
nước ngoài cơ cấu nền kinh tế của các nước này chuyển dòch nhanh chóng
theo chiều hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dòch vụ,
giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, khai thác trong GDP, đẩy mạnh sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Vai trò của các MNC đối với dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài: Ngày
nay, các MNC đã trở thành lực lượng chủ yếu, nòng cốt thúc đẩy quá trình
toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới, thông qua tác động to lớn của
các MNC trong việc phân bố nguồn lực của nền kinh tế thế giới, thúc đẩy
quá trình chuyển biến cơ cấu kinh tế ở các quốc gia. Phần lớn các hoạt động
FDI được thực hiện bởi các MNC, nên việc tăng trưởng nhanh của các công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status