(Luận văn thạc sĩ) - Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHƯƠNG LAN

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỄN TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TUẤN KHANH

Hà Nội, 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
thu thập và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực và chính xác, những
kết quả nghiên cứu chưa từng được cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tơi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Phương Lan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ---------------------------------------------------------------------------------------- 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BPXLHC

: Biện pháp xử lý hành chính

TAND

: Tịa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hịa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thơng qua năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 quy định
hai nội dung chủ yếu là xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính. Theo đó luật quy định 04 hình thức xử phạt vi phạm hành chính
bao gồm: (a) Cảnh cáo; (b) Phạt tiền; (c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (d) Tịch thu tang
vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau
đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); (đ) Trục xuất, và có
04 biện pháp xử lý hành chính gồm: (a) Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

dân chủ, khách quan, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.
Về bản chất, các biện pháp xử lý hành chính do Tịa án xem xét, quyết
định áp dụng là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước, trực tiếp ảnh
hưởng đến quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền của người chưa
thành niên. Người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính này ít nhiều bị
hạn chế tự do và một số quyền lợi khác, vì vậy, việc áp dụng các biện pháp
này cần phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, dân chủ, công
khai, bảo đảm khách quan, chính xác theo đúng tinh thần “các cơ quan tư
pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền
con người” đã được khẳng định tại các Nghị quyết của Đảng và mục tiêu xây
dựng Nhà nước pháp quyền việt Nam.
Ngày 17/03/2014, Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố Lệnh của Chủ
tịch nước về việc ban hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày
20/01/2014 về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính tại Tịa án nhân dân (Sau đây gọi tắt là Pháp lệnh số 09). Pháp
lệnh đã thể chế hóa các quan điểm, chủ trưởng, chính sách của Đảng về cải
cách hệ thống hóa pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính đã được
xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng; bảo đảm trình tự, thủ tục
xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chặt chẽ, nhanh
gọn, khả thi nhằm tăng cường tính cơng khai, minh bạch, cơng bằng dân chủ
trong q trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
bảo đảm quyền cơng dân, quyền con người đặc biệt là quyền của người chưa

2


thành niên trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tịa án nhân dân.
Tại tỉnh Cao Bằng, tình hình vi phạm pháp luật diễn ra ngày càng phức
tạp, số vụ việc vi phạm pháp luật hành chính do Tịa án nhân dân giải quyết

xử lý hành chính (trước đây là biện pháp xử lý hành chính khác) nói riêng, đã có
nhiều cơng trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của biện pháp xử lý
hành chính. Trong đó, có thể nêu ra một số cơng trình tiêu biểu như: Luận văn
thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thủy (2001), "Thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính", trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị
Hà (2011), "Các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật
Việt Nam", trường Đại học Luật Hà Nội; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do
Đặng Thanh Sơn làm chủ nhiệm (2009), "Các biện pháp xử lý hành chính khác
và việc bảo đảm quyền con người", Bộ Tư pháp; Nguyễn Ngọc Bích (2003),
"Những điểm mới về các biện pháp xử lý hành chính khác trong Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính", Tạp chí Luật học, (Đặc san về xử lý vi phạm hành chính);
Trần Thanh Hương (2005), "Quyền công dân, quyền con người và chỗ đứng của
các biện pháp xử lý hành chính khác trong pháp luật về vi phạm hành chính",
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Lê Ngọc Thạch (2006), "Hoàn thiện các biện
pháp xử lý hành chính khác theo Pháp luật Việt Nam", Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật; Nguyễn Cửu Việt (2009), "Những vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm
hành chính ở nước ta", Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Mạnh Hùng
(2012), "Bàn về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong Dự thảo Luật Xử lý
vi phạm hành chính" - Chuyên đề thuộc Tọa đàm cấp bộ: Thông tin khoa học
tham vấn về Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính, (04/2012), Văn phịng
Quốc hội - Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội. Ở những góc độ tiếp cận và
phạm vi nghiên cứu khác nhau, các cơng trình này đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn pháp lý về các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của
pháp luật hiện hành ở thời điểm nghiên cứu (trước khi ban hành Luật xử lý vi
phạm hành chính ngày 20/6/2012). Do đó, một số kết quả của các cơng trình
nghiên cứu này khơng cịn tương thích với những thay đổi gần đây trong Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi
hành Luật này về áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Gần đây, đáng chú ý là
cuốn sách do Đặng Thanh Sơn làm chủ biên (2017), "Tìm hiểu pháp luật về các
biện pháp xử lý vi phạm hành chính", Cục Xuất bản, in và phát hành. Đây là

- Phân tích làm rõ thực tiễn việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp
xử lý hành chính tại Tịa án nhân dân tại tỉnh Cao Bằng, chỉ ra những ưu
điểm, kết quả đạt được, hạn chế và bất cập, nguyên nhân của kết quả đạt được
cũng như những hạn chế, bất cập.

5


- Đưa ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm việc thực
hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn có liên
quan đến trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tịa án nhân dân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về khơng gian: Luận văn nghiên cứu trình tự, thủ tục xem xét, quyết
định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tịa án nhân dân và các quy
định của pháp luật có liên quan đến việc quyết định áp dụng BPXLHC tại Tòa
án theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn công tác áp dụng các biện
pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tịa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao
Bằng, giai đoạn từ 2016 - 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của triết học Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về áp dụng BPXLHC tại TAND.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể: tổng hợp, phân tích

Chương 3: Quan điểm, giải pháp hồn thiện pháp luật và bảo đảm thực
hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
tại Tịa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng.
Ngồi ra cịn có phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo
và phụ lục.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XEM
XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
TẠI TỊA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Quan niệm, đặc điểm xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành
chính tại Tịa án nhân dân
1.1.1. Quan niệm về biện pháp xử lý hành chính và việc áp dụng biện
pháp xử lý hành chính của Tịa án nhân dân
Theo quy định của Luật XLVPHC năm 2012, xử lí vi phạm hành chính
bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lí hành
chính khác.
Tại Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 quy định:
“3. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá
nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an tồn xã hội mà khơng phải là
tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào
trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.”
Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Xử lí vi phạm hành chính là hoạt động
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế do
pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật
nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Xử lí vi phạm hành

hành chính đặc biệt, sở dĩ được xem là đặc biệt vì nó khác các biện pháp
cưỡng chế hành chính thơng thường khác như đã phân tích trên và nó mang
những đặc trưng về mức độ nghiêm khắc cao hơn so với các biện pháp cưỡng
chế hành chính thơng thường . Về thực chất biện pháp xử lý hành chính khác
hạn chế quyền tự do cá nhân trong một giai đoạn nhất định với hình thức như
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh,
không thua kém các biện pháp tư pháp hình sự về tính chất khắc nghiệt, trừng
phạt; hoặc biện pháp có tính chất tác động xã hội cao như giáo dục tại xã,
phường, thị trấn. Nhóm biện pháp này có đặc trưng là thời gian cưỡng chế dài
từ ba tháng đến hai năm, người bị áp dụng phải chịu sự giám sát và quản lý

9


chặt chẽ của các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức xã hội, các đoàn thể…
Đối tượng bị áp dụng các biện pháp này cũng đa dạng và đặc biệt hơn.
Đến ngày 01 tháng 01 năm 2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
có hiệu lực hồn tồn, đã có nhiều quy định mới và cụ thể hơn về hình thức xử
lý, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính cũng như mức xử phạt, đặc biệt là quy định về các
biện pháp xử lý hành chính do Tịa án nhân dân xem xét, quyết định.
Theo quy định tại Phần thứ ba của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 thì có 04 biện pháp xử lý hành chính, bao gồm: (1) biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn; (2) biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; (3) biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và (4) biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc. Trong đó, Tịa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc. Xét về bản chất thì các biện pháp xử lý hành chính do Tịa án nhân dân
xem xét, quyết định áp dụng nêu trên là những biện pháp mang tính cưỡng

chính từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc; hành vi vi phạm pháp luật đó thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật xử lý vi phạm hành chính hay khơng, nếu thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật xử lý vi phạm hành chính thì sẽ áp dụng điều
luật nào, khoản nào, mức hình phạt nào hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính nào để tương xứng với hành vi vi phạm. Đồng thời khi nghiên cứu hồ
sơ xử lý vi phạm hành chính, những cá nhân có thẩm quyền cần xác định
hành vi phạm vi phạm hành chính trên thực tế và đối chiếu với quy định của
Luật xử lý hành chính để xem xét áp dụng một trong ba biện pháp xử lý hành
chính tại Tòa án nhân dân, là: đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc và đưa vào cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp để xem xét việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Thẩm phán phải lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung (Luật xử lý vi phạm
hành chính năm 2012) và quy phạm pháp luật hình thức (Pháp lệnh số 09)
phù hợp để áp dụng và xem xét việc đưa ra biện pháp xử lý hành chính đối
với người thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Để thực hiện áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đúng, thì các chủ thể áp dụng biện pháp xử lý hành

11


chính phải có kiến thức pháp lý, có kinh nghiệm thực tiễn và có sự hiểu biết
rộng về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
1.1.2.2. Áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án
nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do Tòa án nhân dân
tiến hành mà trực tiếp là Thẩm phán và được tiến hành tại trụ sở của Tòa án
Thẩm phán Tòa án nhân dân phải căn cứ vào các chứng cứ tài liệu mà cơ
quan lập hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính (Cơng an hoặc Ủy ban nhân
dân ...) đã thu thập được và kết quả thẩm tra tại phiên họp để ra quyết định áp
dụng một trong ba biện pháp xử lý hành chính tại Tịa án nhân dân đối với người
vi phạm hành chính được khách quan, chính xác, đúng pháp luật được tiến hành

Pháp lệnh số 09 và Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015
của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định
của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xứ lý hành chính
tại Tịa án nhân dân đã quy định rất chi tiết và chặt chẽ trình tự thủ tục và
cách thức tiến hành các hoạt động xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính tại Tịa án nhân dân buộc cơ quan Tòa án mà đại diện là Thẩm phán
phải tuân thủ triệt để các quy định đó khi tổ chức phiên họp xem xét áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại Tịa án nhân dân. Thẩm phán được phân
công xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC phải dự tính trước các tình huống
phát sinh tại phiên họp như: việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong quá
trình lập hồ sơ đề nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử hành chính
vắng mặt; đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên hoặc phiên dịch vắng mặt.
Trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC, nếu Tịa án vi
phạm các trình tự, thủ tục phiên họp do pháp luật quy định thì bị coi là vi
phạm nghiêm trọng Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và sẽ bị Viện kiểm sát
nhân dân kháng nghị, dẫn tới việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính tại Tịa án nhân dân có thể bị hủy bỏ.
Do vậy q trình tổ chức phiên họp, Thẩm phán phải tuân thủ triệt để các
quy định của Pháp lệnh số 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng
các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tịa án nhân dân. Đây chính là

13


việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình thức được quy định trong Pháp
lệnh số 09. Việc áp dụng đúng các quy định nêu trên giúp cho các quyền và
nghĩa vụ của công dân được bảo đảm thực hiện một cách nghiêm chỉnh; các
bước tiến hành trình tự, thủ tục được chính xác, khách quan; các quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại của Tồ án bảo đảm đúng pháp luật.

hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,
phát triển lành mạnh và trở thành cơng dân có ích cho xã hội.
Trong q trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành
chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích
tốt nhất cho người chưa thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
chỉ được áp dụng khi xét thấy khơng có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn;
2. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính cịn căn cứ vào
khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định
việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp;
4. Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí
mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ;”
Thứ hai, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính do
một Thẩm phán thực hiện.
Thứ ba, khi xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính,
Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Thứ tư, bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành phiên họp, gồm
Thẩm phán và Thư ký phiên họp. Nếu Thẩm phán, Thư ký được phân cơng
thuộc những trường hợp sau thì phải từ chối, thay đổi Thẩm phán, Thư ký
phiên họp: Là người thân thích của người bị đề nghị; Đã tiến hành xem xét,
quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong cùng vụ việc đó;
Đã tiến hành việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong cùng vụ việc đó; Có căn cứ rõ
ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

15


Thứ năm, tiếng nói, chữ viết dùng trong việc xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án là tiếng Việt. Người bị đề nghị áp


người, tiến tới các chuẩn mực quốc tế về quyền con người theo hướng công
khai, minh bạch, công bằng, hạn chế việc ban hành quyết định áp dụng mang
tính khép kín, đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Luật
XLVPHC quy định chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các
BPXLHC bao gồm biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sang cơ
quan tư pháp, cụ thể ở đây là Tòa án nhân dân, là một cải cách lớn và có ý
nghĩa rất sâu sắc. Điều này giúp tăng uy tín quốc gia trong việc bảo đảm thực
hiện các cam kết quốc tế, hơn nữa, việc thực thi tốt các điều ước quốc tế về
quyền con người giúp doanh nghiệp gián tiếp hưởng lợi về đầu tư và việc
tham gia các hiệp định thương mại; giảm khiếu nại, tố cáo; hiệu quả thi hành
của quyết định áp dụng do đối tượng bị áp dụng và gia đình đồng tình với
quyết định áp dụng, tự nguyện thi hành cao hơn trước; tiết kiệm được chi phí
cơ hội nếu tránh được việc bị áp dụng sau pháp luật.
Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây
gọi chung là Tịa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền xem xét, giải quyết các
quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc áp dụng biện pháp xử lý
hành chính bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; xem xét, giải quyết hành vi
của người có thẩm quyền của Tịa án nhân dân cấp huyện trong việc áp dụng
biện pháp xử lý hành chính bị khiếu nại.
Điểm mới quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là quy
định về các biện pháp xử lý hành chính do Tịa án nhân dân xem xét, quyết định.
Theo khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
“Tồ án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai

được thực hiện qua 05 bước cơ bản như sau:

18


- Sau khi Tòa án thụ lý hồ sơ đề nghị của cơ quan có thẩm quyền,
trong thời hạn 01 ngày làm việc, phải tiến hành phân công Thẩm phán xem
xét, giải quyết.
- Tịa án thơng báo việc thụ lý bằng văn bản cho cơ quan đề nghị,
người bị đề nghị hoặc các cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp
trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý.
- Thẩm phán được phân công phải kiểm tra hồ sơ đề nghị trong thời hạn 03
ngày, kể từ ngày được phân cơng, từ đó quyết định việc yêu cầu bổ sung tài liệu,
chứng cứ; đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC;
hoặc mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC.
- Trường hợp mở phiên họp thì Thẩm phán ra quyết định mở phiên
họp và gửi cho người bị đề nghị, cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát và những
người có liên quan khác tham gia phiên họp trong thời hạn chậm nhất 03
ngày làm việc trước khi mở phiên họp.
- Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp được quy định tại Điều 20 Pháp
lệnh số 09. Tại phiên họp Thẩm phán phải công bố một trong các quyết
định: áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp XLHC hoặc đình chỉ, tạm
đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC.
Có thể khẳng định rằng, với phạm vi điều chỉnh như trên, Pháp lệnh
đã thể chế hóa các quan điểm, chủ trưởng, chính sách của Đảng về cải cách
hệ thống hóa pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính đã được
xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng; bảo đảm trình tự, thủ tục
xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chặt chẽ,
nhanh gọn, khả thi nhằm tăng cường tính cơng khai, minh bạch, cơng bằng
dân chủ trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý

của người bị đề nghị, tài liệu về nhân thân, tình trạng sức khỏe của người bị
đề nghị chưa rõ hoặc có mâu thuẫn mà khơng thể bổ sung, làm rõ tại phiên
họp hoặc khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục đề nghị xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Đối với trường hợp đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng
BPXLHC khi có một trong các căn cứ theo quy định tại Điều 15 Pháp lệnh số 09

20


như sau: Hết thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Người bị đề nghị đã
chết; Người bị đề nghị không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành
chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Người bị đề nghị thuộc
trường hợp khơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật
xử lý vi phạm hành chính; Cơ quan đề nghị rút đề nghị; Người bị đề nghị đã có
bản án, quyết định hình sự của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật đối với hành vi bị
đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Người bị đề nghị đang chấp hành
hình phạt tù, đang chờ chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình theo bản
án, quyết định của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với trường hợp mở phiên họp thì thành phần tiến hành phiên họp gồm
có người tiến hành phiên họp là Thẩm phán và Thư ký phiên họp; Người tham
gia phiên họp gồm có đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị
hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị
đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người bị đề nghị; Trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại diện cơ quan Lao
động - thương binh và xã hội cấp huyện, người giám định, người phiên dịch,
chuyên gia y tế, giáo dục, tâm lý, đại diện của nhà trường nơi người bị đề nghị là
người chưa thành niên học tập, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị đề
nghị cư trú hoặc những người khác tham gia phiên họp để trình bày ý kiến về các
vấn đề có liên quan. Người tham gia phiên họp phải thực hiện quyền và nghĩa vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status