Tải Ôn thi Đại học môn Văn theo Chuyên đề: Tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân - Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Văn - Pdf 70

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Ơn thi Đại học mơn Văn theo Chuyên đề: </b>


<b>Tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân - Ngữ văn 12</b>


<b>Câu 1: Những suy nghĩ và đánh giá của anh (chị) về người vợ nhặt – người đàn bà</b>
không tên trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.


<i><b>Gợi ý trả lời: </b></i>


Hoàn cảnh của nhân vật: Cách gọi tên, dáng vẻ, ngoại hình gợi vẻ đáng thương tội
nghiệp


- Người “vợ nhặt” là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trơi nổi, bấp bênh


- Thị xuất hiện vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách của một con người năm
đói


- Trong hồn cảnh trơi dạt, người vợ nhặt có lịng ham sống mãnh liệt


- Đằng sau vẻ nhếch nhác là người phụ nữ ý tứ biết điều…..


- Người vợ nhặt lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan, có ý
thức xây dựng hạnh phúc gia đình.


- Đánh giá nghệ thuật xây dựng miêu tả nhân vật của nhà văn và vai trò của nhân
vật trong việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm.


Hình ảnh người “vợ nhặt” là một sáng tạo của Kim Lân. Thông qua nhân vật này,
nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người Việt Nam dù sống
trong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai với niềm tin vào
sự sống. …


<b>Mở bài: Vài nét về tác giả- tác phẩm- đoạn văn</b>
<b>Thân bài:</b>


- Vị trí của chi tiết trong truyện ngắn (tóm tắt : nằm trong phần cuối của truyện
ngắn , cụ thể đó là món ăn duy nhất của cả nhà trong buổi sáng ngày hôm sau )
- Ý nghĩa:


+ Chi tiết trên thể hiện tình trạng cùng cực của người dân lao động trong nạn đói
1945


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

+ Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ :


Bà cụ Tứ: Người mẹ đảm đang, yêu thương con hết mực (bà đã dậy sớm chuẩn bị
bữa ăn cho cả nhà; hơn thế nữa khi cái đói đang rình rập bà vẫn cố gắng để có
được bữa ăn giản dị cho con trai của mình; để các con đỡ tủi hờn, bà gọi chệch
“cháo cám” là “chè khốn” và tạo khơng khí vui vẻ trong bữa ăn).


Tràng: “Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun ngay
lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”, cách ứng xử này vừa cho thấy
Tràng là người chồng có trách nhiệm với nỗi thẹn khơng thể dành cho người vợ
mới cưới của mình một bữa ăn đủ đầy; vừa cho thấy Tràng là người con hết sức
khéo léo trong cách cư xử với mẹ, hiểu rõ được hồn cảnh của gia đình mình.
Vợ Tràng: qua chi tiết này ta càng khẳng định được sự thay đổi về tính cách của
vợ Tràng, hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưng người con dâu mới vẫn
điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ chồng. Điều đó cũng cho thấy vợ
Tràng là người tế nhị, thị đã thực sự sẵn sàng cùng gia đình vượt qua những tháng
ngày khó khăn sắp tới.


+ Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người , niềm tin và hy vọng.

+ Tủi thân, tủi phận, xót xa cho mình, cho con trai.


+ Vui với hạnh phúc bất ngờ của con, cảm thơng, thương xót với người con dâu
mới trong cảnh tủi cực.


+ Lạc quan, tin tưởng vào tương lai. (yêu cầu dẫn chứng và phân tích dẫn chứng)
=>Tâm trạng bà mẹ phức tạp, có lúc chứa đầy mâu thuẫn…nhưng tất cả đều thể
hiện tình cảm chân thành, đôn hậu, giàu yêu thương của một bà mẹ nông dân
nghèo khổ, nhân hậu.


+ Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, sâu sắc nhưng chân thật.
<b>Câu 4: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.</b>


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


<b>Giá trị nhân đạo cao cả: </b>


Trên cơ sở của giá trị hiện thực sâu sắc mà có giá trị nhân đạo cao cả; trên bờ vực
thẳm của cái chết, trong bóng tối của số phận bi thảm lại lóe sáng tình người cao
đẹp và sức sống kì diệu của con người.


- Tình thương yêu giai cấp, sự cưu mang lẫn nhau của những người nghèo khổ
được thể hiện rất cao đẹp và cảm động qua tấm lòng bà cụ Tư đối với con trai và
con dâu. Bà khóc vì thương con trai và con dâu, bà “mừng lịng",bà hi vọng cũng
vì thương chúng nó. Tình thương ấy dồn vào câu nói từ đáy lịng bà: Chúng mày
lấy nhau lúc này, u thương quá...”. Vượt lên tình thương con – nhất là với người
đàn bà lạ bỗng nhiên thành con dâu mới - đó là tình thương u giai cấp của những
người nghèo khổ. Bà gọi thị là “con”, tơn trọng thị, nói chuyện thân mật với thì
ngày đêm đầu gặp mặt. Và sáng hôm sau, bà cố tạo ra niềm vui cho con trai và con
dâu vui. Chi tiết nồi cháo cám thật cảm động trong bữa cơm ngày đói đón dâu

mùi gây cùa xác người”, rồi “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo
gió thoảng vào khét lẹt” và “tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya" Cái đói đã tràn
đến xóm ngụ cư, ùa vào gia đình anh Tràng, búa vây và đe dọa số phận từng con
người, không trừ một ai.


- Bức tranh về số phận những con người trên bờ vực thẳm của nạn đói: Ở xóm ngụ
cư là '‘những khn mặt hốc hác u tối” trong “cuộc sống đói khát”, “khơng nhà
nào có ánh đèn, lửa”, đến cả trẻ con cũng “ngồi ủ rũ dưới những xó đất ; khơng
buồn nhúc nhích”. Trong gia đình Tràng thì bà cụ Tứ già lão khơng làm được gì,
anh con trai đẩy xe bị th để kiếm sống qua ngày, người con dâu áo quần rách
như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trùng hốy, cái ngực gầy lép nhơ hẳn lên”...
Số phận của họ có khác gì “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc
lổm nhổm những búi cỏ dại” và bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám “đắng chát và
nghẹn bứ trong cổ”...


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

- Nan đói khùng khiếp, số phận bi thảm của những người đói và lá cờ cách mạng
là những mặt chủ yếu nhất của hiện thực lúc bấy giờ được Kim Lân phản ánh bằng
những nét bản chất đã làm nên giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm như chứng
tích văn học về một sự kiện lịch sử không thể nào quên.


<b>Câu 6: Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ nhặt của Kim Lân</b>


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


Cho đến nay trong nền văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác phẩm nào về trận
đói năm Ất Dậu - 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn Vợ nhặt của Kim
Lân. Cảm hứng nhân đạo dào dạt từ đầu truyện đến cuối truyện.


1. Truyện Vợ nhặt đã phản ánh nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta, người nghèo
trong trận đói năm Ất Dậu. Đồn người từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội


2. Truyện Vợ nhặt đã biểu lộ một tấm lòng trân trọng đối với hạnh phúc của con
người. Cách kể của Kim Lân rất hóm hỉnh về tình huống anh cu Tràng nhặt được
vợ và những tình tiết xoay quanh nàng dâu mới. Chỉ một vài câu “tầm phơ tầm
phào”, Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc thế mà hắn nhặt được vợ! Nhặt được vợ
nhưng hắn cùng phải liều: “Chặc, kệ!”. Hắn nghĩ thóc gạo này ni thân cịn khó,
lại cịn “đèo bịng". Trên đường dẫn vợ mới nhặt được về nhà xin phép mẹ Già,
anh cu Tràng vui như mở cờ trong bụng. Kim Lân tả đôi mắt và nụ cười của anh
con trai cục mịch này đế làm nổi bật niềm hạnh phúc mới nhặt được vợ. Tràng
“phởn phơ khác thường". Hắn “tủm tỉm cười nụ”. Hai mắt “sáng lên lấp lánh”, có
lúc cái mặt hắn “cứ vênh lên tự đắc với mình”.


Hình ảnh Tràng và thị đi bên nhau trông “hay đáo để”. Tràng khoe hai hào dầu, rồi
cười hì hì, bị thị “phát đánh đét” vào lưng với câu mắng yêu: “Khỉ gió", nghểnh cổ
thổi tắt phụt ngọn đèn con, bị thị mắng: “Chỉ được cái thế là nhanh. Dơ!”. Những
tình tiết ấy rất hay nói lên tình u mạnh hơn cái chết.


Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật vô cùng cảm động. Vượt qua phong tục tập
quán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ thương người đà bà xa lạ,
thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: “Ừ thơi thì các con đã phải
dun phải kiếp với nhau, u cũng mừng lịng". Tình thương của bà mênh mơng, bà
nghĩ “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, mới lấy đến con mình, mà con
mình mới có vợ được...”. Bà dịu dàng u thương gọi nàng dâu mới là “con”.
Lịng đầy thương xót, bà nói với hai con: năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy
nhau lúc này u thương quá. Qua đó ta càng hiểu sâu hơn cái lẽ đời. Nhân dân lao
động nghèo khổ đứng trước tai họa, họ đã dựa vào nhau, san sẻ tình thương, san sẻ
vật chất cho nhau để vượt qua mọi thử thách, hướng tới ngày mai với niềm tin và
hi vọng: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời...”. Người đọc cảm thấv ngọn đèn “vàng
đục” chiếu sáng trong mái lều đêm tân hôn của vợ chồng Tràng là ngọn đèn hi
vọng và hanh phúc ấm no.

Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn màng nhưng quý và đáng
trân trọng biết bao! Cổ kim đông tây đã có ai nhặt được vợ? Cái đói do bọn Nhật
Pháp gây ra đã cướp đi tất cả, tính mạng và phẩm giá con người. Một sự thật được
khẳng định: niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc khao khát sống mạnh hơn cái
chết. Quả thực cái vị đời ngọt ngào và người ấm áp đã tỏa sáng giá trị nhân đạo
truyện Vợ nhặt.


<b>Câu 7: Một trong những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Kim Lân trong truyện</b>
ngắn Vợ nhặt là đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Hãy
phân tích để chứng minh cho ý kiến trên.


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


I. Mở bài


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

của tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt. Một truyện ngắn đặc sắc là nhờ
được tổ chức chung quanh một tình huống như thế, và Vợ nhặt của Kim Lân là
một trường hợp tiêu biểu.


II. Thân bài


Vợ nhặt đã tạo ra được một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn:


1. Đó là tình huống nhân vật Tràng, một anh nhà nghèo xấu xí, dân ngụ cư (bị
người làng coi thường), giữa lúc đói khát lại lấy được vợ.


- Đó là một điều lạ, vì hai lí do:


+ Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo!



</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

- Tình huống trên dẫn đến cái hạnh phúc thật mong manh, tội nghiệp của đôi vợ
chồng và bà mẹ nghèo khổ. Hạnh phúc của đôi vợ chồng Tràng và niềm vui của bà
cụ Tứ cứ phải diễn ra trong một khơng khí ảm đạm chết chóc, vớinhững tiếng hờ
khóc người chết đói vẳng đưa tới (“Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng mới, có
tiếng ai hờ khóc ngồi xóm lọt vào tỉ lệ lúc to lúc nhỏ”). Hạnh phúc của họ diễn ra
trong tiếng quạ kêu thê thiết, trong tiếng khóc thê thảm ấy. Và tiếp đó là bữa ăn
đầu tiên đón nàng dâu mới thật tội nghiệp: ăn cháo cám, ăn mà khơng dám nhìn
nhau... Tình huống đó đã tạo cảm hứng, tạo cảnh, tạo chi tiết để nhà văn có thể
viết nên những trang thật cảm động về câu chuyện “Vợ nhặt" rất hiện thực và cũng
rất nhân đạo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.


III.Kết bài


- Tình huống Vợ nhặt độc đáo và hấp dẫn là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của
nhà văn Kim Lân.


- Tình huống ấy không chỉ tạo điều kiện cho câu chuyện triển khai và phát triển dễ
dàng, tốt đẹp, mà còn góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề truyện: niềm khát khao tổ
ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ ngay trong trận đói
khủng khiếp nhất.


<b>Câu 8: Phân tích nghệ thuật dựng truyện trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân </b>


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


<b>Nghệ thuật dựng truyện</b>


- Tạo tình huống độc đáo: “nhặt” được vợ.


- Dựng khơng khí chân thực: cái đói, cái chết bao trùm làng q. Đó là khơng khí


Rồi tâm trạng Tràng chuyển biến: Anh thấy yêu thương, vui sướng và điều quan
trọng hơn, anh thấy mình “nên người”. Sự gắn bó trong cảnh khổ, mối yêu thương,
hạnh phúc gia đình khiến Tràng có cuộc sống của một con người có trách nhiệm
(Trước đó chắc hẳn Tràng thường uống rượu mỗi ngày thể hiện trong dáng đi
“ngật ngưỡng”, và cũng chẳng gắn bó vun vén gì với cái nhà rách nát, cơ quạnh
của mình). Từ đây, con người lao động nghèo cực này hướng tới một tương lai
biến đổi tốt lành (Trong óc anh, hai lần hiện ra lá cờ đỏ rất to, rất đẹp và đám
người đi phá kho thóc). Chiều xuống, xu thế tất yếu Tràng là nhập vào đám người
cùng khổ đó.


b. Người vợ


Từ chỗ bốp chát, khá chua ngoa đã trở nên hiền hậu, chịu thương chịu khó trong
vai trị nàng dâu mới.


c. Bà mẹ Tràng


Khi biết con có vợ, bà đã ai ốn xót thương (khơng biết có sống được qua cơn đói
khát này). Rồi bà cụ mừng vì con có gia đình và mở rộng lịng thương yêu đùm
bọc (qua lời chấp nhận con dâu và khuyên nhủ hai con). Hơn thế nữa, người mẹ
giàu lòng nhân hậu này còn vui sướng khác thường (qua vẻ tươi tỉnh và khuôn mặt
vốn bủng beo, u ám đã rạng rỡ hẳn lên). Từ đó giữa hiện tại xám xịt, bà cụ Tứ đã
hình dung ra một tương lai khá hơn (qua lời bàn chuyện mua đôi gà và sẽ có đàn
gà).


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

nơng dân cũng hiểu tội ác của bọn xâm lược bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, bắt đóng
thuế; một phụ nữ ít học - người vợ nhặt - cũng biết đến việc phá kho thóc, đến Việt
Minh).



thì nó bắt giồng đay. Đằng thì nó bắt đóng thuế”).


<b>Câu 11: Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt của Kim Lân, từ đó nêu lên giá trị</b>
hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


<b>I. Mở bài</b>


-Giới thiệu tác giả, tác phẩm:


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

+ Nạn đói năm 1945 đã đi vào nhiều trang viết của các nhà văn, nhà trong đó có
Vợ nhặt của Kim Lân.


-Nhận xét khái quát:


-Vợ nhặt xây dựng tình huống truyện độc đáo.


-Qua tình huống truyện, tác phẩm thể hiện giá trị hiện thực và giá trị
nhân đạo sâu sắc.


<b>II. Thân bài</b>


1. Bối cảnh xây dựng tình huống truyện.


-Bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết.
-Cái chết hiện hình trong tác phẩm tạo nên một khơng khí ảm đạm, thê lương.
Những người sống ln bị cái chết đe dọa.


2.Trong bối cảnh ấy, Tràng, nhân vật chính của tác phẩm “nhặt” được vợ. Đó là

-Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp.


* Vợ nhặt có sức tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân, phát xít.
4.Giá trị nhân đạo.


Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của các nhân vật.
-Tràng rất trân trọng người “vợ nhặt” của mình.


-Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người “vợ nhặt”.
-Tình yêu thương con của bà cụ Tứ.


- Con người luôn hướng đến sự sống và luôn hi vọng, tin tưởng ở tương lai
+ Tràng lấy vợ là để duy trì sự sống.


+ Bà cụ Tứ, một người già lại ln miệng nói về ngày mai với những dự định thiết
thực tạo niềm tin cho dâu con vào một cuộc sống tốt đẹp.


+ Đoạn kết tác phẩm với hình ảnh lá cờ đỏ và đồn người phá kho thóc Nhật.
<b>III. Kết bài</b>


- Khẳng định tài năng nhà văn qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp
dẫn.


- Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.


<b>Câu 12: Phân tích giá trị độc đáo của tình huống mà Kim Lân đã tạo dựng trong</b>
tác phẩm Vợ nhặt


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>



bao! Điều này, bà cụ Tứ gần hết đời người phải làm bạn với cái nghèo mới thật sự
thấm thía: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy
còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số phận đứa con
mình. Chao ơi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm
nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Cịn mình thì… Trong kẽ mắt
tèm nhem của bà cụ rỉ xuống hai dòng nước mắt... Biết rằng chúng nó có ni nổi
nhau cho sống qua được cơn đói khát này khơng?”


Lịng bà cụ ngổn ngang trăm mối: vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa tủi. Mừng vui vì
dù sao con mình cũng có vợ, điều mà bổn phận làm mẹ bà đã không lo nổi cho
con: “ừ thơi thì các con đã phải dun phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng...".
Nhưng lo buồn, tủi nhục vì “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta
mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được...”.


Như thế là tình huống truyện đã làm bộc lộ sâu sắc tâm trạng, tính cách các nhân
vật. Bà cụ Tứ do từng trải nhiều nên tâm lí diễn biến phức tạp hơn cả. Cịn Tràng
thì lo ít, vui nhiều. Mới đầu cũng “chợn”, nhưng liền sau đó chặc lưỡi "kệ!”. Trên
đường đưa vợ về nhà, thấy người ta tị mị nhìn ngó, "hắn lại lấy vậy làm thích ý
lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”. Niềm vui át hẳn nỗi lo, đến nỗi anh ta
không hiểu được tại sao vợ lại buồn, mẹ lại khóc: Chán quá, chẳng đâu vào đâu tự
nhiên cũng khóc”.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

nhiệm đối với cái tổ ấm của mình, cũng nảy sinh. Anh ta thấy thương yêu gắn bó
với mọi người với cái nhà, cái sân, khoảnh vườn của mình một cách lạ lùng, “một
nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy
hắn nên người”.


Buồn tủi nhất là tâm trạng của người vợ Tràng “nhặt” được. Lấy chồng là chuyện
thiêng liêng là sự phó thác cả cuộc đời mình cho người đàn ơng mà mình u q.
Vậy mà chị ta nào có biết Tràng là ai, tốt xấu thế nào đâu. Chỉ một câu hò bâng

cờ Việt Minh bay phấp phới báo hiệu cuộc đổi đời vĩ của dân tộc đang sắp sửa
đến.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


Viết về nạn đói ăn năm Ất Dậu, Vợ nhặt của Kim Lân là một truyện ngắn sắc nhất,
độc đáo nhất trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.


Với một vốn sống phong phú về nông thôn và người nhà quê, với một tấm lòng
nhân hậu bao dung, câu chuyện anh trai cày thô kệch “nhặt” được vợ, đã được tác
giả kể lại một cách cảm động, đậm đà. Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật và xây
dựng tình tiết - cốt truyện đầy kịch tính là giá trị tư tưởng và nghệ thuật đích thực
được thể hiện qua tình huống “nhặt” của anh cu Tràng.


1. Tóm tắt tình huống “nhặt” vợ


Anh cu Tràng, mồ cơi bố, ở với mẹ già tại xóm ngụ cư. Nhà nghèo, hắn làm nghề
kéo xe bị th. Con mắt “nhỏ tí”, bộ mặt “thơ kệch”, cái đầu “trọc nhẵn lại có tật
“vừa đi vừa nói lảm nhảm...”. Cứ tưởng rằng hắn sẽ nằm suông đến già. Ai ngờ,
chỉ “tầm phơ tầm phào đâu có hai bận”, một câu hị rất phong tình, bốn bát bánh
đúc ngồi chợ tình, chẳng cưới cheo gì thế mà hắn “nhặt” được vợ. Đó là một cơ
gái, áo quần rách như tổ đỉa, nhưng đã “liếc cười tít” làm cho Tràng “thích lắm”.
Tràng “nhặt” được vợ khi trận đói đã và đang diễn ra vơ cùng khủng khiếp. Người
chết đổ như ngả rạ. Từ đám người chạy đói “xanh xám như những bóng ma”. Mùi
gây của xác người... Quạ bay vẫn trên nền trời như những đám đen, “cứ gào lên
từng hồi thê thiết”. Xóm ngụ cư "xác xơ heo hút”. Tràng “nhặt” vợ mà cảm thấy
“chợn” vì giữa trận đói, ni cái thân mình cịn khó mà còn đèo bòng". Trên
đường dẫn “vợ mới vợ miếc” về nhà, hắn “phớn phơ" thường, “tủm tỉm cười nụ”,
“hai mắt thì sáng lên lấp lánh...” cịn thị thì thẹn hay đáo để”. v



nhưng đáng tự hào và trân trọng biết bao. Anh đã mua hai hào dầu thắp sáng tối
tân hôn, để xua tan cái tối tăm, nghèo khổ, cô độc, để mừng “vợ mới vợ miếc”, để
soi sáng hạnh phúc tương lai. Tình tiết hai hào dầu rất giàu ý nghĩa nhân đạo.
Kim Lân đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động. Ông đã tả
giọt nước mắt trong nỗi lo, niềm vui của người mẹ nghèo khi nhận nàng dâu mới.
Niềm tin "ai giàu ba họ, ai khó ba đời’’: nồi cháo cám đắng chát mà người mẹ già
gọi là “chè khoáng ngon đáo để”, những câu chuyện vui, chuyện sau này của
người mẹ chồng nói với con trai và con dâu lúc ăn cháo cám. Tất cả thể hiện một
cách cảm động tình thương người, niềm tin đối với con người của tác giả “vợ
nhặt”.


b. Đối với thực trạng xã hội đương thời, thông qua tình huống Tràng “nhặt" vợ,
Kim Lân căm thù lên án và vạch trần tội ác của Nhật - Pháp đã bắt dân ta nhổ
trồng đay, vơ vét sưu thuế, gây ra trận đói kinh khủng năm Ất Dậu 1945, làm hai
triệu đồng bào ta bị chết đói! Nạn đói đã hạ thấp giá trị con người. Chẳng cheo
cưới, chỉ cần bốn bát bánh đúc mà người ta có thể’ "nhặt” được vợ.


Qua tình tiết khi trống thúc thuế dồn dập dội lên, thì nàng dâu mới loan tin ở mạn
Bắc Giang, Thái Ngun, người ta khơng chịu đóng thuế, cịn phá kho thóc của
Nhật - chỉ cho người đói... Và đám người đói kéo đi trên đê Sộp, phía trước là lá
cờ đỏ to lắm bay phấp phới. Kim Lân đã thể hiện rất hay tình cảm của hàng triệu
nơng dân Việt Nam hướng về cách mạng. Cứu đói, cứu khổ, cứu đời và đem đến
độc lập, tự do cho dân tộc chính là sự xuất hiện lá cờ đỏ ấy. Qua hình anh lá cờ đỏ,
cảm hứng nhân đạo của truyện vợ nhặt đã được nhân lên thành cảm hứng nhân văn
tuyệt đẹp.


<b>Câu 14: Có ý kiến cho rằng: Một trong những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của</b>
Kim Lân trong truyện ngắn Vợ nhặt là xây dựng một tình huống truyện độc đáo và
hấp dẫn”. Hãy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt để chứng minh ý kiến trên.



<i>- Ơi chao! Giời đất này cịn rước cái của nợ đời về. Biết có ni nổi nhau qua</i>
<i>cái thì này khơng?</i>


Họ cùng im lặng


Bà cụ Tứ, mẹ Tràng, lại còn ngạc nhiên hơn nữa khi trông thấy người đàn bà kia ở
trong nhà với con mình: “Qi sao có người đàn bà ở trong ấy nhì?... Sao lại chào
mình bằng u?... ơ hay, thế là thế nào”.


Đến ngay chính Tràng cũng ngạc nhiên: "Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ
hắn vẫn còn ngờ ngợ như khơng phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đây ư? Hà! Việc xảy
ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phà tầm phào đâu có hai bận ấy thế
mà thành vợ thành chồng".


Thậm chí sáng hơm sau ngày có vợ, anh ta vẫn chưa hết bàng hồng: việc hắn có
vợ đến hơm nay vẫn cịn ngỡ ngàng như không phải.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

Tràng nữa: "anh chàng cũng chợt nghĩ: thóc gạo này ngay cả đến cái thân mình
cũng chả biết có ni nổi khơng, lại còn đèo bòng”.


Đặc biệt là cụ Tứ với tâm trạng đầy mâu thuẫn vì “lịng người mẹ nghèo khổ ấy
cịn hiểu ra biết bao cơ sự”:một mặt cũng tủi vì gặp phải lúc đói khổ này người ta
mới lấy đến con mình, đồng thời lại rất lo vì: "biết chúng có ni nhau qua cơn đói
khát này khơng”. “Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này thương
q. Bà cụ nghẹn lời khơng nói được nữa, nước mắt chảy xuống rịng rịng.


3. Đặt nhân vật vào tình huống éo le như vậy, Kim Lân đã làm nổi bật được nhiều
ý nghĩa sâu sắc cho tác phẩm của mình.


- Một là, khơng cần đến những lời kếi tội to mà vẫn tố cáo được tội ác của bọn

Giá trị hiện thực:


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

“Người đói như những bóng ma nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, “người chết như
ngả rạ, thây nằm cong queo bên đường, tiếng quạ, tiếng hờ khóc, mùi xác chết... ”
<b>b) Trong tình cảnh đó, việc Tràng đưa người đàn bà đói về làm vợ khiến cái xóm</b>
làng và bà mẹ của anh ngạc nhiên, khơng dám tin mà cả chính anh cũng thầm lo âu
“vì anh chỉ là người đẩy xe nghèo khó, nhà cũ rách nát”, “đến cái thân mình cũng
chẳng biết có ni nổi khơng”, người đàn bà vợ nhặt của Tràng, rách rưới, đói sắp
chết sau khi được cho ăn bốn bát bánh đúc, theo về làm vợ một người đàn ông xa
lạ như anh, trước hết chỉ để khỏi đói. Nhưng xem ra cái đói khơng thể trách khỏi:
bữa đầu tiên của chị ở nhà chồng thật thảm hại, chẳng đủ cháo loãng để húp mà
phải ăn cháo cám.


<b>c) Qua câu chuyện của ba mẹ con trong bữa ăn, bức tranh nơng thơn miền Bắc</b>
ngày đói dần đã được mở rộng: “xóm ta khối nhà cịn chẳng có cám mà ăn", "đằng
thì nó bất trồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này chưa chắc đã sống
qua nổi”. Nhưng cũng có tin trên miệt Thái Ngun, Bắc Giang người ta “khơng
chịu đóng thuế nữa”, “cịn phá kho thóc của Nhật chia cho người nghèo”. Truyện
kết thúc bằng hình ảnh lá cờ đỏ và đồn người phá kho thóc ngày càng rõ rệt, đầy
sức vẫy gọi trong tâm trí Tràng.


- Tóm lại, bằng những chi tiết về một ngày đời thường trong gia đình Tràng sau
khi anh nhặt được vợ, Kim Lân đã phản ánh khái quát mà sinh động, đầy ám ảnh
tình cảnh của đât nước năm đói lịch sử 1945, tố cáo tội ác kẻ thù thật mạnh mẽ mà
không cần đao to búa lớn. Vợ nhặt được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám, lại
được tác giả sửa chữa, cho in sau ngày hịa bình lập lại. Kim Lân có điều kiện thể
hiện được xu thế tất yếu của quần chúng lao khổ và hướng về ngọn cờ cách mạng,
chỉ có cách mạng mới cứu họ thốt khỏi đói nghèo, chết chóc.


2.Giá trị nhân đạo:

<b>Câu 16: Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của</b>
Kim Lân.


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


Trước và sau Cách mạng tháng Tám, dù viết không nhiều nhưng giai đoạn nào
Kim Lân cũng có tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã
viết về cuộc sống và con người ở nơng thơn bằng tình cảm, tâm hồn của một nhà
văn chân chất vốn là đứa con của đồng ruộng. Trong bối cảnh của nạn đói năm
1945, Kim Lân viết truyện ngắn Vợ nhặt. Tác phẩm là một đóng góp xuất sắc cho
nền văn xi dân tộc. Với một cốt truyện đơn giản nhưng tình huống truyện độc
đáo và hấp dẫn. Vợ nhặt đề cập đến một vấn đề lớn có tính hiện thực và nhân đạo
sâu sắc; những con người Việt Nam lương thiện, trong tai họa đói kém khủng
khiếp do thực dân, phát xít gây ra, đã cưu mang đùm bọc nhau và hi vọng, trông
chờ vào sức mạnh giải phóng của cách mạng. Ấn tượng sâu đậm của người đọc
với tác phẩm có lẽ là tấm lòng đáng quý của mẹ con Tràng và cũng là tâm lòng
thật đáng quý của nhà văn đối với những người lao động nghèo khổ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

vật đã tạo được một sự cảm thông sâu sắc với người đọc. Cũng như Tràng, người
mẹ khốn khổ, già yếu sống trong một xóm ngụ cư vất vưởng ấy một người đàn bà
nhân hậu.


Vừa về đến nhà, thấy một người đàn lạ, bà cụ Tứ “đứng sững lại” hết sức ngạc
nhiên, “thế là thế nào". Bà khơng thể tin rằng con mình lấy vợ trong hoàn cảnh
này. Nhưng khi hiểu ra cớ sự, “bà lão cúi đầu nín lặng”, bà hờn tủi xót thương cho
số kiếp của đứa con mình và cho thân phận của mình. "Chúng nó có ni nổi nhau
sống qua được cơn đói khát này khơng?". Rồi bà cảm thấy khổ tâm, nghèo quá lấy
gì để ra mắt bạn bè lối xóm. “Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng
nhà quá nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái úc này... chúng mày lấy
nhau lúc này, u thương quá". Và nỗi khổ tâm đau xót ấy cơ đọng lại, biến thành

vẫn là tối tăm, ngột ngạt, nhưng nhân vật của Kim Lân đã có được niềm tin và hi
vọng vào cuộc sống. Và chắc chắn cuộc đời sẽ được đổi khác, hình ảnh cuối cùng
của tác phẩm “lá cờ đỏ bay phất phới" thể hiện niềm tin đó.


<b>Câu 17: Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của</b>
Kim Lân ( bài 2).


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>


Kim Lân là cây bút truyện ngắn xuất sắc. Ông viết rất hay về thú “phong lưu đồng
ruộng". “Nên vợ nên chồng” và "Con chó xấu xí” là hai tập truyện ngắn nổi tiếng
của nhà văn. Vợ nhặt - một truyện ngắn độc đáo rút trong tập “Con chó xấu xí"
xuất bản năm 1962. Truyện thấm đẫm tinh thần nhân đạo đã phản ánh cuộc đời
nghèo khổ, cơ cực và khát vọng về hạnh phúc gia đình của người nông dân Việt
Nam trong thời Pháp thuộc. Bối cảnh của truyện là trận đói kinh khủng năm 1945.
Nhà văn kể về chuyện anh cu Tràng “nhặt" được vợ khi cả xóm ngụ cư người chết
đói như rạ. Trong ba nhân vật của truyện, hình ảnh bà cụ Tứ - mẹ anh cu Tràng để
lại cho người đọc nhiều ấn tượng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

Tứ nghĩ đến gia cảnh mà thêm buồn ủi. Tiếng than, tiếng thở dài như tràn qua
dòng nước mắt. Thương con, thương cho số phận mình, những tháng năm dài dằng
dặc với bao chuyện buồn. Bà thương mình trải qua một cuộc đời đầy cay đắng:
“Chao ơi! Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi,
những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này. Cịn mình thì...”


Nạn đói đang đe dọa. Bà phấp phỏng lo âu: “Chúng nó có ni nổi nhau sống qua
được cơn đói khát này khơng!". Góa bụa, nghèo khổ, cơ đơn. Chồng chết rồi mụn
con gái chết theo. Bà sống với đứa con trai thô kệch “mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh
ra” lại có tật vừa đi vừa lẩm bẩm như người dở hơi. Bà mỗi ngày một già mà
Tràng vẫn sống độc thân. Tục ngữ có câu: “Trẻ cậy cha, già cậy con". Bà mẹ già


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

tung hồnh ngay lối đi đã được hốt sạch. Mấy chiếc áo quần rách bươm như tổ đĩa
vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã được đem ra phơi…”. Nhà cửa, sân
ngõ được quét dọn sạch sẽ, quang quẻ. Bà cụ Tứ cùng con dâu “lúi húi" giẫy cỏ...
Cuộc đời của bà, của con bà, gia đình bà bắt đầu đổi thay. Tiếng hờ khóc tỉ tê của
những nhà có người thân mới chết đói. Nước mắt bà cụ Tứ lại chảy ra, nhưng hà
“khơng dám để con dâu nhìn thấy bà khóc". Trên cái nền đen tối ấy là hình ảnh lá
cờ đỏ và đồn người đi phá kho thóc của Nhật. Trong lo âu có niềm vui phấp
phỏng, thống hiện mơ hồ. Nạn đói chưa thể vượt qua, nhưng người mẹ già phúc
hậu, từng trải là chỗ dựa cho hai vợ chồng Tràng đi tới... để khẳng định niềm tin:
“Ai giàu ba họ, ai khó ba đời...”


Hạnh phúc cầm tay. Con trai đã có vợ. Bà cụ Tứ lo chết đói nhưng lịng vẫn vui và
hi vọng. Có một chi tiết đầy ý nghĩa. Có lẽ lần đầu tiên trong nhà người mẹ nghèo
khổ đã có hai hào dầu thắp đèn, bong tối đang bị xua tan dần. Đó là ánh sáng của
hạnh phúc, ánh sáng của hi vọng.


Trong bài thơ "Ba mươi năm đời ta có Đảng”, Tố Hữu viết:
"Đời ta gương vỡ lại lành


Cây khô cây lại đâm cành nở hoa"


Cuộc đời của mẹ con Tràng nhất định sẽ “đâm cành nở hoa". Có biết trận đói năm
Ất Dậu 1945, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói mới thấy hết lịng mẹ được miêu
tả, mới cảm nhận được giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt này.


<b>Câu 18: Hãy tóm tắt truyện Vợ nhặt - Kim Lân. Từ đó phân tích những điểm nội</b>
dung và nghệ thuật chủ yếu của tác phẩm này.


<i><b>Gợi ý trả lời:</b></i>

con người khác. Tràng vui sướng thấy mình “nên người", thấy khơng chỉ sống cho
mình và cịn có bổn phận với vợ con. Giá trị sâu sắc của tác phẩm là ở chỗ tin yêu
vào con người, tha thiết với tình người.


Vợ nhặt cũng là bức tranh tố khổ cho người nghèo. Tuy không dữ dội khốc liệt và
dồn ép cay đắng như "Chí Phèo" hay "Tắt đèn" nhưng lại nổi bật lên một khía
cạnh nhức nhối: nạn đói đe dọa nhiều người, do giặc Pháp và Nhật gây nên. Kim
Lân góp phần hồn tất bức tranh hiện thực về đời sống cũ đồng thời mở ra một
hướng mới với tương lai đấu tranh mà chắc chắn những người như Tràng sẽ bước
tới.


Bên cạnh đó, giá trị nghệ thuật của Vợ nhặt chứng tỏ một tài năng chín tới một
cách hồn nhiên của Kim Lân. Câu truyện đã dựng được hoàn cảnh tiêu biểu, làm
sống dậy cả một quãng thời gian đau thương của dân tộc, xây dựng được các nhân
vật tiêu biểu. Trước hết tác giả tái tạo khơng khí truyện rất đạt, đó là khơng khí
những ngày đói khủng khiếp. Trời đất xóm thơn lúc nào cũng chạng vạng, u tối,
đầy tiếng quạ kêu, tiếng người khóc. Các nhân vật của truyện đã đến mức dật dờ,
lặng lẽ như những bóng ma. Trong bối cảnh ấy người vợ nhặt hay bà mẹ Tràng
đều là các số phận điển hình. Tất cả được dắt dẫn sống động, rất chân thực với các
chi tiết rất đắt “chi tiết mấy đĩa bánh mà nên vợ nên chồng...”. Chỉ thơng qua cách
nói chuyện của đơi vợ chồng mới nhà văn dường như đưa nhân vật sống ngoài đời
vào thẳng tác phẩm. Họ đối đáp chỏng lỏn, câu cú khơng đầu khơng đi, lời ít
đến mức tối thiểu. Điều đó thể hiện con người bình dân của họ, thể hiện cái tâm lí
e ngại, thẹn thùng, chưa hiểu biết nhiều về nhau của “cô dâu, chú rể".


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

một hạnh phúc đơn sơ, nhỏ nhoi; sự yêu thương, có trách nhiệm, khiến ta cảm
động. Cả người Vợ nhặt lẫn bà mẹ già nghèo khổ cũng biến chuyển, họ trở nên tốt
hơn, hiền hậu hơn và phần nào tin ngày mai sẽ khác.


Hai mặt nội dung và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn đã tạo nên thành công cho

đói khát, Tràng dẫn về một người phụ nữ. Đó là vợ anh - người vợ mà


Tràng nhặt được trong cảnh đói kém, do mời ăn bốn bát bánh đúc, kèm theo lời
nói đùa vui mà thuận theo anh về nhà, làm vợ anh. Bà cụ Tứ - mẹ Tràng - lúc đầu
không ngờ con lấy vợ nên không hiểu người đàn bà ở trong nhà mình là ai, vì bà
cụ nghĩ tình cảnh con mình làm sao lấy được vợ, nhất là giữa nạn đói khủng khiếp
này. Nhưng khi biết con mình “nhặt" được vợ về thì lịng bà mẹ nchèo khổ “hiểu
ra biết bao nhiêu cơ sự”: buồn lo, tủi cực, ai ốn xót thương. Bà cụ thương con nên
cũng thương dâu. Bà đã nhận người đàn bà ấy làm con dâu trong nỗi đau đớn và
thương cảm. Để động viên hai con, bà nói tồn về những chuyện vui.


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

mình cần phải có trách nhiệm trong cuộc sống gia đình hiện tại và tương lai, dù
đêm đầu tiên của đôi vợ chồng trẻ qua đi trong khơng khí khét lẹt mùi chết chóc và
tiếng hờ khóc ai.


Bà mẹ Tràng đãi hai con ít cháo và “nồi chè đặc biệt". Miếng cám chát bứ, nghẹn
cổ nhưng mọi người đều thống thấy có một niềm vui. Cả mẹ con đều bắt tay vào
việc dọn dẹp, quét tước nhà cửa, vườn tược cho quang quẻ, hướng về một cuộc
sống đổi khác. Trong óc Tràng hiện ra đám người phá kho thóc của Nhật và lá cờ
đỏ sao vàng bay phất phới.


b) Phân tích hình tượng nhân vật Tràng:


Tràng là một con người lao động nghèo khổ, hởi bất bình thường lại có ngoại hình
xấu xí "hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra,
rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ
gì vừa lí thú, vừa dữ tợn. Hắn có tật vừa đi vừa nói. Hắn lảm nhảm than thở những
điều hắn nghĩ”. Cuộc sống lao động vất vả, nghèo đói đã in hằn dấu ấn trên từng
bước đi của hắn đè nặng xuống cái lưng to nặng của hắn: “Tràng đi từng bước mệt
mỏi, chiếc áo nâu tàn vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng

cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưu che nắng. Một niềm
vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên
người, hắn thấy hắn có bốn phận lo lắng cho vợ con sau này ...”.


Bữa ăn ngày đói trơng thật thảm hại, chỉ có lưng bát cháo và món “chè đặc biệt"
-miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Tràng cảm thấy một nỗi xót xa tủi hờn
len vào trong tâm trí, nhưng rồi “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ
đỏ bay phất phới”.


Điều đó cho ta thấy dù trong hồn cảnh khó khăn, đói kém, niềm khao khát về một
cuộc sống hạnh phúc gia đình vẫn khơng hề mờ đi trong tâm hồn Tràng và vẫn
bùng lên mãnh liệt.


3.Đánh giá khái quát lại hình tượng nhân vật Tràng.


Tóm lại, Tràng là hình tượng nhân vật trung tâm của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim
Lân. Tràng là nhân vật điển hình cho người nơng dân lao động nghèo khổ, dù bất
cứ trong hoàn cảnh đen tối nào vẫn luôn luôn khao khát một cuộc sống hạnh phúc
gia đình và tin vào cuộc sống ở tương lai. Kim Lân đã khá thành cơng khi xây
dựng hình tượng nhân vật Tràng. Ơng đã mơ tả tâm lí nhân vật thật sâu sắc. Ông
đã đi sâu vào bên trong tâm hồn của mỗi nhân vật trong truyện nói chung và đối
với nhân vật Tràng nói riêng, để phát hiện và mơ tả những tình tiết cảm động và
khát vọng mãnh liệt của những con người nghèo khổ về một cuộc sống hạnh phúc.
Những tình tiết xoay quanh hình tượng nhân vật Tràng được nhà văn sắp xếp một
cách chặt chẽ hợp lí, tập trung biểu hiện rõ chủ đề của câu chuyện.


Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn khá thành cơng của Kim Lân. Truyện vừa
có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.


</div>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status