ĐẠI HỌC THÁI NGUN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
NHỮNG KHĨ KHĂN CỦA HỌC SINH MIỀN NÚI
KHI TIẾP CẬN TÁC PHẨM VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN
VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN - TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: 60.14.01.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Gia Cầu
Thái Ngun - 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iLỜI CAM ĐOAN
TS. Cao Thị Hảo Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iiLỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS. Nguyễn Gia Cầu - người thầy hướng dẫn luận văn của em. Thầy đã
tạo mọi điều kiện động viên và giúp đỡ em trong suốt q trình thực hiện và
hồn thành luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Ngữ văn; Khoa Sau Đại học -
Trường Đại học Sư phạm Thái Ngun đã tạo điều kiện cho em có một mơi
trường học tập và nghiên cứu thuận lợi để em hồn thành tốt luận văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tham
gia giảng dạy tận tình lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học Văn -
Tiếng Việt K19 - ĐHSP Thái Ngun.
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các bạn bè, người thân đã
ủng hộ và tạo điều kiện giúp đỡ tơi trong q trình thực hiện luận văn. Trong
điều kiện hạn hẹp về thời gian và khả năng có hạn, luận văn này khơng tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của Q thầy, cơ và các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn !
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Cấu trúc luận văn 9
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1. Cơ sở lý luận 10
1.1.1. Học sinh miền núi và năng lực cảm thụ văn học của học sinh miền núi. 10
1.1.2. Lý thuyết tiếp nhận văn học 14
1.1.3. Kim Lân và truyện ngắn “Vợ nhặt” 19
1.2. Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1. Mục đích khảo sát 31
1.2.2. Nội dung khảo sát 31
1.2.3. Địa bàn, thời gian khảo sát 31
1.2.4. Phương pháp khảo sát 31
1.2.5. Kết quả khảo sát 32
Chương 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC KHĨ KHĂN NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CHO HỌC SINH MIỀN NÚI
3.1. Thiết kế giáo án 71
3.1.1. Kết quả cần đạt 71
3.1.2. Chuẩn bị của thầy và trò 71
3.1.3. Thiết kế dạy học 72
3.2. Giải thích ý đồ Thiết kế giáo án 73
3.3. Hướng dẫn thực hiện giáo án 73
3.3.1. Ổn định tổ chức 73
3.3.2. Kiểm tra bài cũ 73
3.3.3. Bài mới 73
3.3.4. Củng cố - dặn dò: 87
3.4. Đánh giá kết quả thể nghiệm 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iv
vẫn được giảng dạy trong nhà trường và chọn làm đề thi văn của nhiều kì thi
Đại học, Cao đẳng trong cả nước. Ơng là mẫu nhà văn “q hồ tinh bất q
hồ đa”, viết kỹ lưỡng, viết từ gan ruột, khơng chấp nhận sự nhạt nhẽo, sự giả
tạo trong văn học.
Là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện
đại, “Vợ nhặt” đã được lựa chọn vào chương trình giảng dạy lớp 12 trường
THPT, được đơng đảo bạn đọc u mến bởi cốt truyện hấp dẫn, ngơn ngữ
giản dị, tự nhiên và bởi tác phẩm có sự kết tinh nhiều giá trị: giá trị hiện thực,
giá trị nghệ thuật và trên hết là giá trị nhân đạo sâu sắc. Những giá trị đó khi
được hiểu và cảm đúng mức sẽ tác động tích cực tới tâm hồn học sinh, giúp
các em có thế giới quan, nhân sinh quan trong sáng, tích cực. Song trong thực
tế, những giá trị cao đẹp đó đã được những bạn đọc học sinh tiếp nhận như
thế nào? Liệu những cái hay, cái đẹp, cái tài của nhà văn và tác phẩm đã được
cảm và hiểu đúng mức?
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
2
1.2. Mơn văn có vị trí và ý nghĩa vơ cùng quan trọng đối với nền giáo
dục đào tạo của bất kì quốc gia nào. Mục đích của giảng dạy văn học trong
nhà trường là giúp học sinh cảm thụ được đầy đủ nhất mọi giá trị tư tưởng và
nghệ thuật trong hình tượng văn học của tác phẩm, từ đó giáo dục cho các em về
nhận thức, về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ và cả về tư duy ngơn ngữ.
Trong học văn, con đường tiếp cận tác phẩm văn chương có ý nghĩa rất
quan trọng. Nó giúp người học đến gần với những giá trị chân, thiện, mỹ mà
văn chương mang lại. Ngồi cung cấp tri thức, văn chương còn mang đến cho
con người những bài học giá trị nhân sinh cao đẹp, điều này có ý nghĩa quan
trọng, tích cực với mọi lứa tuổi, nhất là với lứa tuổi học trò, lứa tuổi đang
trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy học sinh còn khá nhiều lúng túng khi học và cảm thụ tác phẩm văn
chương. Đặc biệt là những học sinh miền núi, học sinh dân tộc thiểu số.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Về truyện ngắn Vợ nhặt
Vợ nhặt được Kim Lân viết với sự xúc động mãnh liệt từ nạn đói khủng
khiếp của dân tộc năm 1945- nạn đói đã cướp đi mất một phần mười dân số ít
ỏi của Việt Nam bấy giờ. Tác phẩm được đánh giá “là một trong những tác
phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại”(Nguyễn Đăng Mạnh). Từ
khi ra đời đến nay thiên truyện đã nhận được sự u mến, đón nhận nồng
nhiệt từ phía người đọc. Rất nhiều các bài viết, chun luận, luận văn…đã lấy
truyện ngắn đặc sắc này làm đối tượng nghiên cứu, tiêu biểu có thể kể đến:
Trước hết là những bài phân tích, bình giảng về truyện ngắn Vợ nhặt
với tư cách là một tác phẩm được chọn giảng trong nhà trường ở chương trình
lớp 12 :
- Bài phân tích tác phẩm Vợ nhặt trong “Để học tốt văn 12”
- Bài viết “Sự sống đối mặt với cái chết” của Nguyễn Thị Thanh Cảnh
trong “Tiếng nói tri âm” – tập 1.
- Bài viết “Bóng tối và ánh sáng trong câu chuyện nhặt vợ” của Trần
Đồng Minh trong “Tiếng nói tri âm” – tập 1.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
4
- Bài viết “Ngọn lửa tình người thắp giữa đêm đen cuộc sống” của Vũ
Dương Quỹ trong “Về một số nhân vật trong sách văn 12”
- Bài “Tác giả Kim Lân và hình tượng người đàn bà khơng tên trong
Vợ nhặt” của Trương Vũ Thiên An trên báo Giáo dục và thời đại – 1998.
…
Ngồi ra tác phẩm Vợ nhặt còn có trong một số đề tài nghiên cứu khác
về các truyện ngắn của Kim Lân, tiêu biểu như:
- “Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn
Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 1997 của Nguyễn Văn Bao.
- “Những đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2002
2.2 Nghiên cứu về dạy học văn ở miền núi
Nghiên cứu về dạy học văn ở miền núi, đặc điểm cảm thụ của học sinh
dân tộc thiểu số miền núi đã có một số người quan tâm. Đặc biệt là những
cơng trình của các thầy cơ giáo trường Đại học sư phạm Đại học Thái
Ngun, nơi đào tạo đội ngũ giáo viên cho các tỉnh miền núi phía Bắc của tổ
quốc. Trải qua gần nửa thế kỉ xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã có
nhiều đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở các tỉnh miền núi. Chúng
ta có thể kể đến các cơng trình nghiên cứu của các tác giả như:
- “Dạy văn và học văn ở miền núi” (đề tài nghiên cứu cấp trường) của
2 tác giả Trần Thế Phiệt – Vi Hồng, 1990 – 1991.
- “Vài nhận xét về đặc điểm cảm thụ của học sinh dân tộc thiểu số miền
núi”, tạp chí NCGD, số 9/ 1991 của tác giả Phùng Đức Hải.
- “Dạy và học văn ở miền núi”, tạp chí văn học số 2/ 1992 của tác giả
Vi Hồng.
- “Từ những bài thi vào đại học 1993 ta biết được những gì về dạy và học
văn ở miền núi” của tác giả Hồng Hữu Bội, tạp chí văn học tháng 3/ 1993.
- “Dạy và học thơ cổ ở trường cấp II, III miền núi của hai tác giả
Phạm Luận và Hồng Hữu Bội”, NXB Giáo dục, 1994.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
6
- “Dạy và học tác phẩm văn chương ở trường THPT miền núi” của tác
giả Hồng Hữu Bội, NXB Giáo dục, 1997.
- “Những biện pháp hạn chế khoảng cách tiếp nhận Thơ kháng chiến
Việt Nam 1946 – 1954 của học sinh trung học phổ thơng miền núi” (Luận văn
Thạc sĩ) của tác giả Lý Thị Mai Hương năm 2002.
- “Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hóa ở học sinh
dân tộc miền núi khi dạy học truyện ngắn “Một người Hà Nội” của nhà văn
Nguyễn Khải” (Luận văn Thạc sĩ) của tác giả Nguyễn Ngọc Thủy năm 2009.
- …
Để đạt được nhiệm vụ nghiên cứu trên, người nghiên cứu cần thực hiện
những nhiệm vụ:
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý và năng lực cảm thụ văn học của học
sinh miền núi.
- Tìm hiểu sâu về tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân ở các bình
diện, chú trọng đến các giá trị của tác phẩm. Bên cạnh đó, cần đi sâu tìm hiểu
các cách tiếp cận và phương pháp dạy học tác phẩm.
- Khảo sát, phát hiện ra những khó khăn của học sinh miền núi trong
việc tiếp cận tác phẩm.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục khó khăn để nâng cao chất lượng
dạy học.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những khó khăn mà học sinh miền núi gặp
phải trong q trình tiếp cận truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phát hiện những khó khăn của những học sinh miền núi đang học tập
tại trường THPT Trần Quốc Tuấn – huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Ngun khi
học truyện ngắn Vợ nhặt trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
8
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Những khó khăn của học sinh miền núi khi tiếp cận
tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân và biện pháp khắc phục để nâng cao chất
lượng dạy học” chúng tơi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp tổng hợp lý luận
Sử dụng phương pháp tổng hợp lý luận nhằm tìm hiểu những cơ sở lý luận về
học sinh miền núi và năng lực cảm thụ văn học của học sinh miền núi; lý
thuyết về tiếp nhận văn học, về truyện ngắn và cách dạy học truyện ngắn; đặc
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Những biện pháp khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng
dạy học cho học sinh miền núi khi dạy học tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Học sinh miền núi và năng lực cảm thụ văn học của học sinh
miền núi
Trong cuốn “Dạy và học tác phẩm văn học ở trường THPT miền núi”,
NXB Giáo dục, 1997, tác giả Hồng Hữu Bội đã đề cập quan điểm của tác giả
về học sinh miền núi, theo tác giả “đó là những trẻ em sinh ra và lớn lên ở
miền núi, trong đó bao gồm các con em dân tộc ít người sống đan xen ở một
vùng núi và con em của người Việt sống nhiều năm ở vùng đó”.
Đời sống tình cảm và những đặc điểm về tính cách chi phối đến q
trình tiếp nhận văn chương:
Điều kiện thiên nhiên và địa lý có ảnh hưởng nhiều tới đời sống tâm lí:
“Các em sống rất hồn nhiên, giản dị, ưa tự do phóng khống thật thà chất
phác. Các em rất trung thực, khơng bao giờ sống thủ đoạn. Các em thường
nghĩ như thế nào, hiểu như thế nào thì nói như vậy, khơng bao giờ có chuyện
thêm bớt. Vốn rất mộc mạc, chân thành, các em muốn sự chân thành, mộc
mạc đó của mình được tơn trọng trong mọi trường hợp, đừng ai xúc phạm
đến…”[28]. Học sinh người miền núi có lòng tự trọng cao, có tính bảo thủ,
hay tự ái, đồng thời các em hay tủi thân, chậm thích nghi với học sinh mới.
cơ bản về năng lực tiếp nhận văn học ở học sinh miền núi? Qua tìm hiểu,
chúng tơi nhận thấy có những đặc điểm cơ bản như sau:
1.1.1.1 Năng lực tri giác ngơn ngữ tác phẩm văn học của học sinh
THPT miền núi
Tác phẩm nào cũng tồn tại qua hệ thống ngơn ngữ. Con đường đi vào
tác phẩm văn học, vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm phải bắt đầu từ bước
tri giác ngơn ngữ. Tác phẩm chỉ là kí hiệu chết nếu khơng có sự tri giác của
người đọc. Sự tri giác ngơn ngữ ở đây khơng có nghĩa là đọc lên những con
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
12
chữ rời rạc vơ nghĩa, mà phải hiểu ý nghĩa của những con chữ ấy. Trước hết
người đọc phải hiểu được nghĩa đen nghĩa bóng, để từ đó thấy được cái hay,
cái đẹp, cái phần chìm sau mỗi con chữ ấy, đặc biệt là nắm được giọng điệu,
nắm được cái hồn của con chữ. Ngơn ngữ nghệ thuật là ngơn ngữ hàm ẩn nhiều
nghĩa, người cảm nhận được nó đòi hỏi phải có sự tinh tế, phải có vốn ngơn ngữ
nhất định. Song, hạn chế của học sinh THPT miền núi, do vốn ngơn ngữ phổ
thơng nghèo, khoảng cách lịch sử - văn hóa, hồn cảnh sống ít va chạm nên sự
tri giác ngơn ngữ trong tác phẩm văn học nghệ thuật nơi các em gặp nhiều khó
khăn, hạn chế. Vì vậy cần phải chú trọng bồi dưỡng thường xun năng lực tri
giác ngơn ngữ cho học sinh THPT miền núi.Trong cơ chế vận hành của hoạt
động tiếp nhận văn học,việc tri giác ngơn ngữ văn học ln ln gắn liền với
năng lực tái hiện hình tượng và năng lực tưởng tượng của người đọc.
1.1.1.2. Năng lực tái hiện hình tượng của học sinh THPT miền núi
Tri giác ngơn ngữ là bước đánh thức cánh cửa các ký hiệu của tác phẩm
và hoạt động tưởng tượng, tái hiện là bước giúp người đọc nhìn ra thế giới
bên trong của tác phẩm, nằm dưới ký hiệu ngơn ngữ. Hoạt động tái hiện và
tưởng tượng giúp cho người đọc có cảm giác nhập thân, sống cùng tác phẩm,
có cảm xúc thật sự với từng tình huống của những nhân vật khác nhau trong
tác phẩm. Năng lực tái hiện, tưởng tượng càng phát triển, người đọc càng dễ
tiếp nhận mỗi yếu tố trong cấu trúc của tác phẩm như một chi tiết cụ thể, cảm
tính, rời rạc, khơng mang một ý nghĩa khái qt gì theo ý đồ sáng tạo của tác giả.
Khi phân tích một nhân vật, một tác phẩm văn học thì khơng thể khơng bám vào
các chi tiết nghệ thuật, các từ “đắt” được dùng trong tác phẩm, hoặc các từ được
coi là “nhãn tự” của bài thơ. Ví dụ như chi tiết “ơ cửa sổ” căn buồng của Mỵ
trong tác phẩm Vợ chồng A phủ. Thơng qua chi tiết nghệ thuật này, Tơ Hồi đã
cho ta thấy một phần nào đó cuộc sống tối tăm, tủi nhục của Mỵ. Khi phân tích
tác phẩm hoặc nhân vật trong Vợ chồng A Phủ, khơng thể bỏ qua chi tiết này
trong tác phẩm. Phát hiện được những chi tiết nghệ thuật đã quan trọng, nhưng
cái quan trọng hơn là người đọc phải cắt nghĩa được ý nghĩa của chi tiết đó, từ
ngữ đó trong chỉnh thể của tác phẩm. Vì vậy, có thể khẳng định rằng: khả năng
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
14
cảm thụ chi tiết nghệ thuật và cắt nghĩa nó một cách khái qt trong hệ thống
chỉnh thể của tác phẩm dưới ý đồ tư tưởng của nhà văn chính là năng lực cơ bản
nhất của tiếp nhận văn học. Về năng lực này học sinh miền núi còn yếu, bên
cạnh một số ít các em có năng lực khái qt hóa chi tiết nghệ thuật trong tác
phẩm tốt thì phần lớn các em chưa có năng lực này.
Người giáo viên phải làm thế nào nâng cao năng lực khái qt khái
qt hóa chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm đối với học sinh miền núi? Quả
thực đây là việc làm rất khó, đòi hỏi phải kiên trì, người giáo viên văn phải
tìm mọi biện pháp, thì mới nâng cao hiệu quả học tập mơn văn và bồi dưỡng
lòng say mê học văn cho học sinh miền núi. Bởi nếu khơng có được năng lực
đó, các em khơng thấy hết được cái hay, cái ý nghĩa của tác phẩm và từ đó các
em sẽ khơng thấy thích thú đối với việc học văn. Ngược lại, nếu các em tự
phát hiện, tự khám phá được cái hay cái đẹp của tác phẩm, thì các em sẽ vơ
cùng thích thú, và tăng thêm sự u thích, say mê mơn học.
Như vậy, ngồi năng lực tri giác ngơn ngữ tác phẩm văn học, năng lực
tái hiện hình tượng - tưởng tượng, năng lực liên tưởng, năng lực khái qt hóa
của tiếp nhận văn học đã được khẳng định từ lâu, nhà ngữ văn Nga Pơlepnhia
đã nói: “Chúng ta có thể hiểu được tác phẩm thi ca chừng nào chúng ta tham
gia vào việc sáng tạo nó”.
Nói tóm lại, với tư cách là phương pháp luận, tiếp nhận văn học đã đem
lại ánh sáng mới, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu văn chương, mở thêm một
lối đi cho khảo sát văn chương khiến nó khơng bị đóng khung trong việc xem
xét mối quan hệ nhà văn và tác phẩm.
1.1.2.2. Lý thuyết tiếp nhận văn học từ truyền thống đến hiện đại
* Lý thuyết tiếp nhận truyền thống
Hoạt động văn học từ xưa đến nay vận hành theo ba khâu: Nhà văn – Tác
phẩm – Bạn đọc. Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc đã từ rất lâu được người
ta ít nhiều đề cập. Hoạt động tiếp nhận chỉ thực sự được đặt ra một cách có hệ
thống từ khi văn học thành văn ra đời. Lý luận tiếp nhận văn chương theo kiểu
truyền thống quan niệm tiếp nhận văn chương ở hai dạng: tri âm và ký thác.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
16
Tiếp nhận theo kiểu tri âm: là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của
tác giả. Sự cắt nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của
tác giả ký gởi vào tác phẩm từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm
trong cùng một vòng tròn đồng tâm. Tri âm là biểu hiện tột cùng của sự hiểu
biết, cảm thơng lẫn nhau. Tiếp nhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ
quan, người ta quan niệm rằng tác phẩm được viết là để dành riêng cho những
người sánh văn chương, có khả năng đi sâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi
lòng của tác giả, chứ khơng phải viết ra cho đơng đảo độc giả cơng chúng
ngồi xã hội thưởng thức, tiếp nhận. Quan điểm tiếp nhận theo kiểu tri âm đòi
hỏi sự gặp gỡ, đồng điệu tuyệt đối giữa người sáng tác và bạn đọc, nhưng trên
thực tế việc này rất khó khăn.
Tiếp nhận theo kiểu ký thác: Là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác
phẩm để biểu lộ nỗi lòng của mình đối với cuộc đời. Do đó, tác phẩm văn
chân trời tự do cho việc tiếp nhận.
Ngồi ra, tác phẩm văn chương khơng phải là sản phẩm cố định mà là
một q trình, một sự đi tìm, một sự khám phá chứ khơng phải là sự minh họa
cho một kết luận có sẵn. Chính vì vậy sẽ tạo cơ hội cho những lý giải, những
tiếp nối, những kết luận khác nhau.
* Đối với người đọc
Người đọc đa dạng dẫn đến sự đa dạng trong tiếp nhận văn học. Mỗi
loại người đọc có một cách tiếp nhận khác nhau. Có người đọc để thưởng
thức, nghiên cứu, phê bình … Có người quan tâm đến nội dung tư tưởng, có
người quan tâm đến hình thức nghệ thuật … Vì vậy, cùng một tác phẩm có
thể có nhiều cách cảm nhận khác nhau, đánh giá khác nhau (người tán đồng,
người phê phán).
Người đọc đa dạng về trình độ, lứa tuổi, kinh nghiệm, nghề nghiệp,
giới tính, địa vị xã hội … cũng sẽ dẫn đến tiếp nhận khác nhau trong cùng
một tác phẩm.
Tiếp nhận văn học mang đậm dấu ấn chủ quan, gắn liến với thị hiếu,
tình cảm của mỗi người. Giá trị của tác phẩm khơng phải là phép cộng cách
tiếp nhận nó, có cách tiếp nhận đúng nhưng lại có cách tiếp nhận sai lệch.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
18
Trong các cách tiếp nhận tác phẩm có chỗ đúng, chỗ sai nhưng khơng có
nghĩa là chỉ có một cách tiếp nhận nào đó là duy nhất đúng. Một tác phẩm có
thể có nhiều cách tiếp nhận khác nhau và có thể đều tỏ ra hợp lý, điều này gắn
với sự đa nghĩa của tác phẩm văn học.
Bàn về tiếp nhận văn học, sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 2 – Chương
trình chuẩn, NXB Giáo dục, 2008 viết: “Tiếp nhận văn học là q trình người
đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ
thuật được dựng lên bằng ngơn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng
thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo”. Cùng quan niệm