52
BÀI 3: ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ DA DẠNG SINH
HỌC
I. Kiến thức
1. Một số vấn đề chung liên quan đến Đa dạng sinh học
a. Khái niệm.
Đa dạng Sinh học là cụm từ xuất hiện từ khoảng ba thập niên nay, đã được các nhà bảo
tồn thiên nhiên, các nhà sinh hoc, các nhà tự nhiên học khác và các tổ chức quốc tế viết
nhiều và cũng đưa ra nhiều đònh nghóa khác nhau. Tuy nhiên, một đònh nghóa được các nhà
khoa học chấp nhận và thường sử dụng là đònh nghóa được nêu lên trong Hội nghò thượng
đỉnh về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro, Braxin 1992 như sau: “Đa dạng Sinh
học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm các hệ sinh thái trên
đất liền, trên biển và các hệ sinh thái dưới nước khác; sự đa dạng thể hiện trong từng
loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”.
Tóm lại, đa dạng sinh học có ba nội dung cơ bản:
- Đa dạng di truyền hay có thể gọi là đa dạng về gen
- Đa dạng loài
- Đa dạng hệ sinh thái
b. Một số thuật ngữ.
-Tài nguyên sinh vật: Bao gồm nguồn gen, các cơ thể sống hoặc các bộ phận của nó, quần
thể hoặc các hợp phần của quần thể đang được sử dụng vì nhu cầu của con người.
- Công nghệ sinh học: Là những ứng dụng công nghệ trong các hệ sinh thái, trong các cơ
thể sống mà từ đó được tạo ra hay mô- đi- phai các sản phẩm hoặc biến đổi vì mục đích
đặc biệt.
- Quốc gia có nguồn gen gốc: Là quốc gia chiếm giữ nguồn gen đó trong điều kiện bảo tồn
tại chỗ.
- Vật nuôi và cây trồng: Là các loài có quá trình tiến hóa do tác động của con người.
- Hệ sinh thái: Là đồng tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý xung quanh
sinh vật nào là không cần thiết cho sự duy trì các quá trình sinh thái cơ bản trên trái đất.
Mỗi một sinh vật, bao gồm cả con người, là một phần của thiên nhiên và có quan hệ với mọi
sinh vât khác.
Sự sống phụ thuộc vào quá trình hoạt động liên tục của thiên nhiên nhằm đảm bảo nguồn
cung cấp năng lượng và dinh dưỡng. Thí dụ sự phá hủy rừng trên diện rộng làm thay đổi chu
trình cacbon, dẫn tới tăng hàm lượng cacbon trong khí quyển. Điều này sẽ tác động lên khi
hậu toàn cầu và ngược lại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng lên tính đa dạng sinh học và cuối
cùng lên con người.
c. Lý do kinh tế
Nhu cầu cuộc sống của con người như cơm ăn, nước uống, không khí để thở, nguyên vật liệu
để xây dựng, nhiên liệu để đun nấu, năng lượng,… đều do từ đa dạng sinh học mà có.
Một quốc gia có tính đa dạng sinh học thấp là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên
nhiên. Nguồn gen tự nhiên nghèo nàn không cho phép tạo nên những giống vật nuôi và cây
trồng có giá trò và có năng suất cao.
Một quốc gia có tính đa dạng sinh học cao và được bảo vệ sẽ là một quốc gia có cảnh quan
đẹp, tạo điều kiện cho các hoạt động nghỉ dưỡng và du lòch sinh thái rất tốt. Đó là những
nguồn lợi to lớn thu được nhằm bổ sung cho ngân sách quốc gia, tạo nên nhiều việc làm cho
người dân bản đòa góp phần xóa đói giảm nghèo. 54
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thế giới phát triển có nền công nghiệp hiện đại. Xã
hội đó đáp ứng cao hơn cho nhu cầu cuộc sống của con người, nhưng xã hội đó cũng sản
sinh ra những chất độc hại gây ô nhiễm bầu khí quyển, đầu độc nguồn nước, làm khô cằn
đất trồng trọt, gây nên nhiều bệnh tật. Loài người đang phải đối đầu với một thách thức lớn
đó là lượng khí CO
2
trong khí quyển đã và đang tăng gây lên sự gia tăng hiệu ứng nhà kính
làm nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên, băng tan ở hai cực, nước biển dâng cao đe dọa
đồi, hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái đô thò. Trong hệ sinh thái rừng có: Rừng
thường xanh, rừng nửa thường xanh, rừng rụng lá.
Bảng 6: Số liệu diện tích rừng Việt Nam tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2006
Loại rừng Tổng diện tích Rừng đặc dụng Rừng phòng hộ Rừng sản xuất
Đất có rừng 12.873.830ha 2.202.888 5.268.789 5.402.172
1-Rừng tự nhiên 10.410.141 3.086.935 4.599.900 3.723.305
2-Rừng trồng 2.463.709 115.953 668.889 1.678.867
+ Đa dạng các hệ sinh thái đất ngập nước: 55
Theo đònh nghóa được nêu trong công ước RAMSA, đất ngập nước là: “Các vùng đầm lầy,
than bùn hoặc vùng nước, bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có
nước chảy hay là nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả vùng biển với độ sâu
không quá 6m lúc triều thấp”.
Dựa theo bảng phân loại của công ước RAMSA thì ở Việt Nam có thể phân thành 39 kiểu đất
ngập nước, trong đó có 30 kiểu đất ngập nước tự nhiên (bao gồm 11 kiểu đất ngập nước ven biển,
19 kiểu đất ngập nước nội đòa) và 9 kiểu đất ngập nước nhân tạo.
+ Đa dạng các hệ sinh thái biển:
Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km
2
có tính đa dạng sinh học cao.
Các hệ sinh thái biển nuôi dưỡng trên 11 ngàn loài sinh vật, bao gồm 2500 loài cá biển
(trong đó có 130 loài có giá trò kinh tế cao), 225 loài tôm, hơn 500 loài thực vật phù du, hơn
700 loài động vật phù du, hơn 100 loài thực vật rừng ngập mặn, 15 loài cò biển và hơn 6000
loài động vật đáy không xương sống. Thêm vào đó, các hệ sinh thái biển còn chứa đựng 5
loài rùa biển, 15 loài rắn biển, 43 loài chim biển.
b. Đa dạng loài: Sự đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam dẫn đến sự đa dạng loài. Bảng số liệu
thống kê sau đây sẽ cho ta thấy rõ sự đa dạng đó:
Bảng 74: Thống kê số lượng loài có ở Việt Nam
5 loài thú mới là:
1) Sao la (Pseudoryx nghetinhensis)
2) Mang lớn (Muntiacus vuquangensis)
3) Mang Trường Sơn (Muntiacus trươngsơnensis)
4) Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea)
5) Thỏ vằn Trường Sơn (Nesolagus timminsi)
c. Đa dạng gen
Việt Nam là một trong những trung tâm thuần dưỡng về loài của thế giới. Trong quá trình trồng
trọt và chăn nuôi, loài người đã tạo ra nhiều giống cây trồng và vật nuôi quý, có năng suất cao và
chất lượng tốt. Các giống cây trồng ở Việt Nam có trên 700 loài thuộc 79 họ, trong mỗi loài có
nhiều giống khác nhau. Ví dụ chỉ riêng loài lúa nước,ngày nay ở nước ta đã có hàng chục giống.
Riêng các loại vật nuôi cũng có sự đa dạng cao:
Bảng 8: Thống kê số lượng các giống vật nuôi ở Việt Nam
Loài Số giống Ghi chú
Lợn
20
Trong đó có 14 giống nội
Bò
21 nt …..5 …nt……
Gà
27
……. nt….. 3 …nt …..
Vòt
10 ……. nt ... 5 … nt …..
Ngan
7
……. nt … 3 … nt …..
Ngỗng
5
……. nt … 2 … nt
Khai thác rừng bất hợp pháp cũng là một nguy cơ làm suy thoái chất lượng rừng ở Việt Nam.
Hàng năm, khối lượng lâm sản được khai thác bằng con đường này gần bằng khối lượng lâm
sản khai thác hợp pháp. Các hệ sinh thái rừng là bộ phận quan trọng nhất trong các hệ sinh
thái tự nhiên ở Việt Nam. Rừng không chỉ là nơi cung cung cấp lâm sản, rừng còn là sinh
cảnh của nhiều loài, vì vậy tàn phá rừng là tàn phá sinh cảnh của nhiều loài, làm suy thoái
đa dạng sinh học nghiêm trọng
- Khai thác bừa bãi thủy hải sản bằng mọi phương tiện có thể chính là mối đe dọa to lớn đối
với đa dạng sinh học biển. Đánh bắt thủy sản bằng điện, bằng hóa chất, bằng các loại lưới
có mắt không đúng kích cỡ ở biển đồng nghóa với sự hủy diệt tài nguyên biển đang diễn ra ở
nhiều nơi trên lãnh hải nước ta. Đánh bắt bằng mìn, ngoài vệc hủy diệt các loài cá còn kéo
theo sự tàn phá các rạn san hô, các bãi cỏ biển. Đánh bắt bằng xung điện từ các bình điện
nhỏ đã hủy diệt tất cả các loài sống trong môi trường nước ngọt như ao hồ, khe suối, kênh,
mương và đồng ruộng.
Thứ hai: Sự chia cắt hệ sinh thái. Tại các quốc gia đang phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng
luôn được ưu tiên, vì vậy hàng loạt các con đường, nhà mấy thủy điện, đập nước được xây
dựng, tất cả các công trình này đã chia cắt hệ sinh thái một cách nghiêm trọng làm cho các
quần thể động vật bò phân ra từng nhóm nhỏ. Sự phân cắt này ngăn cản sự tiếp xúc lẫn
nhau của các nhóm động vật, vì vậy việc tăng đàn là rất khó khăn; Hơn thế nữa, đường sá
đã giúp cho thợ săn dễ tiếp cận các nhóm động vật hơn và dễ dàng săn bắt chúng; điều
nguy hiểm dễ thấy ở loài voi hơn là nhiều quần thể voi nhỏ lẻ, voi đực dã bò thợ săn bắn chết
để lấy ngà, những quần thể đó chắc chắn sẽ bò tuyệt diệt vì voi cái không thể sinh sản được.
Việc chia cắt hệ sinh thái dòng sông bằng các đập thủy điện đã ngăn cản những loài cá di
chuyển trong mùa sinh sản làm cho nhiều loài cá đứng trên bờ tuyệt diệt. Để khắc phục tình
trạng này, một số công trình thủy điện đã xây dựng đường di chuyển riêng cho cá.
Thứ ba: mất sinh cảnh tự nhiên. Việc tăng diện tích các loại cây trồng trong nông nghiệp đã
từng bước làm mất đi nhiều sinh cảnh tự nhiên. Các chương trình phát triển cây công nghiệp
như café, cao su, ca cao… đã làm cho hàng trăm ngàn ha rừng tự nhiên biến mất, nhiều loài
động vật không còn nơi cư trú. Xung đột voi – người là một hậu quả cụ thể của tình trạng đó.
Gia tăng diện tích đất nông nghiệp còn do áp lực của gia tăng dân số. Từ năm 1979 đến
năm 2004, dân số Việt Nam đã tăng hơn 1,5 lần từ 52,7 triệu người lên tới 81,6 triệu người,
nghiệp và công nghiệp đe dọa các hệ sinh thái trên đất liền và dưới nước. Nhận thức hiện
nay về môi trường của cộng đồng thế giới xuất phát từ chính những tác hại do nạn ô nhiễm
gây ra đối với loài chim.
5. Một số giải pháp bảo vệ đa dạng sinh học
Nội dung cơ bản của bảo tồn đa dạng sinh học là bảo tồn loài. Bảo tồn loài được tiến hành theo
hai phương pháp: bảo tồn tại chỗ (in situ) hoặc bảo tồn chuyển chỗ (ex situ) hoặc có thể kết
hợp cả hai trong một chương trình quản lý các loài hoang dã.
a. Bảo tồn nguyên vò (in-situ):
Bảo tồn nguyên vò là giải pháp nhằm mục đích bảo vệ các loài, sinh cảnh và các hệ sinh
thái trong điều kiện tự nhiên có ý nghóa rất quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh
học. Thông thường bảo tồn nguyên vò được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn
thiên nhiên. Vườn quốc gia Yellow Stone của Mỹ là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên trên thế
giới, được thành lập năm 1872. Mục tiêu được thành lập để giữ nguyên vẹn trạng thái tự
nhiên vùng cao nguyên miệng núi lửa ở độ cao 2.400m và cứu vãn sự tiêu diệt của các loài
thú hoang dã như Bò rừng, Gấu đen, Gấu xám, Hươu, Hải ly...và hơn 200 loài chim như Thiên
nga mỏ rộng, Bồ nông, Đại bàng. Một số Vườn quốc gia ở Mỹ được hình thành chủ yếu để
bảo tồn hàng loạt sinh cảnh của động - thực vật hoang dã. ở Florida có Vườn quốc gia
Everglades rộng 4856 km2, là nơi sống của hàng loạt động vật từ loài chim cắt hiếm đến
loài cò thìa, cá sấu Alligator...
Việc bảo tồn đa dạng sinh học của thế giới chỉ có thể thực hiện được thông qua việc gìn giữ
các cá thể sinh vật ở dạng hoang dã trong môi trường tự nhiên của chúng. Phương pháp này
duy trì được tiềm năng tiến hóa của cá thể sinh vật vì đã tạo điều kiện cho chúng tiếp tục
thích nghi với động thái của môi trường. Phương pháp này cũng cho phép sử dụng tài
nguyên thiên nhiên thông qua một chương trình quản lý thích hợp. 59
b. Bảo tồn chuyển vò (Ex- situ)
Bảo tồn chuyển vò bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi
môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu
c. Thiết lập hệ thống khu bảo tồn.
Phương pháp tốt nhất để bảo tồn đa dạng sinh học là giành riêng những khu vực chỉ làm
chức năng bảo tồn sinh vật hoang dã cùng sinh cảnh của chúng, đó là việc xây dựng các
khu bảo tồn. Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) đã khuyến nghò các quốc gia nên
giành khoảng 10% diện tích lãnh thổ của quốc gia mình vào mục đích bảo tồn. Việt Nam đã
giành 2.202.888 ha tương đương 7% diện tích lãnh thổ của mình để sử dụng vào mục đích
bảo tồn. Đó là chưa kể diện tích các khu bảo tồn biển. Hệ thống khu bảo tồn phải được bố