i
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kiến thức và xác định một số
yếu tố liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2
đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 171 người bệnh đái tháo
đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên.
Kết quả:64.9% đối tượng nghiên cứu có kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo
đường type 2 ở mức trung bình; 19.9% ở mức tốt và 15.2% ở mức kém. Điểm trung
bình là 25.57 ± 3.259; thấp nhất 18 điểm và cao nhất là 33 điểm.
Kết luận:Đối tượng nghiên cứu có kiến thức ở mức trung bình (67.3% ± 8.58%).
Người bệnh cịn thiếu kiến thức trong việc theo dõi, phát hiện và cách xử trí khi có
biến chứng và chế độ ăn uống đặc biệt là cách phân loại và lựa chọn thực phẩm.
Qua nghiên cứu nhận thấy có 3 yếu tố liên quan đến kiến thức của người bệnh bao
gồm: trình độ học vấn, thời gian bị bệnh và tiếp cận thông tin về chăm sóc bệnh.
Từ khóa: Kiến thức, tự chăm sóc, đái tháo đường type 2.
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lịng thành kính, tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường
Đại học Điều dưỡng Nam Định, Phòng Đào tạo Sau Đại học và cácthầy giáo, cô
giáo của trường đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tơi học tập vàhồn thành
luận văn. Trong q trình thực hiện luận văn tơi đã nhận được sự giúp đỡnhiệt tình
và sự động viên của cơ quan, các cấp lãnh đạo và nhiều cá nhân. Tôixin chân thành
cảm ơn tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôitrong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Trước tiên tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Nguyễn Minh
Tuấn vàTS. Ngơ Huy Hồng, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn và động
iv
MỤC LỤC
TÓM TẮT .....................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. ii
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... iii
MỤC LỤC .................................................................................................................. iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG .........................................................................................vii
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................ 4
1.1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam ........................................... 4
1.2. Đái tháo đường ................................................................................................... 6
1.2.1. Định nghĩa ....................................................................................................... 6
1.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường .............................................................. 7
1.2.3. Biến chứng của đái tháo đường........................................................................ 7
1.3. Gánh nặng của đái tháo đường ......................................................................... 10
1.4. Tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2 ......................................................... 11
1.4.1. Sử dụng thuốc................................................................................................ 12
1.4.2. Chế độ dinh dưỡng ........................................................................................ 13
1.4.3. Hoạt động thể chất ......................................................................................... 14
1.4.4. Tự theo dõi đường máu ................................................................................. 16
1.4.5. Phòng tránh nguy cơ biến chứng.................................................................... 17
1.5. Mức độ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 .............. 17
1.6. Khung lý thuyết ................................................................................................ 19
1.7. Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu .......................................................... 19
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 22
Hội đái tháo đường Mỹ
BMI
Body Mass Index
Chỉ số khối cơ thể
HbA1C Glycated Hemoglobin
Hemoglobin được glycate hóa
(Hemoglobin gắn kết với đường máu)
IDF
International Diabetes Federation
Liên đồn đái tháo đường quốc tế
USD
United States dollar
Đô la Mỹ
WDF
World Diabetes Foundation
29
3.3
Người cùng sống và bảo hiểm y tế của đối tượng nghiên cứu
30
3.4
Tần suất khám sức khỏe định kỳ của đối tượng nghiên cứu
30
3.5
Thời gian bị đái tháo đường type 2 của đối tượng nghiên cứu
31
3.6
Kiến thức về chế độ ăn của người bệnh tham gia nghiên cứu
32
3.7
Kiến thức về dùng thuốc của người bệnh tham gia nghiên cứu
37
38
39
3.13
Sự liên quan giữa giới của đối tượng và mức độ kiến thức
41
3.14
Sự liên quan giữa dân tộc của đối tượng và mức độ kiến thức
41
3.15
Sự liên quan giữa trình độ học vấn và mức độ kiến thức của
đối tượng
3.16
Sự liên quan giữa nguồn tiếp nhận thông tin của đối tượng
và mức độ kiến thức
3.17
Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
28
3.3
Phân bố khu vực sống của đối tượng nghiên cứu
29
3.4
Sự tương quan giữa tuổi và mức độ kiến thức của đối tượng
40
3.5
Sự tương quan giữa thời gian bị bệnh và mức độ kiến thức
của đối tượng
43
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường type 2 là một bệnh mạn tính khơng lây liên quan đến chế độ
Muốn phòng ngừa được các biến chứng nguy hiểm và quản lý hiệu quả bệnh
đái tháo đường, người bệnh phải tham gia tích cực trong việc tự chăm sóc của bản
thân bao gồm thay đổi lối sống (kiểm soát chế độ ăn uống, tập thể dục thường
xuyên, kỹ năng đối phó tâm lý xã hội) và tự chăm sóc y tế (sử dụng thuốc và tự theo
dõi đường máu). Tự chăm sóc thích hợp và duy trì sẽ làm giảm biến chứng, kéo dài
tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống[14]. Việc tăng mức độ nghiêm trọng của
bệnh đái tháo đường mỗi năm có liên quan đến sự thiếu kiến thức và thực hành tự
chăm sóc thích hợp. Một người bệnhthu nhận được thơng tin tốt sẽ có lợi thế tốt
nhất để đạt được và duy trì kiểm sốt yếu tố nguy cơ đường máu và tim mạch
[38]. Do đó, kiến thức tự chăm sóc kém có thể gây ra việc thực hành kiểm sốt
chuyển hóa dài hạn kém dẫn đến sự phát triển của bệnh đái tháo đường.
Với những hiệu quả tích cực như trênthì kiến thức tự chăm sóc trong đái tháo
đường được coi là một phần thiết yếu của quản lý lâm sàng bệnh. Việc xác định
những thiếu hụt về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 là
cần thiết. Điều này sẽ góp phần xây dựng nội dung cần cung cấp, giáo dục cho
người bệnh nhằm nâng cao thực hành tự chăm sóc của người bệnh, nỗ lực phịng
ngừa biến chứng và có thể tạo điều kiện cho các can thiệp cụ thể theo nhu cầu của
người bệnh.Bên cạnh đó, tại tỉnh Điện Biên chưa có nghiên cứu nào nhằm đánh giá
kiến thức của người bệnh đái tháo đường và xác định những thiếu hụt trong kiến
thức của họ. Vì vậy, tôi tiến hành đề tài“Đánh giá kiến thức tự chăm sóc của
người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên năm
2016”.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 đang
điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên.
2040 số người mắc đái tháo đường sẽ là 642 triệu. [37]
Theo cảnh báo của Quỹ đái tháo đường Thế giới (WDF), sự gia tăng bệnh đái
tháo đường ở các nước phát triển là 42% từ 51 triệu lên 72 triệu người nhưng ở các
nước đang phát triển lại lên tới 170% từ 84 triệu lên 228 triệu người. Trong đó chủ
5
yếu là đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 85 - 95% tổng số người mắc bệnh đái
tháo đường. [45]
Đứng đầu danh sách trên thế giới về số lượng người mắc đái tháo đường là ba
nước Trung Quốc, Ấn Độ và Mĩ với số lượng lần lượt là 109.6 triệu, 69.2 triệu và
29.3 triệu. Tiếp theo là các nước Brazil, Nga, Mexico, Indonesia, Ai Cập, Nhật Bản
và Bangladesh. [37]
Số lượng người mắc đái tháo đường ở khu vực Đông Nam Á tương đối cao,
78.3 triệu người, xếp thứ 2 trong bảy khu vực trên toàn thế giới chỉ sau Tây Thái
Bình Dương là 153.2 triệu người. Theo kết quả điều tra quốc gia năm 2008 tại
Philippine tỷ lệ đái tháo đường là 7.2 %. Tỷ lệ đái tháo đường khu vực thành thị là
8.3% và khu vực nông thôn là 5.8% [28]. Tại Indonesia là 5.7% [20].
Đái tháo đườnghiện nay là một vấn đề sức khỏe toàn cầu phổ biến và nghiêm
trọng. Đặc biệt đối với hầu hết các nước đã phát triển gắn với những thay đổi nhanh
chóng về văn hóa và xã hội, dân số lão hóa, tăng đơ thị hóa, thay đổi chế độ ăn
uống, giảm hoạt động thể chất và lối sống không lành mạnh.
Ở Việt Nam số người bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng, khơng
chỉ ở khu vực thành thị mà cịn ở các khu vực miền núi và nông thôn.
Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ người bệnh đái tháo đường năm 1990 là
2.5%, năm 2001 là 3.7% đến năm 2012 là 6.9%, mức cao nhất trong cả nước. Tỷ lệ
mắc bệnh đái tháo đường tại Hà Nội năm 1990 là 1.2% đến năm 2000 là 4% dân số
và 7% ở độ tuổi trên 35 [7].
Theo Trần Minh Long, năm 2010, nghiên cứu tại Nghệ An, tỷ lệ đái tháo
1.2.1. Định nghĩa
Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA)định nghĩa:“Đái tháo đường là bệnh chuyển
hóa đặc trưng bởi tăng đường máu do sự phối hợp giữa kháng insulin và thiếu đáp
ứng insulin”. [13]
Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) định nghĩa: “Đái tháo đường là một
bệnh mạn tính xảy ra khi cơ thể không thể sản xuất đủ insulin hoặc không thể sử
dụng insulin, và được chẩn đoán bằng cách đánh giá mức độ tăng glucose trong
máu. [37]
7
Đái tháo đường type 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin,
một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng
bệnh.
1.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường[3],[13]
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường theo IDF năm 2015 dựa vào một
trong các tiêu chí:
- Mức đường máu tương lúc đói ≥7.0mmol/l (≥126mg/dl). (Lúc đói được xác
định là khơng dung nạp calo trong 8 giờ).
Hoặc:
- Mức đường máu tương ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau
nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống. (Thực hiện như mô tả của Tổ
chức Y tế Thế giới, sử dụng đường có chứa tương đương với glucose khan 75g hịa
tan trong nước).
Hoặc:
- HbA1c ≥ 6.5%
Hoặc:
- Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức đường máu tương ở
thời điểm bất kỳ ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl).
chức năng nội mạc mạch máu. Lớp nội mạc là lớp tế bào trong cùng của thành
mạch, nơi tiếp xúc trực tiếp giữa thành mạch và các thành phần của máu. Khi chức
năng nội mạc bị rối loạn, nó sẽ làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua
lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế
bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc. Từ đó sẽ hình thành mảng vữa xơ động mạch,
hoặc mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch,
gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ
chức. Ngoài ra, khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương, sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho
sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết
khối trong lịng mạch làm tắc mạch cấp tính, gây nên các biểu hiện lâm sàng của
thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi
máu cơ tim, nhồi máu não...đe doạ nghiêm trọng tính mạng người bệnh.
Cách phịng ngừa: Kiểm sốt tốt các chỉ số đường máu, mỡ máu và huyết áp
trong giới hạn cho phép cùng với chế độ ăn, tập luyện khoa học.
9
- Biến chứng thần kinh:
+ Bệnh thần kinh ngoại biên: Ảnh hưởng đến những dây thần kinh: cảm
nhận được cảm giác như đau, nóng hoặc tiếp xúc và thần kinh kiểm soát vận động,
di chuyển cơ bắp.
+ Bệnh thần kinh tự chủ: Ảnh hưởng đến dây thần kinh kiểm soát hoạt động
tự chủ như nhịp tim, nhịp thở, tuyến tiết (mồ hơi, dịch tiết)…
Cách phịng ngừa: Kiểm sốt tốt đường máu, vệ sinh và chăm sóc bàn chân
đúng cách hàng ngày là cách tốt nhất để phòng ngừa biến chứng.
- Biến chứng ở thận:
Lượng đường trong máu cao gây tổn thương tới hàng triệu vi mạch (mạch máu
nhỏ) tại thận, làm suy giảm chức năng lọc, bài tiết của thận, nặng hơn là dẫn đến
suy thận khơng hồi phục.
dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [42].
- Tỷ lệ của bệnh lý võng mạc ở người có bệnh đái tháo đường là 35%. Bệnh
võng mạc đái tháo đường gây ra 1.9% trường hợp khiếm thị trên toàn cầu và 2.6%
trường hợp mù trong năm 2010.
- Theo số liệu tổng hợp từ 54 quốc gia cho thấy ít nhất 80% các trường hợp
bệnh thận giai đoạn cuối gây ra bởi bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc sự kết
hợp của hai bệnh. Tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối do bệnh đái tháo đường nằm trong
khoảng 12-55%. Tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối ở người bệnh đái tháo đường cao
gấp 10 lần so với người khơng có bệnh.
- Người có tiền sử bệnh đái tháo đường có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch cao hơn 23 lần người không bị đái tháo đường.
- Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị cắt cụt chi dưới do bị nhiễm khuẩn
không được chữa trị đúng cách. Tỷ lệ cắt cụt chi trong quần thể người bệnh đái tháo
đường cao hơn 10-20 lần so với các quần thể không bị đái tháo đường. [56]
Đái tháo đường là một thách thức kinh tế lớn đối với hệ thống y tế quốc gia, cá
nhân và nền kinh tế nói chung. Người ta ước tính rằng chi phí chăm sóc sức khỏe
cho bệnh đái tháo đường chiếm từ 3 đến 11.6% tổng chi tiêu y tế trên thế giới trong
dự toán 2010. Một vài ước tính chỉ ra rằng việc ngăn ngừa và điều trị các biến
chứng bệnh đái tháo đường liên quan sẽ tăng lên 379 tỷ USD năm 2010 lên hơn 490
11
tỷ USD. Trong số các dự tốn chi phí điều trị bệnh đái tháo đường và phịng chống,
80% chi phí từ các nước phát triển, các nước trung bình và kém phát triển chiếm ít
hơn 20%. Các ước tính hơn nữa cho thấy chi phí sẽ khác nhau tùy theo độ tuổi và
giới tính, ba phần tư chi tiêu của thế giới trong năm 2010 đã được sử dụng cho
những người trong nhóm tuổi từ 50 đến 80 năm [35]. Ngồi ra, chi phí chăm sóc
bệnh đái tháo đường cho phụ nữ cao hơn nam giới [35],[45].
1.4. Tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2
Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có định nghĩa khác nhau. Trong số
sóc khơng phải sẽ ln ln dẫn đến kiểm sốt chuyển hóa xứng đáng nhưng tự
chăm sóc kém thì sẽ có nhiều khả năng dẫn đến kiểm sốt chuyển hóa kém
[55].Nghiên cứu được thực hiện bởi Nauck và cộng sự chứng minh rằng việc chăm
sóc bệnh đái tháo đường nên được đặt vào từng cá nhân bao gồm theo dõi đường
máu, tuân thủ điều trị và lối sống lành mạnh [47].
Các hành vi tự chăm sóc thiết yếu ở những người bị bệnh đái tháo đường mà
dự đoán kết quả tốt bao gồm sử dụng thuốc phù hợp, chế độ ăn uống lành mạnh,
hoạt động thể lực, phòng tránh nguy cơ biến chứng vàtheo dõi lượng đường trong
máu[16].Tất cả những hành vi đã được tìm thấy có mối tương quan tích cực với
kiểm sốt tốt đường máu, giảm các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Cá nhân bị bệnh đái tháo đường đãđược chứng minh có một tác động đáng kể vào
giảm sự phát triển của bệnh bằng cách tham gia tự chăm sóc. Nhận thấy tính chất đa
diện của vấn đề, một cách có hệ thống, đa hướng và một cách tiếp cận tích hợp là
cần thiết cho việc thúc đẩy thực hành tự chăm sóc ở người bệnh đái tháo đường để
ngăn chặn biến chứng lâu dài.
1.4.1. Sử dụng thuốc
Nền tảng của quản lý đái tháo đường là lối sống. Tuy nhiên, nó khơng đủ để
kiểm sốt lượng đường trong máu, do đó khuyến nghị về các loại thuốc uống hạ
đường máu hoặc insulin được đề cập trong phối hợp với một lối sống lành mạnh.
Sử dụng thuốc cho người bệnh đái tháo đường type 2 có thể tạo điều kiện kiểm
sốt tuyệt vời với khả năng bình thường hóa đường máu của insulin và giảm
HbA1C từ 0.5-2% khi sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường uống [46].
13
Một số yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến sự tuân thủ dùng thuốc là sự phức tạp
của các phác đồ [37], tác dụng phụ của thuốc, mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm
cảm [29] và thiếu niềm tin của các người bệnh vào những lợi ích trước mắt và trong
tương lai của thuốc.
bánh mì đen, ngơ, khoai lang... Lượng carbohydrate tối thiểu hàng ngày khoảng 130
gam, nhưng không vượt quá 60% tổng số năng lượng.
- Đạm khoảng 1-1.5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy giảm chức
năng thận. Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần.
- Nên chú trọng dùng các loại chất béo chứa acid béo không bão hịa như dầu
ơ liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá.
- Hạn chế muối < 6 gam/ ngày.
- Thực hiện ăn chậm, nhai kỹ. Một ngày nên ăn4- 6 bữa. Nếu do điều kiện lao
động và sinh hoạt chỉ ăn được 3 bữa/ngày năng lượng phân phối như sau:
+ Bữa sáng: 20% năng lượng.
+ Bữa trưa: 40% năng lượng.
+ Bữa tối : 40% năng lượng.
1.4.3. Hoạt động thể chất
Tập thể dục đều đặn đã được chứng minh cải thiện kiểm soát đường máu,
giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch và góp phần giảm cân. Người bệnh đái tháo
đường nên hoạt động thể chất ít nhất 150 phút mỗi tuần với cường độ vừa phải. Một
nghiên cứu đã chứng minh tập thể dục ít nhất 8 tuần có thể làm giảm HbA1C thấp
hơn 0.66% ở những người bị bệnh đái tháo đường type 2[26]. Cường độ tập thể dục
có liên quan với những thay đổi trong HbA1C [27].
Cần chọn những hoạt động dễ thực hiện và trở thành thói quen hàng ngày,
thuận lợi thời gian để duy trì hoạt động. Một số hình thức tập luyện sức bền phổ
biến:
- Đi bộ sức khỏe: Trong số các loại hình thể dục thể thao củng cố và nâng cao
sức khoẻ thì đi bộ nhanh có vị trí quan trọng và có tính đại chúng cao, đặc biệt là
đối với những người cao tuổi. Đi bộ có ảnh hưởng tốt lên tồn bộ cơ thể, đặc biệt là
đối với hệ thống tim mạch, hô hấp, giảm cân, chữa bệnh cường độ vận động phụ
thuộc vào số bước chân trong 1 phút:
Rất chậm, từ 60 đến 70 bước trong một phút (2.5-3km/giờ)
tiêu hao năng lượng khi bơi cao hơn khoảng 4 lần so với đi bộ cùng tốc độ (3
16
kcal/kg/km; 0.7 kcal/kg/km tương đương). Như vậy, tập bơi là một phương pháp
tuyệt vời để giảm cân. Để đạt được hiệu quả rèn luyện sức khoẻ của tập bơi, cần
phải phát triển tốc độ bơi đủ lớn để mạch đập đạt trên 130 lần/phút, tập bơi 3
buổi/tuần, mỗi buổi khoảng 30 phút. [12]
- Thể dục nhịp điệu: tập thể dục nhịp điệu giúp cơ thể sử dụng insulin tốt hơn,
làm giảm stress, cải thiện lưu thông máu và làm giảm nguy cơ bệnh tim bằng cách
hạ thấp lượng đường trong máu và huyết áp.
Để đạt được hiệu quả củng cố, nâng cao sức khoẻ và can thiệp bệnh tật, người
bệnh cần phải tham gia tập luyện thường xuyên, tối thiểu 5 ngày một tuần và mỗi
lần 30 phút với cường độ phù hợp với lứa tuổi của mình, với yêu cầu có khơng dưới
2/3 số cơ của cơ thể tham gia vào quá trình vận động. Với đối tượng tập luyện từ 40
tuổi trở lên, đối tượng mới bắt đầu tập hoặc sau khi nghỉ tập trong một thời gian dài
cần phải tập với cường độ 130-140 nhịp/phút. [12]
Lựa chọn hoạt động để thực hiện thành cơng một chương trình rèn luyện cần
lựa chọn một hoạt động hoặc những hoạt động phù hợp cho bản thân, thuận lợi về
thời gian và những lợi ích gì sẽ thu được từ hoạt động.
1.4.4.Tự theo dõi đường máu[10]
Tự theo dõi đường máulà rất cần thiết ở người bệnh đái tháo đường.Tự theo
dõi đường máu sẽ giúp người bệnh kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường,cho phép
người bệnh đánh giá phản ứng của cá nhân người bệnh với điều trị và chăm sóc và
giúp người bệnh tự đánh giá các mục tiêu trong tự chăm sóc của họ có đạt được hay
khơng. Ngồi ra, tự theo dõi đường máu còn giúp người bệnh phòng ngừa các biến
chứng, phòng ngừa hạ đường máu, phòng ngừa hôn mê do tăng đường máu…
Để làm được việc này, trước hết người bệnh đái tháo đường cần có một máy
đo đường máu cá nhân. Những máy này rất nhỏ gọn, dễ sử dụng và có thể đem theo
việc giảm và làm chậm tiến triển của bệnh võng mạc và bệnh thận ở những người
bệnh này [41]. Người bệnh bị bệnh đái tháo đường type 2 nên được sàng lọc những
biến chứng khi chẩn đoán và trải qua theo dõi tùy thuộc vào sự tiến triển của bệnh.
1.5. Mức độ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2
Mức độ kiến thức của người bệnh đái tháo đường type 2 đã được nghiên cứu
rộng rãi ở các vùng khác nhau và các thiết lập lâm sàng. Al-Adsani và cộng sự đã
đánh giá mức độ kiến thức của người bệnh đái tháo đường và các yếu tố liên quan