PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM Ở CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ.
A: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ Ở CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ CÓ
ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ỔN ĐỊNH VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ở CÔNG TY BÁNH KẸO
HẢI HÀ
1. Giới thiệu chung về công ty.
Công ty bánh kẹo Hải Hà gọi tắt là (HAIHACO), địa chỉ 25 đường Trương
Định – Hà Nội, là một doanh nghiệp Nhà nước chuyên sản xuất và tiêu thụ các loại
bánh kẹo để phục vụ cho mọi tângf lớp nhân dân và xuất khẩu sang một số nước.
Hải Hà là một công ty nằm trong kế hoạch Phát triển lâu dài của nghành bánh kẹo
Việt Nam. Sản phẩm của công ty đã trở thành người bạn quen thuộc của nhiều
thành phố và địa phươngar các tỉnh phía bắc nước ta. Bên cạnh đó, một số sản
phẩm của công ty đã có mặt ở một số nước như: Liên Xô cũ, Hungari, Tiệp Khắc,
Mông cổ...
Từ khi nền kinh te nước ta chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang nề kinh te thị trường có sự quản lý của nhà nước, công ty bánh kẹo Hải Hà đã
kịp thời thích ứng và phát huy mọi khả năng để giữ vững uy tín trên thị trường,
đông thời thực hiện tốt công tác quản lý sản xuất, đổi mới công nghệ, cải tiến cách
thức bán hành đã từng bước đưa công ty lớn mạnh và đứng vữngtrên thị trường.
Một điều chắc chắn là các sản phẩm của công ty bánh kẹo Hải Hà với nhiều mẫu
mã đẹp, hấp dẫn chủng loại và mặt hàng phong phú, chất lượng cao sẽ có mặt ở
nhiều nới trong nước và nước ngoài.
2. Các giai đoạn hình thành và phát triển.
2.1. Giai đoạn 1960 –1970.
Công ty bánh kẹo Hải Hà thành lập ngày 25/12/1960, lúc đầu là xí nghiệp
sản xuất miến Hoàng Mai thuộc tổng công ty thổ sản miền bắc ( sau này thuộc bộ
công nghiệp nhẹ), sau đó, xí nghiệp đã sản xuất thành công các loại mặt hàng khác
như xì dầu và thành lập phân xưởng sản xuất chế biến tinh bột ngô, cung cấp
nguyên liệu cho nhà máy in văn điển.
Thực hiện chủ trương của bộ công nghiệp nhẹ, từ năm 1966 Viện thực phâm
1. Xí nghiệp kẹo
2. Xí nghiệp bánh+
3. Xí nghiệp thực phẩm Việt trì
4. Xí nghiệp phụ trợ
5. Xí nghiệp dinh dưỡng Nam định
Trong quá trình phát triển Công ty đã liên doanh với các công ty nước ngoài:
- Năm 1993 Công ty đã liên doanh với Công ty Kotobuki (Nhật bản) thành
lập liên doanh Hải Hà - Kotobuki
Với tỷ lệ vốn góp như sau: + Bên Việt Nam 30%(12 tỷ đồng)
+ Bên Nhật bản 70%(28 tỷ đồng)
- Năm 1995 thành lập liên doanh MIWON (Dài loan) tại Việt trì với số vốn
góp của Hải Hà là 11 tỷ đồng.
- Năm 1996 thành lập liên doanh Hải Hà - Kameda tại Nam định với số vốn
góp của Hải Hà là 4,7 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến năm 1998 do hoạt động không có
hiệu quả nên đã giải thể liên doanh Hải Hà - Kameda.
Thực hiên nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của ban chấp hành Trung ương
Đản cộng sản Việt Nam đề ra vấn dề “ công nghiệp hoá hiện đại hoá đát nước”
Công ty bánh kẹo Hải Hà đã xác định được phương hướng và nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh trong thời kỳ này như sau:
+ Tăng cường đầu tư chiều sâu với mục đích không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm nhằm
mở rộng thị trường từ thành thị đến nông thôn, từ trong nước đến thị trường nước
ngoài, đủ sứccạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, phát triển các loại mặt hàng
mới nhất là các loại mặt hàng có chất lượng cao.
+ Xây dựng chiến lược công nghệ sản xuất bánh kẹo và một số sản phẩm
khác đến năm 2001 – 2020. Tăng cường công tác cải tiến đổi mới công nghệ nâng
cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh.
+ Xác định rõ thị trường chính, thị trường phụ, tập trung nghiên cứu mở
rộng thêm thị trường mới, chú trọng hơn nữa đến thị trường xuất khẩu, đặc biệt là
thị trường các nước láng riềng. Củng cố và Phát triển thị trường Trung Quốc và
Hải H - Kotobukyà
Miwon Việt Nam
XN bánh
XN kẹo
XN phụ trợ
XN
th nh phà ố
Việt Trì
XN đinh dường Nam Định
Hệ thống phòng ban
PX bánh biscuit
PX l m bà ột gạo
PX kẹo cứng
PX kẹo mền
PX kẹo gốm
PX giấy bột
PX cơ khí
PX kẹo các loại
PX kẹo Jelly
PX bánh kem xốp
Trong đó:
- xí nghiệp bánh gồm 3 phân xưởng: Phân xưởng bánh kem xốp, phân xưởng
bánh Biscuit, phân xưởng làm bột gạo.
- Xí nghiệp kẹo gồm 3 phân xưởng: phân xưởng kẹo cứng, phân xưởng kẹo
mềm và phân xưởng kẹo gôm.
- Xí nghiệp phụ trợ chuyên sữa chữa máy móc và thiết bị, chế biến một số
nguyên vật liệu như bột giấy.
- Xí nghiệp Việt trì ben cạnh phân xưởng sản xuất kẹo các loạicòn có phân
xưởng sản xuất kẹo Jelly khuôn và Jelly cốc.
- Những quyết định quản lý do các phòng chức năng nghiên cứu đề xuất khi
được thủ trưởng thông qua biến thành mệnh lệnh được truyền đạt từ trên xuống
theo tuyến đã định. Các phòng chức năng có trách nhiệm tham mưu
- Phòng kinh doanh có nhiệm vụ:
+ Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và xây dựng giá thành sản phẩm ( Quý,
năm... )
+ Điêù độ sản xuất và thực hiện kế hoạch
+ Cung ứng vật tư sản xuất, cân đối kế hoạch thu mua ký hợp đồng thu mua
vật tư thiết bị.
+ Ký hợp đồng và theo dõi thực hiện hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
+ Tổ chức hoạt động Marketing từ quá trình sản xuất đến quá trình tiêu thụ,
thăm dò thị trường quảng cáo.
+ Lập kế hoạch phát triển những năm sau.
- Phòng kỹ thuật sản xuất có nhiệm vụ
+ nghiên cứu ký thuật cơ điện, công nghệ
+ nghiên cưu chế tạo sản phẩm mới
+ theo dõi và thực hiện các quy trình công nghệ
+ Đẩm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Văn phòng có nhiệm vụ
+ Tính lương thưởng cho cán bộ công nhân viên
+ Tuyển dụng lao động
+ Phụ trách vấn đề bảo hiểm, an toàn lao động và vệ sinh công nghệ
+ Phục vụ tiếp khách
- Phòng tài vụ có nhiệm vụ
+ Huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
+ Trả lương cho cán bộ công nhân viên
- Ban bảo vệ, nhà ăn y tế có nhiệm vụ bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức
bữa ăn giữa ca và chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên
- Ngoài ra công ty còn có hệ thống cửa hàng có chức năng giới thiệu và tiêu
thụ sản phẩm. Hệ thống nnhà kho có chức năng sự trữ nguyên vật liệu, trang thiết
1. Đặc điểm về máy móc quy trình công nghệ
1.1. Đặc điểm về máy móc.
Mặt hàng chính của Công ty là bánh và kẹo. Trong đó xí nghiệp kẹo gồm ba
phân xưởng : phân xưởng kẹo cứng, phân xưởng kẹo mềm và phan xưởng kẹo
gôm. Còn xí nghiệp bánh gồm ba phân xưởng bánh BisCuit, phân xưởng bánh kem
xốp , phân xửng bột gạo
Trước năm 1993, phần lớn máy móc thiết bị trong các phân xưởng sản xuất
là nhập từ các nước Đông âu , do đó năng suất lao động chưa cao, chất lượng chưa
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, gặp khó khăn trong cạnh tranh với các
Công ty sản xuất trong và ngoài nước. Trước thực tế đó từ trước năm 1993, Công
ty đã nhập các dây chuyền hiện đại đưa vào sản xuất đó là :
- Năm 1993 Công ty ký hợp đồng nhập một dây chuyền sản xuất bánh
Biscuits của Đan mạch trị giá 1000000 USD
- Năm 1994 nhập một dây chuyền sản xuất bánh Cracker của ý trị giá
950000 USD
- Năm 1995 nhập hai máy gói kẹo mềm trị giá 400000 USD và hai máy gói
kẹo của Đài loan vào sản xuất kẹo cuứng nhãn Tây du ký .
Thống kê năng lực sản xuất của Công ty Bánh kẹo Hải Hà
STT Tên thiết bị Công suất
(tấn/năm)
Trình độ trang bị
1
2
3
4
5
6
7
Dây truyền sản xuất bánh biscuis
cứng (Đan mạch)
Máy móc thiết bị của Công ty còn đang được sử dụng
ST
T
Tên máy móc thiết bị Số
lượng
Nước sản xuất Năm
SX
1 Máy chộn nguyên liệu 1 Trung Quốc 1960
2 Máy quạt kẹo 1 Trung Quốc 1960
3 Máy cán 12 Trung Quốc 1960
4 Máy cắt 2 Việt Nam 1960
5 Máy ràng 2 Việt Nam 1960
6 Máy nâng khay 1 Việt Nam 1960
7 Máy giấy bột 21 Trung Quốc 1960
8 Máy trong XN phụ trợ 1 TQ-VN-Triều tiên 1960
9 Máy sấy WKA4 1 Ba Lan 1966
10 Nòi hoà đường CK22 1 Ba Lan 1977
11 Nồi nấu liên tục sản xuất kẹo cứng 1 Ba Lan 1978
12 Nồi nấu nhân CK22 1 Ba Lan 1978
13 Nồi nấu kẹo mền CWA20 1 Đài Loan 1979
14 Dây truyền sản xuất kẹo cứng có nhân 1 Ba Lan 1980
15 Dây truyền sản xuất kẹo cứng đặc 1 Ba Lan 1980
1.2. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Do đa dạng hoá sản phẩm, mỗi chũng loại bánh, kẹo có một chu trình sản
xuất thích hợp , mặc dù có nhiều chũng loại nhưng có thể gộp thành 3 chủng loại
chính là: Kẹo cứng, Kẹo mềm và Bánh các loại.
Sơ đồ 1: Quy trình công nghệ sản xuất kẹo mềm
Đường kính, mật, tinh bột
Ho tanà
Lọc
Đánh trộn
Máy dập hình
Bánh nướng
Băng tải nguội
Đóng túi
Xếp hợp thành phẩm
Việc phải mua hầu hết nguyên liệu sẽ gây khó khăn cho công ty vì phải phụ
thuộc vào nhà cung ứng. Để khắc phục tình hình trên Công ty đã tính toán mua
sắm nguyên vật liệu để luôn có lưọng dự trữ phù hợp nhằm đảm bảo sản xuất đựơc
tiến hành liên tục và phòng khi có sự cố xảy ra từ phí nhà cung ứng. Công ty đã
cung ứng sử dụng nguyên liệu thay thế để giảm bớt chi phí sản xuất mà chất lượng
vẫn đảm bảo như dùng váng sữa thay cho sữa để chất lượng kẹo vẫn cao nhưng
giá thành lại hạ. Hải hà đã xây dựng đươc hệ thống định mức nguyên liệu, cố gắng
đảm bảo về mặt chất lượng sản phẩm và giảm tối đa chi phí cần thiết.
Sự năng động sáng tạo của đội ngũ cán bộ kinh doanh đã đảm bảo vật tư
đúng, đủ và kịp thời cho sản xuất là một yếu tố quan trọng làm cho sản phẩm của
Hải hà luôn có đủ chủng loại và số lượng.
Tuy vậy do do đặc điểm của hầu hết của các loại nguyên liệu là dễ hư hỏng
nguyên vật liệu hoặc làm kém chất lượng, đòi hỏi Công ty phải đặc biệt quan tâm
đến công tác bảo quản. Nừu không làm tốt công tác này sẽ gây hao hụt hư hỏng
nguyên vật liệu hoặc làm kém chất lượng sản phẩm, khó được khách hàng chấp
nhận.
Mỗi yếu tố trên đây có tác động với mức độ khác nhau tới khả năng ổn định
và mở rộng thị trường của Công ty Bánh kẹo Hải hà.
4. Đặc điểm về lao động
Đặc điểm sản xuất của Công ty là lao động nhẹ nhàng đòi hỏi sự khéo léo
của người lao động, lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn. Hiện nay số lượng lao động
nữ của Công ty chiếm khoảng 80%, do đó việc quan tâm đến người lao động và
tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ yên tâm làm việc là nhiệm vụ quan trọng của ban
lãnh đạo Công ty và công đoàn đặc biệt là phải quan tâm giải quyết hợp lý các vấn