BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
LÊ PHAN CẨM HÀ
BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – 10/2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
LÊ PHAN CẨM HÀ
BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG ĐĂNG THỤY
Thành phố Hồ Chí Minh – 10/2015
QUAN .........................................................................................................................5
2.1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ..........................................................................5
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế ..................................................................................5
2.1.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế và cách đo lường ..............................5
2.1.1.2. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế......................................................6
2.1.1.3. Các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế ....................10
2.1.2. Cơ cấu tuổi dân số và biến động cơ cấu tuổi dân số ..............................10
2.1.2.1. Cơ cấu tuổi dân số và các khái niệm có liên quan ..........................10
2.1.2.2. Biến động cơ cấu tuổi dân số và cơ cấu dân số vàng......................12
2.1.3. Mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế ....................................13
2.1.3.1. Lý thuyết “Dân số học bi quan”: Gia tăng dân số hạn chế phát triển
kinh tế ...........................................................................................................13
2.1.3.2.Lý thuyết “Dân số học lạc quan”: biến dộng dân số giúp tăng trưởng
kinh tế ...........................................................................................................14
2.1.3.3. Lý thuyết “Dân số học trung tính”: biến dộng dân số không ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế .....................................................................15
2.1.3.4. Lý thuyết “Quá độ dân số”..............................................................16
2.1.4. Lý thuyết về mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng
trưởng kinh tế ...................................................................................................18
2.2. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ........................................................24
CHƯƠNG 3: TỞNG QUAN TÌNH HÌNH BIẾN ĐỞI CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................32
3.1. XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỒI QUY ..............................................................32
3.2. KHUNG PHÂN TÍCH ...................................................................................35
3.3. XÁC ĐỊNH VÀ MÔ TẢ CÁC BIẾN SỐ ......................................................36
3.3.1. Biến phụ thuộc ........................................................................................36
3.3.2. Biến độc lập ............................................................................................36
3.3.2.1. Các biến nhân khẩu học ..................................................................36
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Viết tắt
2SLS
Phương pháp hồi quy hai giai đoạn (Two Stage Least of Square)
BS
Bác sỹ
DS
Dân số
ĐH
Đại học
EU
Liên minh Châu Âu (European Union)
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GMM
Index)
PIM
Phương pháp kê khai thường xun (Perpetual Inventory Method
REM
Mơ hình các hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model)
TH
Thành phố
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TFP
Năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Số năm đi học tương ứng với trình độ học vấn .........................................39
Bảng 3.2 Tóm tắt các biến trong mơ hình .................................................................47
mặt kinh tế. Cũng như nhiều nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, Việt
Nam đang ở giai đoạn sau của thời kỳ quá độ dân số, chuyển đổi từ một nước có
mức độ sinh và mức độ chết cao sang một nước có mức độ sinh và mức độ chết
thấp, điều đó đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc tuổi và giới tính của dân số Việt
Nam. Tỷ trọng nhóm dân số dưới 15 tuổi giảm, trong khi tỷ trọng nhóm dân số
trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) ngày càng tăng. Khi quy mơ của các
nhóm tuổi này thay đổi cũng đồng nghĩa với sức ép và cơ hội kinh tế sẽ thay đổi
theo. Nghiên cứu nhằm mục đích chỉ ra vai trò của biến động cơ cấu tuổi dân số đến
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng, việc giảm tăng trưởng của nhóm dân số dưới 15 tuổi và gia
tăng nhóm dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) có tác động tích cực
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua. Bên cạnh đó, nghiên cứu
cũng chỉ ra những đóng góp của lao động nữ và vấn đề bình đẳng giới trong thị
trường lao động, gia tăng lực lượng lao động nữ đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế của quốc gia.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nhà kinh tế học đưa ra nhiều ý kiến bất đồng về ảnh hưởng của dân số đến
tăng trưởng kinh tế. Malthus (1798) cho rằng tăng trưởng dân số làm hạn chế tăng
trưởng kinh tế, Simon (1981) nhận định gia tăng dân số có tác động thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, trong khi đó Srinivan (1988) lại lập luận gia tăng dân số là trung
tính, khơng liên quan đến tăng trưởng kinh tế. Hầu hết quan điểm của các nhà kinh
tế học trước đây tập trung nhiều vào vấn đề quy mô dân số và tăng trưởng kinh tế
hơn là mối quan hệ thực chất giữa cơ cấu tuổi dân số (sự phân bố các nhóm tuổi
khác nhau của dân số) và tăng trưởng kinh tế.
Theo Bloom và cộng sự (2001), hành vi kinh tế của con người thay đổi theo
dân số dưới 15 tuổi giảm đáng kể theo thời gian, từ 42,6% năm 1979 xuống
còn 24,2% năm 2013. Trong vòng mười năm từ năm 1999 đến năm 2009, số
lượng trẻ em từ 0 đến 14 tuổi giảm gần 4 triệu người, từ 25,3 triệu người
năm 1999 xuống 21,5 triệu người năm 2013.
(2) Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn
trong tổng dân số: Năm 1979, dân số trong tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi)
của Việt Nam là 53,74 triệu người, chiếm 50,4% trong tổng dân số cả nước
thì đến năm 2013, con số này đã tăng lên 58,44 triệu người, chiếm 65,3%
tổng dân số.
(3) Dân số cao tuổi gia tăng: từ 6,9% năm 1979 lên 10,5% năm 2013, tương ứng
với mức tăng từ 3,71 triệu người lên 9,39 triệu người và theo dự báo, dân số
từ 60 tuổi trở lên sẽ tiếp tục gia tăng không ngừng trong thời gian tới.
Theo kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, Việt Nam đã bước
vào thời kỳ mà các nhà nhân khẩu học và kinh tế học gọi là thời kỳ “cơ cấu dân số
vàng”. Thời kỳ này thường kéo dài khoảng 30 đến 40 năm trong lịch sử phát triển
của mỗi quốc gia và là cơ hội duy nhất trong quá trình quá độ nhân khẩu học. Các
nghiên cứu về tác động của biến động cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế đều
nhận định “cơ cấu dân số vàng” có đóng góp đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia. Điển hình như trong nghiên cứu của Bloom và Williamson (1998) đã
3
kết luận quá trình chuyển đổi cơ cấu tuổi dân số có đóng góp quan trọng vào “kỳ
tích kinh tế thần kỳ” của Đông Á, với tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giai
đoạn 1965 – 1990 trung bình khoảng 6% mỗi năm.
Theo Bloom và cợng sự (2001), “lợi tức” của sự biến động trong cơ cấu tuổi
dân số sẽ làm gia tăng cung lao động, tiết kiệm và tích lũy vốn của nền kinh tế cao,
đồng thời làm gia tăng vốn con người. Như vậy, sự tiến dần đến “cơ cấu dân số
vàng” sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc
thống kê mơ tả, so sánh đối chứng, phương pháp phân tích kinh tế lượng.
-
Phương pháp thống kê: Số liệu sử dụng trong Luận văn được tổng hợp từ các
nguồn như Tổng Cục Thống Kê, Tổng Cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình,
Các cuộc Điều tra Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình hàng năm và
Các cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở mười năm một lần nhằm làm rõ tình
hình dân số và tăng trưởng kinh tế.
-
Phương pháp so sánh đối chứng: Dựa trên các số liệu thu thập được, sử dụng
để so sánh sự thay đổi cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế qua các thời
kỳ, góp phần đưa ra những đánh giá toàn diện cho vấn đề nghiên cứu.
-
Phương pháp phân tích định lượng: Luận văn sử dụng phương pháp hồi quy
hai giai đoạn (2SLS) kết hợp với phương pháp hồi quy dữ liệu bảng cho
nghiên cứu thực nghiệm từ năm 2005 đến năm 2013.
1.5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Cấu trúc Luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến tác động
của biến động cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế.
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng.
Chương 4: Tổng quan tình hình biến động cơ cấu tuổi dân số trong thời gian
qua tại Việt Nam và phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
Trong đó
𝐺𝐷𝑃𝑡 − 𝐺𝐷𝑃𝑡−1
𝑥 100%
𝐺𝐷𝑃𝑡−1
𝐺𝐷𝑃𝑡 : giá trị tổng sản phẩm quốc nội tại thời điểm t
𝐺𝐷𝑃𝑡−1 : giá trị tổng sản phẩm quốc nội tại thời điểm (t–1)
6
𝑔𝐺𝐷𝑃 : tăng trưởng kinh tế tại thời điểm t.
Tuy nhiên cơng thức tính tốn trên chưa phản ánh đúng tăng trưởng kinh tế
của một quốc gia, vì nó khơng tính đến tác động của gia tăng dân số đến tốc độ tăng
trưởng GDP. Cơng thức tính tốn chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân đầu người:
𝑔𝑡 =
Trong đó
𝑦𝑡 − 𝑦𝑡−1
𝑥 100%
𝑦𝑡−1
𝑦𝑡 : GDP thực bình quân đầu người tại thời điểm t.
𝑦𝑡−1 : GDP thực bình quân đầu người tại thời điểm (t – 1).
𝑔𝑡 : tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người tại thời điểm t.
2.1.1.2.
Các lý thút tăng trưởng kinh tế
𝑌 = 𝐹 (𝐾, 𝐿)
Biểu thức cho thấy sản lượng là một hàm số (ký hiệu F) theo trữ lượng vốn và
cung lao động. Khi trữ lượng vốn và cung lao động tăng, sản lượng sẽ gia tăng.
-
Phương trình (2), (3) và (4) mô tả sự thay đổi trữ lượng vốn (K) theo thời
gian.
Phương trình (2) tính tổng tiết kiệm, với giả định tiết kiệm là một tỷ trọng cố
định của thu nhập, với S là tổng giá trị tiết kiệm, và s tiêu biểu cho tỉ lệ tiết kiệm
bình quân:
𝑆 = 𝑠𝑌
Phương trình (3) liên hệ giữa tiết kiệm (S) với đầu tư mới (I), giả định không
có thương mại quốc tế, trong một nền kinh tế đóng, tiết kiệm phải bằng đầu tư:
𝑆=𝐼
Phương trình (4) mơ tả cách thức đầu tư mới làm thay đổi qui mô trữ lượng
vốn. Với d là tỉ lệ khấu hao, sự thay đổi của trữ lượng vốn là ∆K, được xác định:
∆𝐾 = 𝐼 − 𝑑𝐾
Để đơn giản, kết hợp phương trình (2), (3) và (4), ta có:
∆𝐾 = 𝑠𝑌 − 𝑑𝐾
Phương trình này phát biểu rằng thay đổi trữ lượng vốn (∆K) bằng tiết kiệm
(sY) trừ khấu hao (dK).
8
-
Phương trình (5) tập trung vào cung lao động
Giả định tốc độ tăng trưởng của lực lượng lao động bằng tốc độ tăng trưởng
Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp,
trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh tế,
Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt trái của thị trường.
Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự kết hợp giữa lý thuyết kinh tế Tân cổ điển và lý
thuyết kinh tế của Maynard Keynes (1883 – 1946) trong điều tiết kinh tế, Keynes đề
cao vai trò của Chính phủ trong việc sử dụng những chính sách kinh tế nhằm thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Những ý tưởng cơ bản của học thuyết hiện đại về tăng
trưởng kinh tế được trình bày trong tác phẩm “Kinh tế học” của P.Samuelson xuất
bản năm 1948.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với mơ hình tăng trưởng Tân
cổ điển về việc xác định các yếu tố tác động đến sản xuất. Họ cho rằng tổng cung
(Y) của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất là lao động
(L), vốn (K), tài nguyên thiên nhiên (R) và khoa học công nghệ (A), để tăng trưởng
thì các nhà sản xuất có thể lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ
sử dụng nhiều lao động. Kế thừa mơ hình Solow trong việc đưa thêm nhân tố lao
động và tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng, mơ hình Solow cho biết
tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng đến mức sản lượng và tốc
độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian.
Tuy nhiên, mơ hình tăng trưởng Tân cổ điển khơng giải thích đầy đủ những
thực tế của tăng trưởng, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Trong mơ hình Tân
cổ điển, yếu tố quyết định thu nhập bình quân đầu người là tính hiệu quả của lao
động (A) nhưng khơng xác định rõ hành vi gây ra các biến đổi trong hiệu quả của
lao động và xem nó là một yếu tố ngoại sinh.
Mơ hình “Tăng trưởng nội sinh” đã khắc phục được nhược điểm này, lý thuyết
này khẳng định ngồi vai trị quan trọng của vốn (K) và lao động (L) đối với tăng
trưởng, nghiên cứu phát triển và vốn con người là kênh quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Đồng thời yếu tố khoa học công nghệ (A) là một biến nội sinh, nó
10
Nhóm tuổi trong độ tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc 15 – 64 tuổi).
-
Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi trở lên (hoặc 65 tuổi trở lên).
Cơ cấu tuổi và tăng trưởng dân số
Cùng với tỷ suất sinh, cơ cấu tuổi là một “động cơ” nhân khẩu học, nó thúc
đẩy (hoặc làm chậm) sự tăng trưởng dân số. Ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ lớn
người trẻ gần như bảo đảm cho dân số đó tiếp tục tăng trong thời kỳ mức sinh giảm.
11
Tỷ số phụ thuộc dân số
Tỷ số phụ thuộc là tỷ số phản ánh mối quan hệ giữa nhóm dân số trong độ tuổi
lao động và các nhóm không nằm trong độ tuổi lao động (trẻ em và người cao tuổi –
thường được gọi là nhóm dân số phụ thuộc).
Nhóm dân số phụ tḥc là bộ phận dân số phụ thuộc về mặt kinh tế (những
người dưới độ tuổi lao động – phụ thuộc trẻ và những người trên độ tuổi lao động –
phụ thuộc già) so với bộ phận sản xuất (quy ước là dân số trong độ tuổi lao động).
Hiện nay có nhiều cách chia khác nhau về số tuổi của nhóm dân số phụ thuộc,
nhưng để phù hợp với độ tuổi nghỉ hưu theo Luật Lao động của Việt Nam, nghiên
cứu sử dụng nhóm tuổi của dân số phụ thuộc là nhóm dân số dưới 15 tuổi và trên 60
tuổi.
Tỷ số phụ thuộc được chia thành tỷ số phụ thuộc già - tỷ số phụ thuộc già
được tính bằng tỷ số giữa số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) với 100 người trong
độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) và tỷ số phụ thuộc trẻ em - tỷ số phụ thuộc trẻ
em được tính bằng tỷ số giữa số trẻ em (từ 0 đến 14 tuổi) với 100 người trong độ
𝑥 100
Tỷ số phụ thuộc thường được dùng như một chỉ báo về gánh nặng kinh tế mà
bộ phận dân số sản xuất phải cáng đáng. Những nước có mức sinh rất cao thường có
tỷ số dân số trong độ tuổi phụ thuộc cao nhất vì một tỷ lệ lớn của dân số là trẻ em.
12
Già hóa dân số
Chỉ số già hóa: Theo Vụ Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc (UNDESA,
2005), chỉ số già hóa được tính bằng tỷ số giữa số người cao tuổi và 100 người dưới
dưới 15 tuổi (hay trẻ em). Khi chỉ số này lớn hơn 100 tức là dân số cao tuổi lớn hơn
dân số trẻ em.
Dân số già: Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970) (trích dẫn từ Quỹ
Dân số Liên Hợp Quốc, 2010), khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9%
tổng dân số thì dân số được coi là già hóa. Tương tự, khi dân số từ 65 tuổi trở lên
chiếm từ 10% đến 19,9% gọi là dân số già; từ 20% đến 29,9% gọi là dân số rất già
và từ 30% trở lên gọi là dân số siêu già.
Một số báo cáo sử dụng tuổi từ 60 trở lên để phân loại. Dân số được coi là già
hóa khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số; tương ứng cho già, rất già
và siêu già là 20%, 30% và 35%.
2.1.2.2.
Biến động cơ cấu tuổi dân số và cơ cấu dân số vàng
Biến động cơ cấu tuổi dân số
Biến động cơ cấu tuổi dân số là sự thay đổi tỷ trọng của các nhóm dân số theo
tuổi.
kỹ thuật (Ngày nay, mơ hình tăng trưởng với tiến bộ kỹ thuật nội sinh là phù hợp
với quan điểm này). Trong những năm 1980, các nghiên cứu sử dụng dữ liệu xun
quốc gia đã khơng tìm thấy một tác động đáng kể nào của sự gia tăng dân số đối với
tăng trưởng kinh tế (Bloom và Freeman, 1986, Srinivan, 1988 và Kelley, 1988),
nhóm quan điểm thứ ba ra đời gọi là lý thuyết dân số học trung tính.
2.1.3.1.
Lý thuyết “Dân số học bi quan”: Gia tăng dân số hạn chế
phát triển kinh tế
Lý thuyết được phát biểu bởi Thomas R.Malthus (1766 – 1834), ông cũng là
người đầu tiên nghiên cứu về quan hệ giữa tăng dân số và tăng trưởng kinh tế.
Trong bài viết vào những năm 1790, Malthus đặt vấn đề liệu có thể cải thiện được
xã hội tương lai nếu quy mô dân số càng ngày càng lớn, ông lập luận, dân số nếu
14
khơng được kiểm sốt sẽ tăng theo cấp số nhân (2, 4, 8, 16...); còn lương thực thực
phẩm, phương tiện sinh hoạt chỉ tăng theo cấp số cộng (1, 2, 3, 4...).
Trong một thế giới mà các nguồn lực để trồng lương thực là có hạn và khoa
học kỹ thuật tiến bộ rất chậm, Malthus luận giải sản lượng lương thực sẽ nhanh
chóng bị sức ép của gia tăng dân số làm mất đi tác dụng. Bữa ăn hàng ngày sẽ giảm
xuống dưới mức chuẩn. Mức chết cao sẽ cản trở dân số gia tăng. Mức sống chỉ
được cải thiện trong một thời gian ngắn trước khi lại bước vào thời kỳ tăng dân số
nhanh hơn. Sự cân bằng giữa dân số và tăng thu nhập là “bộ luật vĩ đại của tự
nhiên”.
Ủng hộ lập luận của Malthus, năm 1968, Ehrlich cho ra đời cuốn sách The
Population Bomb (Quả bom dân số), ơng cho rằng Trái đất chỉ có thể “gánh” tốt
khoảng 1,5 tỉ người (một số tính tốn gần đây cũng cho con số “lý tưởng” này) và
2.1.3.3.
Lý thuyết “Dân số học trung tính”: biến dộng dân số không
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Nhóm các nhà nghiên cứu khác luận giải, tăng dân số tác động đến tăng
trưởng kinh tế qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực
đến tăng trưởng kinh tế. Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm
của hàng loạt các chính sách và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là do
nhân tố dân số.
Kelley (2001) gợi ý những người theo thuyết Dân số học trung tính thực tế đã
trở thành trường phái tư tưởng khá nổi bật trong số các nghiên cứu học thuật về tăng
trưởng dân số; ông đưa ra ba lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu ảnh hưởng đến việc dấy
lên thuyết dân số học trung tính trong những năm 1980:
-
Tài nguyên thiên nhiên: Người ta phát hiện ra cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên không phải do chịu tác động mạnh mẽ của gia tăng dân số như các nhà
dân số học bi quan vẫn nghĩ. Công nghệ, sự bảo tồn và phân chia thị trường
các nguồn lực có hiệu quả, tất cả những yếu tố này góp phần gìn giữ tài
nguyên thiên nhiên và thu nhập bình quân đầu người là yếu tố chủ yếu quyết
định cung - cầu những nguồn lực này.
-
Tiết kiệm/tích lũy: Gia tăng dân số làm giảm tích lũy dẫn đến gây ảnh hưởng
đối với tăng trưởng kinh tế chưa được nghiên cứu.