MỞ ĐẦU
Trong nghề nuôi trồng thủy sản, nuôi tôm là nghề đã và đang phát triển mạnh ở
nhiều nước trên thế giới. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào,
sản phẩm thu được dễ tiêu thụ và có giá trị xuất khẩu cao là các yếu tố kích thích
nghề nuôi tôm ngày càng phát triển ở Việt Nam, trong đó có Khánh Hòa. Những năm
90 nghề nuôi tôm Sú đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết công ăn việc làm
cho nông dân và sự tăng trưởng kinh tế đất nước.
Tuy nhiên nghề nuôi tôm ở nước ta nói chung, Khánh Hòa nói riêng đã và đang
ngày càng phát triển, thiếu quy hoạch [49]. Kiến thức về môi trường, biện pháp kỹ
thuật sản xuất của các nông hộ nuôi tôm còn nhiều hạn chế nên kỹ năng quản lý chất
lượng nước ao nuôi kém, sản lượng nuôi chưa cao và không ổn định. Ngoài ra với sự
đa dạng về điều kiện tự nhiên ở các vùng lãnh thổ (Bắc, Trung, Nam), nhiều biện
pháp kỹ thuật và quản lý chăm sóc ao nuôi tôm được sử dụng gây ra sự phức tạp cho
việc duy trì sự ổn định (một cách tương đối) của hệ sinh thái ao nuôi tôm thương
phẩm ở nước ta.
Trong hệ sinh thái tự nhiên hay trong các ao nuôi trồng thủy sản (trong đó có ao
nuôi tôm) thực vật nổi là một trong những yếu tố hữu sinh đóng vai trò hết sức quan
trọng trong trao đổi vật chất và năng lượng của hệ. Chúng là cơ sở thức ăn tự nhiên,
tác nhân lọc sinh học và là nguồn tạo oxy hoà tan trong nước (lớn hơn nhiều so với
lượng oxy hòa tan từ không khí), đặc biệt là ở các ao nuôi bán thâm canh và thâm
canh. Thực vật nổi phản ứng rất nhanh với nguồn dinh dưỡng bổ sung vào môi
trường nước, bởi vậy được xem là chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ dinh dưỡng
của các ao nuôi. Sinh khối và tốc độ phát triển của thực vật nổi thay đổi theo mùa và
phù thuộc vào các yếu tố môi trường (ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, muối dinh dưỡng
…). Nhưng mức độ biến động của TVN (khi chúng phát triển quá nhiều hay quá ít)
lại là tác nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng nước của ao. Trong các ao nuôi với
một số loài hay mật độ của chúng trong khoảng cho phép sẽ có lợi hoặc ít nhất là vô
hại với các đối tượng nuôi, nhưng khi chúng phát triển quá mạnh, kèm theo đó là tàn
1
lụi và sự lắng đọng cũng như sự phân hủy của chúng trong ao sẽ là nguyên nhân làm
chậm sự phát triển của vật nuôi, gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất nuôi trồng.
ao nuôi tôm Sú thâm canh.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:
- Luận án góp phần làm rõ đặc điểm và vai trò của thực vật nổi trong ao nuôi tôm
thương phẩm (đặc biệt là hệ thống ao nuôi bán thâm canh và thâm canh).
- Xác định mối quan hệ giữa thực vật nổi với một số yếu tố lý, hóa học của nước
trong ao nuôi cũng như với một số loại hóa chất thường được sử dụng trong nuôi
tôm…
- Cung cấp những dữ liệu khoa học giúp các nhà quản lý NTTS, cán bộ kỹ thuật
cũng như các nông hộ nuôi tôm có biện pháp điều chỉnh chất lượng nước trong ao khi
cần thiết.
Nét mới của luận án:
- Luận án là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu tương
đối đầy đủ và có hệ thống về thực vật nổi trong ao nuôi tôm Sú thương phẩm.
- Luận án là công trình nghiên cứu cơ bản có sự kết hợp với các nghiên cứu khác
trong hệ sinh thái ao nuôi tôm (biện pháp kỹ thuật nuôi và mối quan hệ giữa thực vật
nổi với các yếu tố môi trường…).
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 THỰC VẬT NỔI VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG
1.1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu thực vật nổi
- Tình hình nghiên cứu thực vật nổi (TVN) trên thế giới
Trước đây, thực vật nổi được biết đến như một dạng vật chất hữu cơ trôi nổi
trong nước (ở dạng sống và chết), mặc dù hình thái và cấu trúc của chúng được phát
hiện nhờ sự phát minh ra kính hiển vi ở thế kỷ 17. Đến nay nhiều loài đã được mô tả
về hình dạng, thể tích và kích thước tế bào [40] [41].
Tùy theo quan điểm của từng tác giả, việc phân loại tảo trong những thế kỷ XIX,
XX được sắp xếp theo những hệ thống khác nhau. Các tác giả ở Liên Xô cũ xếp tảo
thành 10 ngành: tảo Lam (Cyanophyta), tảo Hai Roi (Pyrrophyta = Dinophyta), tảo
Vàng ánh (Chrysophyta), tảo Vàng (Xanthophyta), tảo Silíc (Bacillariophyta), tảo
nitơ, phot pho và silíc hòa tan có quan hệ trực tiếp đến mật độ TVN. Số lượng tế bào
tăng nhanh khi hàm lượng phốt pho và nitơ trong nước tương ứng đạt từ 0,01mg/L và
0,1 mg/L [78].
Bên cạnh nghiên cứu về hệ thống phân loại học, mô tả đặc điểm các loài TVN,
nhiều tác giả còn quan tâm đến đặc tính sinh thái học, mối quan hệ giữa sự phát triển
của thực vật nổi với các yếu tố môi trường cũng như tính chất gây hại, sự nở hoa hay
hiện tượng “Thủy triều đỏ” ở các vùng biển ven bờ. “Thủy triều đỏ” được các nhà
khoa học đề cập một cách chính thức trong các cuộc hội thảo vào những năm 70.
Năm 1979, có hai cuộc hội thảo về sự nở hoa của các loài tảo roi có độc tố ở Miama
và Florida vào năm 1978 (Taylor và Seliger, 1979). Tiếp sau đó là các cuộc hội thảo
được tổ chức ở Canada (1985) ; ở Nhật (1977) ; ở Thụy Điển (1989) ; ở Mỹ (1991) ;
ở Pháp (1993) ; Sendai, Nhật (1995) ; ở Tây Ban Nha (1997) . Nhiều tài liệu đã dẫn
chứng “Thủy triều đỏ” ở các vùng ôn đới (Bắc Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và Nam
Châu úc) đã đe dọa đến ngành khai thác và nuôi biển. Tổng kết các công trình nghiên
5
cứu về “Thủy triều đỏ”, các tác giả đã đưa ra danh mục trên 45 loài gây ra hiện tượng
“Thủy triều đỏ” thuộc các ngành tảo Hai Roi, tảo Lam, tảo Silic và tảo Lục ở các
vùng biển cận nhiệt đới, trong đó phần lớn thuộc về tảo Hai Roi (Dinoflagellata)
[theo 81]. Còn theo Carpenter và Carmichal (1995) có ít nhất 19 loài thuộc 9 chi tảo
Lam có thể sinh độc tố ở vùng nước lợ và nước mặn [75]. Nhiều nhà khoa học cho
rằng “Thủy triều đỏ” thường xảy ra sau khi mưa lớn (Kutner và Sassi, 1979 ;
Hermes, 1983 ; Piyakaruchana và cộng tác viên, 1984 ; Gonzales, 1989). Đặc biệt là
có liên quan đến nguồn dinh dưỡng do phù sa từ đất liền đổ ra [102]. Ngoài ra hiện
tượng này có thể xảy ra do sự phá rừng đã làm tăng lượng chất mùn theo dòng nước
chảy ra biển hay do điều kiện khí hậu không bình thường đã kích thích sự nở hoa của
tảo [81]. Tuy nhiên mật độ bùng nổ của các loài tảo thường khác nhau. Ví dụ như tảo
Protogonyaux đạt 10
5
tb/L trong thời gian bùng nổ, tảo Aureococcus đạt 10
9
Silíc Asterionella sp, Nitzschia sp. Kết quả nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng,
nitrogen là nhân tố đóng vai trò quan trọng về mức độ thay đổi của quần xã thực vật
nổi trong ao, đặc biệt là số lượng tế bào [110]. Còn trong 10 ao nuôi tôm theo qui
trình thay nước (opened culture) ở ven vịnh Khung Krabaen (tỉnh Chantaburi - Thái
Lan) có 42 loài TVN được xác định, trong đó tảo Silíc chiếm ưu thế. Mật độ tảo
trong ao tăng từ 186 x 10
6
tb/m
3
(sau 0,5 tháng) đến 547 x 10
6
tb/m
3
(sau 2,5 tháng).
Những ao nuôi tôm theo mô hình không thay nước (closed system), mật độ tế bào
TVN cao hơn ở cùng thời điểm (61.994 x 10
6
tb/m
3
ở thời điểm 2,5 tháng), song vào
giai đoạn cuối (3,5 - 4 tháng) mật độ TVN giảm xuống đột ngột (373 x 10
6
tb/m
3
).
Trong các ao nuôi trên, mật độ tế bào tảo Silíc không nhiều (đặc biệt là thời điểm 3 -
3,5 tháng và ở các ao nuôi tôm không thay nước). Trong khi loài tảo Lam
Oscillatoria sp là loài chiếm ưu thế về mật độ tế bào trong ao. Cuối cùng, các tác giả
kết luận rằng mật độ tế bào tảo trong các ao (ở cả 2 mô hình nuôi tôm) tăng theo sự
gia tăng hàm lượng NO
0
C đến 20
0
C như: tảo silíc
Thalasiosira pseudonana….
Nhóm các loài tảo nhiệt đới và cận nhiệt đới (15
0
C -30
0
C): Chaetoceros.
Ceratosporum, Isochrysis sp, Pavlova salina…
Bên cạnh nhiệt độ, độ mặn cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát
triển của vi tảo, đặc biệt là thành phần, hàm lượng các sắc tố trong tế bào. Nhiều loài
vi tảo có khả năng thích ứng với độ mặn rộng (7 ‰ đến 35‰) như Isochrysis sp,
Chaetoceros gracilis, C. calcitrans, Tetraselmis chuii. Trong khi một số loài lại
không thể phát triển trong môi trường có độ mặn thấp (Skeletonema costatum thích
ứng với độ mặn từ 14 - 35‰, Pavlova salina thích ứng với độ mặn từ 21 - 35‰)
[114]. Ngoài ra, chất dinh dưỡng cũng là yếu tố quan trong ảnh hưởng trực tiếp đến
số lượng và chất lượng vi tảo (Harrison, 1990) [theo 28]. Theo Depauw (1981) và
Utting (1985) nhu cầu về đạm của tảo Silíc thấp hơn tảo Lục và tảo Lam [theo 8].
Photpho cần không lớn nhưng là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình nuôi tảo
[19] [28]. Tảo Silíc, Lam và Lục phát triển mạnh ở hàm lượng phốt pho từ 0,1 - mg/
L, phát triển yếu ở hàm lượng 0,005 mg/L [theo 8]. Các yếu tố vi lượng ( Co, Fe, Mn,
8
và Mg) cũng rất cần thiết đến sự phát triển của tảo, chúng tác động đến quá trình trao
đổi chất của tảo. Tuy nhiên các yếu tố trên chỉ được bổ sung với nồng độ thấp (µg)
[18]. Hiện nay đã và đang có nhiều phương pháp, mô hình nuôi sinh khối tảo: nuôi
theo đợt (Batch culture), nuôi liên tục (continous culture), nuôi bán liên tục (semi -
continous culture) hay với qui mô QCCT, BTC và TC [19 ].
- Tình hình nghiên cứu thực vật nổi ở Việt Nam
Tại vùng biển Khánh Hòa - Minh Hải có 400 loài thực vật nổi được nghi nhận
bởi Nguyễn Ngọc Lâm và Đoàn Như Hải, khi khảo sát vùng biển này từ 4/1993 -
5/1995, trong đó tảo Silíc chiếm ưu thế [98]. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu khu hệ
thực vật nổi vùng ven biển Khánh Hòa, tác giả cũng đã ghi nhận 203 loài thuộc 4
ngành; tảo Silíc, tảo Hai Roi, tảo Kim và tảo Mắt, trong đó có 23 loài có khả năng
gây hại cho cá cũng như sức khoẻ của con người. Cũng các tác giả trên, khi nghiên
cứu về sinh thái phát triển tảo gây hại và hiện tượng “Thủy triều đỏ” liên quan đến
các yếu tố môi trường ở các thủy vực ven bờ Khánh Hòa (1997), đã xác định được
244 loài TVN, trong đó tảo Silíc chiếm ứu thế (155 loài) và kế đó là tảo Hai Roi (82
loài) [22].
Vào những năm 2000 - 2004, Viện Hải dương học Nha Trang đã công bố một số
kết quả mới nhất về khu hệ thực vật phù du vùng ven bờ Nam Trung Bộ (nơi cung
cấp nước cho các ao nuôi tôm công nghiệp). Trước hết là kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Thị Mai Anh và Hồ Văn Thệ (2001), các tác giả cho biết thực vật nổi ở đầm
Cù Mông và vịnh Xuân Đài khá đa dạng gồm 135 loài. Sự phân bố và thành phần của
chúng có những biến đổi theo mùa. Đầm Cù Mông thực vật nổi có tính đa dạng thấp
hơn vịnh Xuân Đài, nhưng mật độ tế bào lại cao hơn do có những loài ưu thế, rõ rệt
nhất là vào mùa mưa [3]. Kế đó là công bố của Đoàn Như Hải, Nguyễn Ngọc Lâm,
Nguyễn Thị Mai Anh và Hồ Văn Thệ (2004) với 144 loài TVN ở đầm Lăng Cô
(Huế), tảo Silíc có số lượng loài cao nhất, sau đó là tảo Hai Roi [12].
10
Trong các công trình nghiên cứu về TVN biển còn có những công trình nghiên
cứu chuyên sâu về “Thuỷ triều đỏ” và những loài tảo có khả năng gây hại. Những
công trình nghiên cứu hiện tượng “Thủy triều đỏ” và tính chất gây hại của các loài
tảo ở các vùng biển ven bờ được thực hiện bởi các nhà khoa học ở các Viện Hải
dương học Nha Trang, Hải Phòng, khoa Sinh học (Trường Đại học Khoa học Huế) và
Viện Sinh học Nhiệt đới TP. HCM, cùng với sự tham gia của các chuyên gia nước
ngoài.
Nguyễn Ngọc Lâm và Đoàn Như Hải đã xác định hiện tượng triều đỏ xảy ra ở
Bình Thuận là do loài tảo Lam Trichodesmium erythraeum với mật độ đạt đến 10
Coscinodiscus, Nitzschia và một số giống loài khác tuy ít giống loài hơn nhưng lại có
số lượng nhiều như Ditylum, Biddulphia. Cơ sở thức ăn tự nhiên trong đầm nước lợ
khá phong phú, thành phần và số lượng thực vật nổi biến động theo thời gian, chu kỳ
lấy nước và sự biến đổi các yếu tố môi trường, trong đó nhiệt độ và độ mặn là hai
yếu tố quyết định [9]. Trong luận án phó tiến sĩ với đề tài “Tảo Silíc vùng cửa sông
ven biển Việt Nam” Đặng Thị Sy (1996) đã công bố 361 taxon bậc loài và dưới loài,
trong đó có 114 taxon mới đối với Việt Nam. Trong công trình này tác giả cũng đã
quan tâm đến sự phân bố của tảo theo vùng địa lý, theo thủy triều, theo độ mặn và độ
sâu [40]. Cũng nghiên cứu về khu hệ thực vật nổi vùng cửa sông Việt Nam, Chu Văn
Thuộc (1997) đã ghi nhận thực vật nổi ở một số cửa sông miền Bắc Việt Nam biến
động từ 166-250 loài, nhìn chung các giống thuộc ngành tảo Silic chiếm ưu thế
(82%), kế đó là tảo Hai Roi (13%). Tác giả cũng cho biết một số loài thường có số
lượng cao như Coscinodiscus, Chaetoceros, Bacteriastrum, Navicula, Pleurosigma,
Peridinium, Ceratium. Hầu hết thực vật nổi mang đặc điểm của khu hệ ven bờ nhiệt
đới và á nhiệt đới, có pha trộn những giống loài nước ngọt, đặc biệt vào mùa mưa
[80].
Những nghiên cứu về TVN trong các vũng, vịnh, đầm phá ven biển phía nam có
các công trình tiêu biểu sau: Theo Tôn Thất Pháp (1993), khi nghiên cứu khu hệ thực
vật ở nước trong phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế), đã công bố 238 taxon bậc loài và
dưới loài thực vật nổi, trong đó có 19 taxon mới đối với Việt Nam. Trong khu hệ có
loài chỉ xuất hiện vào mùa ngọt hóa hay mặn hóa của phá, song cũng có loài xuất
hiện quanh năm (tảo Silíc Lông chim Pennales) [37]. Ở vịnh Quy Nhơn, có 185 loài
TVN được xác định và tảo Silíc chiếm 83,7% về số loài. Thực vật nổi có mật độ cao
trùng vào thời kỳ độ muối của nước trong vùng tương đối cao và giảm thấp vào các
12
tháng mùa mưa, liên quan đến sự thiếu hụt của những loài nước mặn. Mật độ thực vật
nổi dao động từ 2,27 - 321,82 x 10
6
tb/m
3
Từ những năm 80 trở lại đây do yêu cầu của thực tiễn đã có một số nghiên cứu
cơ sở thức ăn, chất lượng nước trong đầm hay ao nuôi tôm được tiến hành. Từ kết
quả nghiên cứu về TVN trong các ao nuôi tôm ở Việt Nam, các tác giả đều cho rằng
13
số loài TVN trong các ao nuôi tôm thường thấp hơn so với các vực nước tự nhiên và
tảo thuộc ngành Silíc chiếm ưu thế [13], [26], [27], [30], [45], [46].
Năm 1994, trong báo cáo kết quả nghiên cứu chương trình khảo sát nguyên
nhân gây tôm chết tại khu vực phía Nam và biện pháp phòng trừ, Trần Trường
Lưu đã xác định được 27 - 42 loài TVN trong các ao nuôi tôm, trong đó tảo Silic
chiếm ưu thế về số loài ở tất cả các điểm nghiên cứu. Trong khi tảo Lam lại chiếm
ưu thế về mật độ tế bào. Trong các ao tôm đang chết tại huyện Cái Nước đã gặp 1
loài tảo Mắt và 5 loài tảo Lam (sinh vật chỉ thị cho độ nhiễm bẩn của nước) với
mật độ tương ứng là 40–120 x 10
3
tế bào/L. Ao nuôi tôm huyện Vĩnh Châu tỉnh
Sóc Trăng, tảo Lam chỉ thị nhiễm bẩn đạt tới 1,5 x 10
6
tế bào/L [26].
Trong các đầm nuôi tôm QCCT và BTC thuộc hai vùng (Quỳnh Lưu nghệ
An và Thạch Hà - Hà Tĩnh) số loài tảo Silíc cũng cao hơn các ngành tảo khác (với
47/72 loài, chiếm 64,38%), kế đó là tảo Hai Roi với 10 loài (13,7%), ngành tảo Mắt
có số loài thấp nhất (4 loài, chiếm 5,48%). Thành phần loài TVN trong đầm nuôi
tôm ở hai vùng có sự khác nhau, với hệ số giống nhau S = 0,34. Mật độ tế bào
TVN trong các đầm này cũng khá phong phú (17,8 – 25 x 10
3
tế bào/L ở đầm nuôi
Quỳnh Lưu, 25- 28 x 10
3
tế bào/L ở đầm nuôi Thạch Hà) [7].
Sự phân bố thành phần loài TVN trong các ao nuôi tôm còn được đề cập trong
3
tế bào/L. Theo Ông thành phần loài và mật độ tảo trong ao qua
các đợt khảo sát nghèo nàn, trong các loài đã định danh không có tảo độc. Bên
cạnh sự nghèo nàn về loài và mật độ tảo là sự hiện diện khá phong phú của nhóm
Copepoda (ưu thế là Oithona spp) [13].
Bên cạnh công bố kết quả về thành phần loài, số lượng tế bào TVN, các báo
cáo còn đề cập đến mối quan hệ giữa mật độ tế bào với một số yếu tố môi trường
[26], [45][47] hoặc quá trình sinh trưởng và tàn lụi của tảo cũng như các yếu tố
môi trường cần thiết cho tảo phát triển trong các ao nuôi tôm. Theo Nguyễn
Trọng Nho (2002), sinh trưởng của quần thể hoặc quần xã vi tảo trong nuôi tôm
công nghiệp được chia làm năm pha (pha gia tốc dương, pha logarit, pha gia tốc
âm, pha cân bằng và pha tàn lụi). Nhiệt độ thích hợp cho vi tảo phát triển trong
khoảng 25 – 30
o
C, ở nhiệt độ cao hơn 35
o
C hay thấp hơn 16
o
C vi tảo phát triển rất
kém. Khả năng chịu đựng sự thay đổi của vi tảo biển rất lớn, song trong những ao
có độ mặn thấp thường gặp nhiều tảo Lục và tảo Mắt, còn các ao có độ mặn cao
hơn (25 - 30‰) lại thường gặp tảo Silíc [36].
Tại Việt Nam các công trình nghiên cứu nuôi vi tảo làm thức ăn cho động vật ở
nước hay cho mục đích khác được tiến hành gần đây cùng với sự phát triển của nghề
cá, đặc biệt là nghề nuôi cá biển. Nhằm mục đích cung cấp thức ăn tươi sống có chất
lượng cao cho giai đoạn giống của các đối tượng NTTS: Tôm Sú, tôm Bạc, Điệp
Quạt, Bào Ngư, Trai Ngọc, cá Ngựa, ốc Hương…
15
Bắt đầu từ 1974, Trường Đại học Thủy Sản đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái
học, môi trường dinh dưỡng và nuôi sinh khối ngoài trời một số loài tảo Silíc
nghề nuôi trồng thủy sản. Thực vật nổi là nguồn thức ăn quan trọng của cá, không có
thực vật nổi thì không có nghề cá (Hollerback, 1951) [66]. Thực vật nổi là mắt xích
đầu tiên trong chuỗi thức ăn tự nhiên của vực nước. Thực vật nổi chứa nhiều chất
dinh dưỡng khác nhau, đặc biệt là protein (50 - 70% trọng lượng khô). Do vậy là thức
ăn rất cần thiết cho sự phát triển của nhiều loài động vật nhỏ ở nước (những động vật
này lại là thức ăn tốt cho tôm cá) [36]. Nhiều loài tảo Lục, tảo Silíc do có lượng chất
dinh dưỡng cao, nên được nghiên cứu và nuôi trồng (đại trà) làm thức ăn cho các
động vật ở nước cũng như các đối tượng nuôi trồng thủy sản [5], [8], [19]. Theo Boyr
(1990), năng suất sơ cấp của thực vật nổi là nguồn thức ăn và nguồn cung cấp oxy
hòa tan rất quan trọng cho các động vật ở nước. Sự quang hợp của thực vật nổi đóng
vai trò hết sức quan trọng để duy trì oxy trong nước. Các biến đổi oxy hòa tan trong
quá trình hô hấp, trong quang hợp thường được sử dụng để đánh giá năng suất sơ cấp
ao nuôi trồng thủy sản [72].
Trong các hệ thống NTTS, đặc biệt là trong các ao nuôi tôm công nghiệp, thực
vật nổi là các yếu tố lọc sinh học làm sạch môi trường bởi sự hấp thụ mạnh các chất
dinh dưỡng, đặc biệt là muối amonia - sản phẩm của quá trình phân giải các hợp chất
hữu cơ, thức ăn thừa, chất thải của tôm, hạn chế mức độ gây độc của chúng [36],
[54]. Thực vật nổi cung cấp lượng oxy lớn, thúc đẩy phân huỷ các chất tích tụ trong
ao [30]. [36]. Starron và cs. (1995) khi nghiên cứu khả năng loại trừ tích lũy hữu cơ
trong hệ thống tuần hoàn của trại nuôi cá bằng vi tảo Chlorella và Spirulina cho thấy
nitơrat và phốt phát có thể được loại trừ hoàn toàn bởi các loại tảo hiển vi này [theo
54]. Thực vật nổi còn có vai trò làm giảm cường độ ánh sáng chiếu vào trong ao và
có thể ngăn cản sự phát triển của các loài tảo đáy, đảm bảo sự ổn định cho tôm và
ngăn cản các loài địch hại của tôm như cá, chim [36]. Thực vật nổi hạn chế tối thiểu
các biến động của chất lượng nước, ổn định nhiệt độ và hạn chế sự mất nhiệt của
nước vào mùa đông [21][30]. Sự phát triển của TVN có liên quan chặt chẽ với sự
biến đổi của pH trong ao nuôi. Biến đổi pH trong các vũng nước ven bờ, các ao đầm
17
nhỏ và trong các ao nuôi tôm liên quan đến quá trình quang hợp và hô hấp của thực
vật ở nước. Như vậy pH môi trường phụ thuộc vào sự biến đổi hàm lượng O
3
, H
2
S, giảm thiểu tác động độc hại của NH
3
và H
2
S lên các đối tượng nuôi.
Một tập đoàn thực vật nổi tốt có thể làm giảm các chất độc trong nước nhờ khả năng
hấp thụ NH
3
và giữ các kim loại nặng [36]. Chúng cạnh tranh với các loài thực vật và
các vi sinh vật khác không có lợi trong ao, nhất là các loài có khả năng gây bệnh cho
tôm, làm tăng lượng thức ăn tự nhiên và làm giảm chi phí nguồn thức ăn bổ sung
18