MỤC LỤC
***
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………2
TỔNG QUAN…………………………………………………………………3
1. Phân loại:………………………………………………………………..3
2. Đặc điểm hình thái:……………………………………………………..3
3. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của sâm Ngọc Linh:……………...4
4. Đặc điểm thích nghi:…………………………………………………….5
5. Giá trị dược liệu và công dụng:…………………………………………6
5.1. Giá trị dược liệu:……………………………………………………6
5.2.Công dụng:…………………………………………………………..8
6. Giá trị kinh tế:…………………………………………………………...9
7. Các phương pháp để kiểm nghiệm dược liệu chứa saponin:…………..10
8. Ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân giống sâm Ngọc Linh:…….17
9. Giới thiệu một số phương pháp tách chiết Saponin:………………….19
KẾT LUẬN…………………………………………………………………….22
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………..23
MỞ ĐẦU
1
***
- Việt Nam là một quốc gia có nguồn cây thuốc dồi dào và truyền thống sử
dụng dược liệu có nguồn gốc từ lâu đời. Trong số đó, sâm Ngọc Linh là một
loài cây dược liệu đang được quan tâm và nghiên cứu bởi vì tính thần dược
của nó. Sâm Ngọc Linh được nghiên cứu từ năm 1973 cho đến nay. Đặc
biệt là những nghiên cứu liên quan đến Saponin và tính dược lý của sâm
Ngọc Linh. Theo truyền thống, sâm Ngọc Linh là một trong những cây
thuốc có nhiều công dụng: chống stress vật lý, chống stress tâm lý và trầm
cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống oxi hóa, lão hóa, phòng chống ung thư,
bảo vệ tế bào gan.
- Ginsenosides (saponin) được đánh giá nhưng một thành phần quan trọng
trong rễ nhân sâm. Ngoài ra, nhân sâm còn chứa rất nhiều thành phần khác
màu lục hoặc hơi tím, nhỏ, có đường kính thân độ 4-8mm, thường tàn lụi
hàng năm tuy thỉnh thoảng cũng tồn tại một vài thân trong vài năm. Thân rễ
có đường kính 1-2cm, mọc bò ngang như củ hoàng tinh trên hoặc dưới mặt
đất độ 1-3cm, mang nhiều r ễ nhánh và c ủ . Các thân mang lá và tương ứng
với mỗi thân mang lá là một đốt dài khoảng 0,5-0,7cm, tuy sâm chỉ có một
lá duy nhất không rụng suốt từ năm thứ 1 đến năm thứ 3 và chỉ từ năm thứ 4
trở đi mới có thêm 2 đến 3 lá. Trên đỉnh của thân mang lá là lá kép hình chân
vịt mọc vòng với 3-5 nhánh lá. Cuống lá kép dài 6-12mm, mang 5 lá chét, lá
chét ở chính giữa lớn hơn cả với độ dài 12-15 cm, rộng 3-4 cm. Lá chét
phiến hình bầu dục, mép khía răng cưa, chóp nhọn, lá có lông ở cả hai mặt.
Cây 4-5 năm tuổi có hoa hình tán đơn mọc dưới các lá thẳng với thân, cuống
tán hoa dài 10-20 cm có thể kèm 1-4 tán phụ hay một hoa riêng lẻ ở phía
3
dưới tán chính. Mỗi tán có 60-100 hoa, cuống hoa ngắn 1-1.5 cm, lá đài 5,
cánh hoa 5, màu vàng nhạt, nhị 5, bầu 1 ô với 1 vòi nhụy. Quả mọc tập trung
ở trung tâm của tán lá, dài độ 0,8cm-1cm và rộng khoảng 0,5cm-0,6cm, sau
hai tháng bắt đầu chuyển từ màu xanh đến xanh thẫm, vàng lục, khi chín ngả
màu đỏ cam với một chấm đen không đều ở đỉnh quả. Mỗi quả chứa một
hạt, một số quả chứa 2 hạt và số quả trên cây bình quân khoảng 10 đến 30
quả.
3. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của sâm ngọc linh:
- Đây là một loại cây thân thảo sống lâu năm, cao 40cm đến 100cm, thoạt
nhìn rất giống nhân sâm Triều Tiên, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy thân rễ có sẹo và
các đốt như đốt trúc do thân khí sinh rụng hàng năm để lại.
- Sâm Ngọc Linh có thể sống rất lâu, thậm chí trên 100 năm, sinh trưởng khá
chậm. Vào đầu tháng 1 hàng năm, sâm xuất hiện chồi mới sau mùa ngủ
đông, thân khí sinh lớn dần lên thành cây sâm trưởng thành có 1 tán hoa. Từ
tháng 4 đến tháng 6, cây nở hoa và kết quả. Tháng 7 bắt đầu có quả chín và
kéo dài đến tháng 9. Cuối tháng 10, phần thân khí sinh tàn lụi dần, lá rụng,
để lại một vết sẹo ở đầu củ sâm và cây bắt đầu giai đoạn ngủ đông hết tháng
thấy 26 hợp chất có cấu trúc đã biết (thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ,
sâm Nhật) và 24 saponin pammaran có cấu trúc mới không bắt gặp tại các
loại sâm khác trên thế giới.
5
- Sâm Ngọc Linh chứa chủ yếu các saponin triterpen, nhưng cũng là một trong
những cây sâm có hàm lượng saponin khung pammaran cao nhất (khoảng
12-15%) và số lượng saponin nhiều nhất so với các loài khác của chi Panax.
Ngoài ra trong sâm Ngọc Linh còn có 14 axít béo, 16 axít amin (trong đó có
8 axít amin không thay thế được) và 18 nguyên tố đa lượng, vi lượng.
- Theo tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt cán bộ Viện Dược liệu thì về mặt hoá học, thân
rễ và rễ củ sâm Ngọc Linh hiện nay (2007) đã phân lập được 52 saponin
trong đó 26 sanopin thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật.
Trong lá và cọng đã phân lập được 19 saponin pammaran, trong đó có 8
saponin có cấu trúc mới. Đã xác định được trong sâm Ngọc Linh 17 axít
amin, 20 chất khoáng vi lượng và hàm lượng tinh dầu là 0,1%.
- Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ, củ và ngoài ra cũng có thể dùng
lá và rễ con.
- Từ rễ và thân rễ Sâm Việt Nam thiên nhiên, hơn 50 hợp chất saponin đã
được chiết xuất và xác định, trong đó có 24 saponin có cấu trúc mới.
- Saponin có cấu trúc đã biết: gồm chủ yếu các
saponin nhóm damaran: ginsenosid-Rb
1
, -Rb
2
, -Rb
3
, -Rc, -Rd, pseudo-
ginsenosid-RC
1
, gypenosid-IX, gypenosid-XVII, quinquenosid-R1, noto-
Loại aglycon P. ginseng P. notoginseng P.
quinquefolium
P.
vietnamensis
20(S)-ppd 2.9 2.1 2.7 3.1
20(S)-ppt 0.6 2.4 1.2 2.0
Ocotillol
---- ---- 0.04 5.6
Oleanolic acid 0.02 ---- 0.07 0.09
Thu suất toàn phần
(%)
3.5 4.5 4.0 10.8
5.2.Công dụng:
- Trong dân gian sâm ngọc linh được dùng như một loại thuốc trong những
bài thuốc cổ truyền cầm máu, lành vết thương, làm thuốc bổ, sốt rét, đau
bụng, phù thũng.
- Một số nghiên cứu gần đây cho thấy sâm Ngọc Linh có tác dụng chống
stress vật lý, stress tâm lý và trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống ôxi
hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan.
7
- Nghiên cứu dược lý lâm sàng của sâm Ngọc Linh cũng cho kết quả tốt: bệnh
nhân ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải
thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh
và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp.
- Theo dược sĩ Đào Kim Long, sâm Ngọc Linh có những tính năng tuyệt hảo
như tăng lực, phục hồi sự suy giảm chức năng giúp cho tình trạng của cơ thể
trở lại bình thường; kháng các độc tố gây hại tế bào, giúp kéo dài sự sống
của tế bào và tăng các tế bào mới.
- Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm
Trung Quốc không có là tính kháng khuẩn, chống trầm cảm, giảm lo âu,
như nhau thì sơ bộ xác định trong dược liệu có saponin triterpenoid. Nếu
ống kiềm có bọt cao hơn ống kia thì sơ bộ xác định là saponin steroid. Có
thể dựa vào tỉ số bọt để đánh giá một nguyên liệu chứa saponin: chỉ số bọt là
số ml nước để hòa tan saponin trong 1g nguyên liệu cho một cột bọt cao 1cm
sau khi lắc và đọc (tiến hành trong điều kiện quy định). Cách tiến hành: cân
1g bột nguyên liệu (qua rây số 32), cho vào bình có thể tích 500ml đã chứa
sẵn 100ml nước sôi, giữ cho sôi nhẹ trong 30 phút, lọc, để nguội và thêm
nước cho đúng 100ml. Lấy 10 ống nghiệm có chiều cao16cm và đường kính
16mm, cho vào các ống nghiệm lần lượt 1,2,3,…,10ml nước sắc, thêm nước
cất vào mỗi ống cho đủ mỗi ống 10ml. Bịt miệng các ống nghiệm rồi lắc
theo chiều dọc trong 15 giây, mỗi giây 2 lần lắc. Để yên trong 15 phút và đo
chiều cao của các cột bọt. Nếu cột bọt trong ống thấp dưới 100. Nếu ống có
cột bọt cao 1cm nằm giữa gam, ví dụ ống số 4 chẳng hạn thì tính như sau:
ống này có 4ml nước sắc 1% tương ứng với 0,04g bột thì chỉ số là:
9