THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở
HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
I- NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA
HUYỆN ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ HỘ
NÔNG DÂN.
1- Điều kiện tự nhiên:
a-Vị trí địa lý:
Thanh miện là một huyện đồng bằng nằm ở phía tây Nam của tỉnh Hải
dương.Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 122 km
2
trải dài từ 106
0
7’50’’
đến 106
0
16’20” kinh độ đông và từ 20
0
40’45” đến 20
0
50’55’’ vĩ độ bắc. Phía tây
bắc giáp với huyện Bình Giang,
Phía đông bắc giáp với huyện Gia Lộc,
Phía tây giáp với huyện Phù Cừ của Hưng Yên,
Phía đông nam giáp với huyện Ninh Giang,
Phía nam giáp với tỉnh Thái Bình.
Trung tâm huyện Thanh Miện cách Hà Nội 66 km; cách thành phố Hải Dương
23 km và thị xã Hưng yên 30 km theo đường bộ. Với vị trí địa lý như trên, cùng
với mạng lưới giao thông tốt, Thanh miện là một huyện có nhiều điều kiện thuận
lợi để sản xuất hàng hoá.
b-Đặc điểm thời tiết, khí hậu.
Do nằm trong vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng nên Thanh Miện có
bằng cửa Cầu xe và An thổ.
2- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Trong những năm vừa qua, hoà chung với sự phát triển vượt bậc của nền kinh
tế đất nước, kinh tế huyện Thanh Miện cũng có sự khởi sắc đáng khích lệ. Tốc độ
tăng trưởng trung bình của nền kinh tế trong 5 năm 1996-2000 là 8,12%. Năm
2000 dân số toàn huyện là 128.800 người với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%. Tổng
giá trị nội huyện đạt 454,6 tỷ đồng. Giá trị sản phẩm bình quân đầu người đạt 3,5
triệu đồng, tăng 1,42 triệu so với năm 1995. Lương thực bình quân đầu người đạt
710 kg/ người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo còn 11,1% vào năm 2000, không còn hộ đói.
Cơ cấu kinh tế chung của toàn huyện năm 2000: nông nghiệp đạt 302,2 tỷ đồng
chiếm 66,5% tiểu thủ công nghiệp đạt 62,4 tỷ chiếm 13,7%, dịch vụ đạt 90 tỷ
chiếm 19,8% tổng giá trị nội huyện. Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ và nhân
dân huyện Thanh Miện đã có sự cố gắng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tuy
nhiên tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn lớn, đặc biệt số lao động làm việc trong
ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao. Theo điều tra năm 2000 thì vẫn còn tới
84,6% số lao động toàn huyện làm việc trong ngành này. Trong khi đó số lao động
làm việc trong ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chỉ có 15,2%. Đây là tỷ lệ
không hợp lý mà trong một vài năm tới Thanh Miện sẽ phải cố gắng để cải thiện
tình hình này.
Nhìn chung hiện nay cơ sở hạ tầng nông thôn trên địa bàn huyện khá đầy đủ
và khang trang. Cả huyện có hai trường THPT. Mỗi xã có một trường THCS, một
trường tiểu học, mỗi thôn có ít nhất một nhà trẻ mẫu giáo; trạm y tế xã đã được
hoàn tất từ lâu. Tất cả các đường giao thông nông thôn đều được dải nhựa, đá, bê
tông hoặc gạch ngiêng. Hệ thống công trình thuỷ lợi cũng được hoàn tất và đảm
bảo tưới tiêu trên toàn bộ diện tích canh tác của huyện. Đời sống của nhân dân
trong huyện ngày càng được cải thiện, số hộ giàu ngày càng nhiều, tỷ lệ hộ nghèo
ngày càng giảm. An ninh, trật tự ổn định và đảm bảo. Đời sống văn hoá tinh thần
được bảo đảm và không ngừng được nâng cao.
II- THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HUYỆN
THANH MIỆN-TỈNH HẢI DƯƠNG.
226.700
75.500
62.400
90.000
13,28
-7,65
9,48
14,56
2,61
13,96
6,31
10,20
3,23
7,55
5,94
8,17
6,36
4,66
7,24
11,00
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.
Qua biểu số liệu chúng ta nhận thấy tổng sản phẩm nội huyện, trong thời kỳ
vừa qua tăng trưởng với tốc độ khá (trung bình 7%). Tuy nhiên không đều, cụ thể
là giảm dần trong những năm gần đây. GDP toàn huyện vẫn tăng qua các năm
nhưng tốc độ tăng giảm dần, năm 2000 tốc độ tăng chỉ còn 5,42%.Đó là điều
chúng ta cần phải suy nghĩ và tìm ra nguyên nhân của nó. Nhìn vào các ngành cụ
thể chúng ta cũng thấy tình trạng diễn ra tương tự mặc dù hai ngành là TTCN và
Thương mại - dịch vụ có tăng ở tốc độ khá cao. Năm 1998 tốc độ tăng trưởng đạt ở
mức cao nhất trong thời kỳ ở tất cả các ngành. Năm 1999 tốc độ tăng trưởng của
ngành trồng trọt giảm mạnh từ 13,28%, năm 1998 xuống chỉ còn 2,61% . Điều đó
Biểu3: Cơ cấu giá trị sản lượng theo ngành thời kỳ 1997-2000.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
Ngành
1997 1998 1999 2000
Gía trị % Gía trị % Gía trị % Gía trị %
GDP 371,8 100 406,5 100 431,2 100 454,6 100
1-Nông nghiệp
-Trồng trọt
-Chăn nuôi-thuỷ sản
2-TTCN-XD
3-DV-TM
255,6
188,9
66,7
50,6
65,9
68,8
73,9
26,1
13,5
17,7
275,6
214,0
61,6
55,4
75,5
67,8
77,64
22,36
công nghiệp thì nhỏ bé lại tự phát theo quy mô hộ gia đình chủ yếu chỉ sản xuất
các công cụ phục vụ cho nông nghiệp và xây dựng gia đình nên không tránh khỏi
việc chiếm tỷ lệ không cao.
Ngành nông nghiệp là ngành chủ yếu và truyền thống của vùng cũng như của
huyện nên việc nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu GDP toàn huyện đã tồn
tại rất lâu. Mặc dù trong năm 2000 này tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm nhiều,
còn 66,5% thấp hơn các thời kỳ trước nhưng đó vẫn là một con số quá lớn so với
cơ cấu hợp lý.
Ngành dịch vụ và thương mại tuy cũng có tốc độ tăng trưởng cao và dần
chiếm vị trí xứng đáng trong GDP toàn huyện từ 17,7% năm 1997 lên đến 19,8%
năm 2000 nhưng vẫn còn quá thấp. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng một nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là sự phát triển tự phát của ngành này, chưa có
sự quan tâm và quy hoạch đúng mức của huyện. Các ngành dịch vụ chủ yếu phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp, còn thương mại phục vụ cho nông nghiệp và sinh
hoạt của nhân dân nên phần nào khó tránh khỏi tình trạng nhỏ bé như hiện nay.
Nhìn vào toàn bộ cơ cấu GDP của huyện chúng ta vẫn thấy một sự chưa hợp
lý mà trong thời gian tới cần nhiều công sức để cải thiện nhất là việc chuyển dịch
cơ cấu còn diễn ra rất chậm.
Qua hai biểu ở trên chúng ta đã thấy được phần nào vị trí của nông nghiệp
trong nền kinh tế của huyện Thanh Miện cũng như vị trí độc tôn của ngành trồng
trọt trong nông nghiệp. Để hiểu thêm về vấn đề này chúng ta hãy xem biểu sau:
Biểu4: Số lượng và cơ cấu diện tích cây trồng và con nuôi của huyện
Thanh Miện thời kỳ 1997-2000
Năm
Cây trồng vật nuôi
ĐV
1997 1998 1999 2000
SL % SL % SL % SL %
1-Trồng trọt
-Diện tích cấy lúa
119,3
100
80,59
4,37
5,45
7,59
0,81
0,56
0,63
18.614,1
15.428
487
1,399
839
165
148,6
147,5
100
82,8
2,62
7,59
4,50
0,89
0,80
0,80
18.673
15.435
520
1410
900
47.648
1.276
4.440
453.300
22.600
100
9,00
0,24
0,84
85,65
4,27
542.659
49.134
1.206
4.459
464.100
32.760
100
9,05
0,22
0,82
85,5
4,41
561.689
51.470
1.150
4.489
485.300
19.280
100
dùng làm thực phẩm cho con người, một số để bán nhưng không đáng kể. Diện tích
rau cũng thường xuyên chiếm ở mức cao với năm 1997 là 1.104 ha và năm 2000 là
900 ha, cao nhất là năm 1998 với 1450 ha.Rau trên địa bàn huyện chủ yếu được
trồng ở xã Phạm Kha, cung cấp cho một số xã và thị trấn trong huyện. Số rau xanh
trồng được cũng chỉ chủ yếu đáp ứng nhu cầu rau của vùng, mang lại hiệu quả khá
cao nhưng cũng chưa được áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên quy mô rộng,
chủ yếu trồng theo quy mô hộ và diện tích hẹp.
Trong những năm vừa qua, huyện đã có sự chỉ đạo của cấp trên duyệt cho
phép đến năm 2000 chuyển 196,42 ha đất nông nghiệp sang trồng cây ăn quả chủ
yếu là nhãn, vải nhưng tới nay con số này vẫn chưa đạt được. Năm 1997 bắt đầu có
chủ trương chuyển dịch nhưng cũng mới làm được 49,3 ha, qua các năm tiếp theo
con số này lần lượt là 106,4 ha và 148,6 ha đến năm 2000 vì nhiều lý do khác nhau
mà con số này cũng chỉ dừng lại ở mức 148,6 ha chiếm 1,8% tổng diện tích đất
canh tác của huyện. Thật là con số khiêm tốn so với hiệu quả đem lại. Biêủ số 4
cũng cho chúng ta một sự hiểu biết về mặt nào đó của ngành chăn nuôi Thanh
Miện. Nhìn tổng quan các số liệu trên biểu chúng ta có thể nhận định ngành chăn
nuôi của Thanh Miện chủ yếu theo lối tận dụng gia đình, sản xuất lớn cực ít. Số
lượng các loại vật nuôi thường ổn định, ít biến động theo một sự sắp đặt có từ rất
lâu. Mỗi hộ nông dân ở Thanh Miện có từ 1 đến 2 con lợn, 10 đến 20 con gà. Trâu
bò chủ yếu dùng làm sức kéo phục vụ nông nghiệp và vận chuyển. Số lượng trâu
bò nuôi rất ít vì hiện nay các công việc phục vụ nông nghiệp đã được cơ giới hoá
một phần. Chỉ có một điều đáng quan tâm ở đây là số lượng gà thường xuyên
chiếm tỷ trọng cao trong ngành chăn nuôi. Chúng thường xuyên chiếm tới 93 đến
96% số đầu gia cầm nuôi trong nhà. Ngoài ra các vật nuôi khác như dê, ngan,
ngỗng, vịt...rất ít được nuôi trong địa bàn huyện, tổng của chúng chỉ chiếm 3,44%
số đầu vật nuôi trong năm 2000.
Về thuỷ sản, cho chúng ta một bức tranh tương tự như trong chăn nuôi khi mà
sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thường xuyên ổn định qua một số năm vừa qua.
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 1997 là 425 tấn;năm 1998 là 686 tấn;
năm1999 là 735 tấn và năm 2000 là 760 tấn. Tuy tăng với tốc độ khá cao nhưng
Kiêm
Thuần
nông
Kiêm
Thuần
nông
Kiêm
1-Lam Sơn
2-Diên Hồng
3-Phạm Kha
4-Thanh Tùng
5-Thị Trấn
6-Tiền Phong
7-Hùng Sơn
8-Chi Lăng Nam
9-Đoàn Tùng
10-Ngũ Hùng
1.406
668
1.504
923
1.582
1.105
781
1.218
1.424
1.589
95
39
73
916
1.232
1.092
752
1.095
1.455
1.741
136
45
78
366
476
116
58
121
246
193
1.511
656
1.609
944
1.342
1.108
790
1.153
1.332
1.583
142
47
91
174
94
132
208
1.665
1.961
1.896
1.688
1.487
1.756
1.235
1.761
2.039
148
198
156
196
156
250
86
134
287
1.528
1.948
1.951
1.647
1.435
1.913
1.131
1.598
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.
Qua bảng số liệu chúng ta thấy tỷ lệ hộ nông dân kiêm thương mại-dịch vụ
trên toàn huyện Thanh Miện hiện nay ở mức thấp, thường xuyên từ 10 đến 11,5%
tổng số hộ nông dân. Tỷ lệ này có tăng qua các năm nhưng rất chậm, năm 1997 là
10,004%; năm 1998 là 11,098%; năm1999 là 11,274% và năm 2000 là 11,047%.
Tỷ lệ hộ lông dân kiêm thương mại-dịch vụ lại phát triển không đều ở các xã, có
những xã, thị trấn như Thị trấn Thanh Miện, Xã Thanh Tùng, xã Đoàn tùng tỷ lệ hộ
kiêm rất cao. Nhưng cũng có những xã tỷ lệ này rất thấp như Diên Hồng, Phạm
Kha, Ngũ Hùng. Qua xem xét em thấy rằng ở những xã có điều kiện phát triển các
phố, thị tứ, Thị trấn, bến xe, chợ thì tỷ lệ hộ nông dân kiêm cao và ngược lại những
xã chưa có điều kiện như trên lại có tỷ lệ thấp. Những hộ nông dân kiêm thương
mại-dịch vụ ở Thanh Miện chủ yếu là buôn bán và dịch vụ nhỏ. Phục vụ trên địa
bàn thôn và xã, chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày. Ngoài
những công việc nông nghiệp của gia đình, hộ tận dụng thời gian để tiến hàng các
khâu dịch vụ như cầy, bừa, chở thuê...hoặc buôn bán những mặt hàng phục vụ cho
sản xuất như lân, đạm, thuốc trừ sâu...hay các mặt hàng khác . Những hộ kiêm này
thường là những hộ nông có lực lượng lao động dồi dào có chút ít vốn đầu tư. Thu
nhập của họ cao hơn hẳn so với các hộ thuần nông. Một điều chúng ta cần phải giải
thích thêm đó là cùng với sự phát triển của dân số, số hộ gia đình sẽ tăng lên và
theo đó hộ nông dân cũng tăng qua thời gian. Tuy nhiên chúng ta vẫn không thấy
tăng là bao qua biểu số 5, có lúc còn giảm. Em thấy đó cũng là điều đáng mừng khi
mà người nông dân đã biết chuyển sang sản xuất ở những ngành khác, họ nhượng
lại ruộng đất cho những hộ không có điều kiện này. Đây là cơ sở bước đầu cho việc
tích tụ đất đai, số hộ làm nông nghiệp sẽ ngày càng ít đi tương đối.
Nắm bắt được tất cả những điều này, chúng ta sẽ có cách thức tác động vào
từng loại hộ nông dân và từng xã phù hợp.
b-Cơ cấu các loại hộ nông dân theo mức thu nhập và mức sống.
Biểu 6: Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới
trong toàn huyện năm 2001
Đơn vị: hộ
19-Phạm Kha
1.228
1.667
1.722
1.905
1.310
2.300
1.287
700
865
1.830
1.860
1.285
2.008
2.083
2.145
1.650
2.179
2.470
1.700
1.226
1.648
1.560
1.750
1.306
2.234
1.200
700
856
1.738
7,18
12,57
19,06
10,12
10,75
8,90
7,94
9,78
15,38
7,70
16,53
12,86
8,94
7,67
11,33
9,58
14,70
20,06
11,80
6,50
11,00
19,00
9,80
10,00
8,90
7,90
9,30
15,00
7,40
12,20
dẫn đấn sự chênh lệch này như: cơ cấu hộ, truyền thống sản xuất, địa thế địa hình...
nhưng chúng ta không thể không kể tới một số nguyên nhân làm giảm hộ nghèo
của các xã có sự chênh lệch khác nhau. Đó là sự hoạt động của các cấp chính
quyền, đoàn thể có nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo ở các xã, các tổ chức này hoạt
động tốt sẽ dẫn tới sự đầu tư có hiệu quả từ các hộ nghèo, và tình trạng hộ nghèo
giảm đi nhanh chóng, và ngược lại, tình trạng nghèo nàn sẽ không được cải thiện
nếu sự đầu tư không mang lại hiệu quả.
Chúng ta cũng nhận thấy một điều rằng, đa số những hộ nghèo trong huyện
đều là những hộ nông dân. Điều này đòi hỏi trong công cuộc giảm nghèo của
huyện cần chú trọng và giành sự đầu tư đặc biệt vào các giải pháp phát triển nông
nghiệp. Như vậy phần nào sẽ trợ giúp được các hộ nông dân trong việc xoá đói của
chính mình.
Có rất nhiều lý do để dẫn tới tình trạng nghèo đói của một hộ gia đình như:
thiếu vốn; thiếu kinh nghiệm sản xuất; ốm đau... ở Thanh Miện, qua cuộc phỏng vấn
và tìm hiểu 3572 hộ nghèo, chúng ta được kết quả về nguyên nhân nghèo như sau:
Biểu 7: Số lượng hộ nghèo phân theo nguyên nhân nghèo đói:
Đơn vị: hộ
Xã-Thị trấn
Thiếu
kinh
nghiệm
làm ăn
Thiếu
lao
động
Thiếu
vốn
Thiếu
đất
Có người
18-Tứ Cường
19-Phạm Kha
25
20
12
22
25
23
13
6
6
17
30
9
30
26
16
13
21
23
25
30
14
13
25
18
28
16
7
8
8
5
4
9
10
5
3
3
8
11
4
11
8
7
5
8
8
10
49
40
23
48
49
46
26
12
8
34
57
20
30
27
15
5
8
21
34
12
33
31
19
15
24
26
30
8
6
3
9
18
2
4
0
6
3
10
7
11
14
2
nhóm nguyên nhân này là do thiếu vốn sản xuất: 37,5%, sau đó đến có người tàn
tật, ốm đau, già yếu: 19,68%; đông người ăn: 11,71% và thiếu lao động 11,1%.
Chúng ta cũng phải thấy rằng thiếu vốn sản xuất đang là tình trạng phổ biến đối
với các hộ nông dân trong nông thôn hiện nay. Nhưng qua cuộc điều tra này, một
lần nữa lại khẳng định tầm quan trọng của vốn sản xuất đối với công cuộc xoá đói
giảm nghèo nói chung và ở huyện Thanh Miện nói riêng. Có người ốm, tàn tật, già
yếu cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng nghèo đói
do chi phí chạy chữa, chăm sóc lớn. Kéo theo đó là những nguyên nhân quan trọng
khác như thiếu lao động, đông người ăn. Những điều này thực sự đã trở thành một
gánh nặng đối với nguồn thu nhập ít ỏi của các hộ nông dân. Thiếu kinh nghiệm
làm ăn cũng là một nguyên nhân đáng kể dẫn đến tình trạng này (10%), tuy nhiên
nếu đúng hơn chúng ta phải nói là thiếu kiến thức và hiểu biết do trình độ của
những người trong hộ có hạn.
Ngoài ra các nguyên nhân khác không đáng kể, chỉ chíêm một tỷ lệ nhỏ. Tình
trạng thiếu đất trong các hộ nghèo cũng chiếm một tỷ lệ khá (3,78%), đây không
phải là những hộ không làm nông nghiệp mà chủ yếu họ là những vợ chồng khá
trẻ, sinh con cái muộn vì vậy không có đất canh tác cho những trẻ em sinh sau này.
Nên có những gia đình 4 hoặc 5 người nhưng chỉ có bố mẹ là có ruộng cấy, dẫn
đến tình trạng thiếu đất để sản xuất.
Phân biệt được những nguyên nhân này, chúng ta sẽ có những giải pháp hữu hiệu
nhằm thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất.
3- Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân trong huyện.
3.1-Đất đai:
Tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện trong một vài năm trở lại đây
thường xuyên ổn định ở mức 8464,1 ha. Gồm nhiều loại đất và ở mỗi cánh đồng
đều có cao độ khác nhau.
Cao độ đất có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tưới tiêu, thiết kế các công trình
thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện. Nhưng còn một
nguyên nhân khác quan trọng hơn khiến chúng ta phải nghiên cứu cao độ đất trên
từng cánh đồng, đó là việc thiết kế, quy hoạch các loại cây trồng ứng với mỗi cao
12-Tứ Cường
13-Cao Thắng
14-Ngũ Hùng
15-Chi Bắc
16-Chi Nam
17-Diên Hồng
18-Thanh Giang
19-Tiền Phong
669,98
513,57
464,63
641,87
603,76
373,50
352,78
364,68
482,34
407,60
195,71
580,2
382,7
560,25
367,00
304,40
196,68
427,59
172,80
89,42
147,60
125,88
2,0-2,5
1,8-2,2
1,7-1,95
2,0-2,5
1,95-2,1
427,65
221,39
171,00
508,51
465,95
267,6
90,71
272,15
351,51
29,10
34,67
252,80
150,60
337,10
232,30
150,90
23,29
340,00
135,70
1,7-2,4
1,8-2,4
1,8-2,2
2,0-2,4
2,0-2,4
2,0-2,2
37,70
-
1,5-1,8
1,51-1,8
1,5-1,8
1,8-1,0
1,7-2,0
1,6-2,0
2,0-2,2
1,5-1,8
1,5-2,1
1,7-1,95
1,1-1,35
1,1-1,4
1,4-1,6
1,1-1,4
1,15-1,3
1,05-1,4
1,03-1,4
1,05-1,2
-
22,18
13,74
73,50
-
35,86
-
-
13,07
10,64
Nguồn: Xí nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi huyện Thanh Miện.
Nhìn chung với cao độ như ở trên, đất nông nghiệp của huyện khá thuận lợi
trong việc canh tác nhất là cây lúa. Hiện nay cây lúa giữ vị trí đặc biệt trong những
cây trồng nông nghiệp, nó được gieo trồng từ rất lâu và trên hầu hết các diện tích
đất nông nghiệp của huyện. Tuy nhiên nếu chúng ta đề cập đến vấn đề hiệu quả thì
việc này chưa mang lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân. Bởi những diện tích
có thể trồng một số loại cây khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
Hiện nay trên đất triều chũng của huyện có cao độ dưới 1 thì việc sử dụng rất
khó khăn, người nông dân chỉ có thể cấy một vụ với những giống lúa dài ngày,
thân cao, không mang lại hiệu quả lớn, nếu có thể kết hợp với nuôi cá sẽ mang lại
hiệu quả kinh tế cao hơn. Còn đối với chân cao và chân vàm ngoài việc trồng lúa
chúng ta hoàn toàn có thể trồng những cây công nghiệp ngắn ngày hoặc cả những
cây như nhãn, vải, táo cho hiệu qủa kinh tế cao hơn. Nghiên cứu thêm về những
điều này chúng ta sẽ có sự quy hoạch trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp
lý và hiệu quả. Diện tích đất nông nghiệp của huyện Thanh Miện vài năm trở lại
đây thường xuyên ổn định mức 8484,1 ha. Với dân số 128800 người như hiện nay
thì diện tích đất bình quân theo đầu người chỉ có 0,0657 ha. Đây là con số không
thấp đối với một huyện trung tâm của đông bằng châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên
cơ cấu các loại đất nếu xét theo việc sử dụng thường xuyên không ổn định. Chúng
ta hãy xem biểu đồ số liệu sau:
Biểu 9: Số lượng và tỷ trọng từng loại đất nông nghiệp thời kỳ 1997-2000.
Đơn vị: ha
Xã-Thị trấn
1998 2000
Đất
trồng
cây
hàng
năm
Đất
1-Tiền Phong
2-Diên Hồng
3-Thanh Giang
4-Ngũ Hùng
5-Chi Lăng Nam
6-Chi Lăng Bắc
7-Tứ Cường
8-Cao Thắng
9-Thị Trấn
10-Lam Sơn
11-Hùng Sơn
12-Phạm Kha
165,2
173,2
410,4
520,2
277,5
347,4
591,3
377,3
345,7
476,4
194,6
357,7
8,39
1,41
-
11,32
17,18
3,31
163,9
172,7
403,3
519,5
283,6
348,6
589,6
382
343,6
478
197,2
352,7
11,11
1,41
-
11,32
17,18
3,31
3,7
4,41
18,24
5,65
5,4
0,75
10,0
-
7,95
2,13
-
2,42