THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THANH MIỆN - Pdf 64

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN
THANH MIỆN-TỈNH HẢI DƯƠNG
I- NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA
HUYỆN ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ HỘ NÔNG
DÂN.
1- Điều kiện tự nhiên:
a-Vị trí địa lý:
Thanh miện là một huyện đồng bằng nằm ở phía tây Nam của tỉnh Hải
dương.Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 122 km
2
trải dài từ 106
0
7’50’’ đến 106
0
16’20” kinh độ đông và từ 20
0
40’45” đến 20
0
50’55’’ vĩ độ bắc.
Phía tây bắc giáp với huyện Bình Giang,
Phía đông bắc giáp với huyện Gia Lộc,
Phía tây giáp với huyện Phù Cừ của Hưng Yên,
Phía đông nam giáp với huyện Ninh Giang,
Phía nam giáp với tỉnh Thái Bình.
Trung tâm huyện Thanh Miện cách Hà Nội 66 km; cách thành phố Hải
Dương 23 km và thị xã Hưng yên 30 km theo đường bộ. Với vị trí địa lý như
trên, cùng với mạng lưới giao thông tốt, Thanh miện là một huyện có nhiều
điều kiện thuận lợi để sản xuất hàng hoá.
b-Đặc điểm thời tiết, khí hậu.
Do nằm trong vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng nên Thanh Miện
có khí hậu đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa.

2- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Trong những năm vừa qua, hoà chung với sự phát triển vượt bậc của nền
kinh tế đất nước, kinh tế huyện Thanh Miện cũng có sự khởi sắc đáng khích lệ.
Tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế trong 5 năm 1996-2000 là
8,12%. Năm 2000 dân số toàn huyện là 128.800 người với tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên 1,1%. Tổng giá trị nội huyện đạt 454,6 tỷ đồng. Giá trị sản phẩm bình
quân đầu người đạt 3,5 triệu đồng, tăng 1,42 triệu so với năm 1995. Lương
thực bình quân đầu người đạt 710 kg/ người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo còn 11,1%
vào năm 2000, không còn hộ đói. Cơ cấu kinh tế chung của toàn huyện năm
2000: nông nghiệp đạt 302,2 tỷ đồng chiếm 66,5% tiểu thủ công nghiệp đạt
62,4 tỷ chiếm 13,7%, dịch vụ đạt 90 tỷ chiếm 19,8% tổng giá trị nội huyện.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Thanh Miện đã có sự cố
gắng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tuy nhiên tỷ trọng ngành nông
nghiệp vẫn lớn, đặc biệt số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp vẫn
chiếm tỷ lệ cao. Theo điều tra năm 2000 thì vẫn còn tới 84,6% số lao động toàn
huyện làm việc trong ngành này. Trong khi đó số lao động làm việc trong
ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chỉ có 15,2%. Đây là tỷ lệ không hợp lý
mà trong một vài năm tới Thanh Miện sẽ phải cố gắng để cải thiện tình hình
này.
Nhìn chung hiện nay cơ sở hạ tầng nông thôn trên địa bàn huyện khá đầy
đủ và khang trang. Cả huyện có hai trường THPT. Mỗi xã có một trường THCS,
một trường tiểu học, mỗi thôn có ít nhất một nhà trẻ mẫu giáo; trạm y tế xã đã
được hoàn tất từ lâu. Tất cả các đường giao thông nông thôn đều được dải
nhựa, đá, bê tông hoặc gạch ngiêng. Hệ thống công trình thuỷ lợi cũng được
hoàn tất và đảm bảo tưới tiêu trên toàn bộ diện tích canh tác của huyện. Đời
sống của nhân dân trong huyện ngày càng được cải thiện, số hộ giàu ngày
càng nhiều, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm. An ninh, trật tự ổn định và đảm
bảo. Đời sống văn hoá tinh thần được bảo đảm và không ngừng được nâng
cao.
II- THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HUYỆN THANH

275.600
241.000
61.600
55.400
75.500
289.800
219.600
70.200
58.900
83.200
302.200
226.700
75.500
62.400
90.000
7,82
13,28
-7,65
9,48
14,56
5,15
2,61
13,96
6,31
10,20
4,27
3,23
7,55
5,94
8,17

trưởng thấp và không đều nhất là các năm 1999 và 2000. Điều này xảy ra có
nhiều nguyên nhân, mà một nguyên nhân chủ yếu là bộ giống cây trồng của
huyện không có sự thay đổi đột biến tích cực. Nhiều giống cây trồng cho năng
xuất không cao vẫn được sử dụng từ nhiều năm nay.
Tình trạng xuy giảm nội lực trong toàn bộ nền kinh tế cũng có ảnh hưởng
xấu đến tốc độ phát triển của nền kinh tế mà trong một số năm sắp tới, Thanh
Miện phải tìm cách cải thiện tình hình này.
Cùng với việc giữ nhịp độ phát triển khá của nền kinh tế, huyện Thanh
Miện đang phấn đấu tới một cơ cấu kinh tế cân bằng và hợp lý đối với một
huyện đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Biểu3 cho chúng ta thấy một cơ cấu giá trị sản lượng theo ngành trong
vài năm trở lại đây. Chúng ta có thể nói rằng nền kinh tế của huyện đang dần
tiến tới một cơ cấu hợp lý với việc giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp từ
68,8% năm 1997 xuống còn 66,5% vào năm 2000, tăng tỷ trọng ngành
TTCN,Xây dựng, dịch vụ, Thương mại từ 31,2% năm1997 lên 33,5% năm 2000.
Tuy tốc độ chuyển dịch còn diễn ra rất chậm, nhưng cũng là một
Biểu3: Cơ cấu giá trị sản lượng theo ngành thời kỳ 1997-2000.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
Ngành
1997 1998 1999 2000
Gía trị % Gía trị % Gía trị % Gía trị %
GDP 371,8 100 406,5 100 431,2 100 454,6 100
1-Nông nghiệp
-Trồng trọt
-Chăn nuôi-thuỷ sản
2-TTCN-XD
3-DV-TM
255,6
188,9

75,5
62,4
90
66,5
75,0
25,0
13,7
19,8
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.
Tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế của toàn huyện.
Ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng thấp, lại tăng rất
chậm trong những năm vừa qua, năm 1997 chiếm 13,5% thì tới năm 2000 con
số này chỉ là 13,7%, một tỷ lệ tăng khá khiêm tốn. Nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến tình trạng trọng ngành TTCN và xây dựng tăng chậm trong cơ cấu nền
kinh tế là vì trong những năm vừa qua Thanh Miện chưa quan tâm đầu tư
phát triển đúng mức đối với lĩnh vực này mặc dù giá trị tổng sản lượng vẫn
tăng đều qua các năm. Tiểu thủ công nghiệp thì nhỏ bé lại tự phát theo quy mô
hộ gia đình chủ yếu chỉ sản xuất các công cụ phục vụ cho nông nghiệp và xây
dựng gia đình nên không tránh khỏi việc chiếm tỷ lệ không cao.
Ngành nông nghiệp là ngành chủ yếu và truyền thống của vùng cũng như
của huyện nên việc nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu GDP toàn huyện
đã tồn tại rất lâu. Mặc dù trong năm 2000 này tỷ trọng ngành nông nghiệp đã
giảm nhiều, còn 66,5% thấp hơn các thời kỳ trước nhưng đó vẫn là một con số
quá lớn so với cơ cấu hợp lý.
Ngành dịch vụ và thương mại tuy cũng có tốc độ tăng trưởng cao và dần
chiếm vị trí xứng đáng trong GDP toàn huyện từ 17,7% năm 1997 lên đến
19,8% năm 2000 nhưng vẫn còn quá thấp. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng
một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là sự phát triển tự phát của
ngành này, chưa có sự quan tâm và quy hoạch đúng mức của huyện. Các ngành
dịch vụ chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, còn thương mại phục vụ

- Số lượng vật nuôi khác
Ha
con
18.932,7
15.466
1.315
791
1.104
147
49,3
59,8
485.996
45.815
1.234
4.247
409.100
25.600
100
81,69
6,95
4,17
5,83
0,77
0,26
0,33
100
9,43
0,25
0,87
84,18

15.428
487
1,399
839
165
148,6
147,5
542.659
49.134
1.206
4.459
464.100
32.760
100
82,8
2,62
7,59
4,50
0,89
0,80
0,80
100
9,05
0,22
0,82
85,5
4,41
18.673
15.435
520

nuôi chủ yếu trong nông nghiệp của huyện.
Đứng đầu ngành trồng trọt là vị trí độc tôn của cây lúa cả về giá trị và
diện tích gieo trồng. Diện tích trồng lúa của huyện trong những năm vừa qua
thường xuyên chiếm trên 80% diện tích gieo trồng. Trồng lúa đã trở thành thế
mạnh của Thanh Miện trong những năm trở lại đây với diện tích hàng năm
đạt sấp xỉ 15,5 nghìn ha. Hệ số lần trồng ngày càng tăng đạt từ 2,3 đến 2,4 lần
tính chung cho toàn diện tích đất nông nghiệp. Đây là hệ số không cao so với
một huyện đồng bằng nhưng cũng đã là sự cố gắng của nhân dân trong những
năm vừa qua.
Ngô là cây trồng, ngày càng giảm cả về diện tích lẫn tỷ trọng trong ngành
trồng trọt nhưng nó vẫn giữ vị trí quan trọng trong các cây vụ đông của huyện.
Năm 1997 diện tích ngô là 1.315 ha chiếm 6,95% diện tích gieo trồng nhưng
tới năm 2000 con số này chỉ còn 520 ha với 2,78%. Sản phẩm hạt ngô của
huyện chỉ chủ yếu dùng làm thức ăn cho vật nuôi, rất ít cho sinh hoạt của con
người và hầu như không dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp. Diện tích
khoai lang và đậu tương có tăng qua từng năm nhưng tăng chậm với tốc độ
ổn định. Năm 1997 diện tích khoai lang trên địa bàn huyện là 791 ha, chiếm
4,17% tổng diện tích gieo trồng thì đến năm 2000 các con số này đã là 1.410 ha
và 7,55%. Sản phẩm củ và dây khoai lang chủ yếu dùng làm thức ăn gia súc
trực tiếp tại các hộ. Còn đậu tương năm 1997 có 147 ha chiếm 0,77% tổng diện
tích gieo trồng thì tới năm 2000 chỉ tăng chút ít là 168 ha với 0,90% diện tích
gieo trồng.Sản phẩm đậu tương chủ yếu dùng làm thực phẩm cho con người,
một số để bán nhưng không đáng kể. Diện tích rau cũng thường xuyên chiếm ở
mức cao với năm 1997 là 1.104 ha và năm 2000 là 900 ha, cao nhất là năm
1998 với 1450 ha.Rau trên địa bàn huyện chủ yếu được trồng ở xã Phạm Kha,
cung cấp cho một số xã và thị trấn trong huyện. Số rau xanh trồng được cũng
chỉ chủ yếu đáp ứng nhu cầu rau của vùng, mang lại hiệu quả khá cao nhưng
cũng chưa được áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên quy mô rộng, chủ yếu
trồng theo quy mô hộ và diện tích hẹp.
Trong những năm vừa qua, huyện đã có sự chỉ đạo của cấp trên duyệt cho

là cây lúa, ngoài ra còn có ngô,khoai, rau, đậu tương và nhãn,vải cũng chiếm tỷ
trọng đáng kể. Các cây trồng khác chiếm tỷ trọng rất thấp. Quá trình chuyển
dịch cần có sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa của nhân dân trong toàn
huyện.
Vật nuôi chủ yếu vẫn là gà và lợn, đây cũng là hai nguồn thu nhập đáng kể
của nông dân trên địa bàn huyện, các vật nuôi khác cho thu nhập không đáng
kể. Sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện của ngành chăn nuôi còn quá khiêm
tốn, không đóng góp được vai trò quan trọng vào thu nhập của hộ nông dân
trong những năm vừa qua.
Trong những năm tới đây, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi chúng ta phải thực sự quan tâm đến những vấn đề này.
2- Cơ cấu các loại hộ nông dân trong huyện.
a-Cơ cấu theo loại hình sản xuất.
Hiện nay trên địa bàn huyện,hộ nông dân tồn tại ở hai hình thức đó là hộ
nông dân thuần nông và hộ nông dân kiêm thương mại- dịch vụ.
Biểu 5: Cơ cấu theo loại hình sản xuất hộ nông dân thời kỳ 1997-2000.
Đơn vị: hộ
Năm
Xã thị trấn
1997 1998 1999 2000
Thuầ
n
nông
Kiêm
Thuần
nông
Kiêm
Thuần
nông
Kiêm

1.589
1.492
1.862
1.911
1.664
1.484
1.478
1.206
1.768
95
39
73
356
504
90
85
131
251
121
97
184
112
138
148
174
94
132
1.439
662
1.498

250
86
134
1.477
646
1.497
916
1.232
1.092
752
1.095
1.455
1.741
1.528
1.948
1.951
1.647
1.435
1.913
1.131
1.598
136
45
78
366
476
116
58
121
246

362
458
122
66
13
228
167
141
182
126
178
186
271
81
98
19-Tứ Cường 2.181 208 2.039 287 2.052 298 2.048 278
Tổng số: SL 27.24
6
3.032 27.174 3.392 27.106 3.444 27.026 3.356
% 89,99
6
10,004 88,902 11,098 88,726 11,274 88,953 11,047
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Miện.
Qua bảng số liệu chúng ta thấy tỷ lệ hộ nông dân kiêm thương mại-dịch
vụ trên toàn huyện Thanh Miện hiện nay ở mức thấp, thường xuyên từ 10 đến
11,5% tổng số hộ nông dân. Tỷ lệ này có tăng qua các năm nhưng rất chậm,
năm 1997 là 10,004%; năm 1998 là 11,098%; năm1999 là 11,274% và năm
2000 là 11,047%. Tỷ lệ hộ lông dân kiêm thương mại-dịch vụ lại phát triển
không đều ở các xã, có những xã, thị trấn như Thị trấn Thanh Miện, Xã Thanh
Tùng, xã Đoàn tùng tỷ lệ hộ kiêm rất cao. Nhưng cũng có những xã tỷ lệ này

nông dân
Hộ
nghèo
Trong hộ nông dân
Trong hộ
gia đình
1-Tiền Phong
2-Đoàn Kết
3-Đoàn Tùng
4-Ngũ Hùng
5-Thanh Tùng
6-Ngô Quyền
7-Cao Thắng
8-Diên Hồng
9-HùngSơn
10-Tân Trào
11-Lê Hồng
12-Chi Lăng Nam
13-Chi Lăng Bắc
14-Hồng Quang
15-Thị Trấn
16-Lam Sơn
17-Thanh Giang
18-Tứ Cường
19-Phạm Kha
1.228
1.667
1.722
1.905
1.310

1.800
2.326
1700
246
200
112
220
249
226
129
61
68
170
285
99
281
261
161
126
204
223
251
20,10
12,13
7,18
12,57
19,06
10,12
10,75
8,90

Tổng số 32.186 30.355 3.572 11,76 11,10
Nguồn: Phòng tổ chức-lao động-xã hội huyện Thanh Miện.
Công cuộc phát triển kinh tế nói chung và kinh tế hộ nông dân nói riêng
của huyện Thanh Miện đã được quan tâm thực hiện từ rất sớm. Qua nhiều
năm đã đạt được những thành quả to lớn, số hộ giầu, khá tăng nhanh, số hộ
nông dân nghèo đã giảm nhiều và số hộ đói không còn nữa. Vấn đề cốt yếu
trong việc phát triển kinh tế hộ của huyện hiện nay là giảm dần tiến tới xoá bỏ
tình trạng hộ nghèo trên toàn huyện.
Theo tiêu chí mới ban hành nhận dạng hộ nghèo thì hiện nay toàn huyện
Thanh Miện có 3572 hộ nghèo, chiếm 11,10% trong toàn bộ hộ gia đình và
11,76% trong tổng hộ nông dân. Điều này cũng thật dễ hiểu bởi theo điều tra
của phòng tổ chức lao động và xã hội huyện thì gần như toàn bộ những hộ
nghèo trên địa bàn huyện là những hộ nông dân.
Nếu tính theo chuẩn mới,với tiêu trí chủ yếu là thu nhập của mỗi nhân
khẩu trong hộ dưới 100.000 đồng/1tháng thì toàn huyện có 11,10% hộ nghèo.
Còn nếu tính theo chuẩn cũ tức là thu nhập của mỗi nhân khẩu trong hộ dưới
20 kg gạo 1 tháng thì trên toàn huyện có khoảng trên 5% số hộ nghèo.
Đây là một con số cao đối với một huyện đồng bằng như Thanh Miện, tuy
nhiên công cuộc phát triển kinh tế hộ, xoá đói giảm nghèo cũng đã ghi nhận sự
cố gắng của toàn Đảng bộ nhân dân trong huyện.
Qua biểu số 6 chúng ta nhận thấy rằng, ở một số xã còn tỷ lệ hộ nghèo rất
cao như Tiền Phong 20,06%; Thanh Tùng 16,6%; Lê Hồng 15,00%; Phạm Kha
14,7%. Và một số xã có tỷ lệ hộ nghèo khá thấp như Đoàn Tùng 6,50%; Hùng
Sơn 7,9%; Thị trấn Thanh Miện 7,3%; Chi lăng Nam 7,40%. Có thể có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đấn sự chênh lệch này như: cơ cấu hộ, truyền thống sản xuất,
địa thế địa hình... nhưng chúng ta không thể không kể tới một số nguyên nhân
làm giảm hộ nghèo của các xã có sự chênh lệch khác nhau. Đó là sự hoạt động
của các cấp chính quyền, đoàn thể có nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo ở các xã,
các tổ chức này hoạt động tốt sẽ dẫn tới sự đầu tư có hiệu quả từ các hộ nghèo,
và tình trạng hộ nghèo giảm đi nhanh chóng, và ngược lại, tình trạng nghèo

người
mắc
TNXH
Đông
ngườ
i ăn
Rủi
ro
Khác
1-Tiền Phong
2-Đoàn Kết
3-Đoàn Tùng
4-Ngũ Hùng
5-Thanh Tùng
6-Ngô Quyền
7-Cao Thắng
8-Diên Hồng
9-Hùng Sơn
10-Tân Trào
11-Lê Hồng
12-Chi Nam
13-Chi Bắc
14-Hồng Quang
15-Thị Trấn
16-Lam Sơn
17-Thanh Giang
18-Tứ Cường
19-Phạm Kha
25
20

31
19
15
24
26
30
88
82
40
79
91
82
47
80
24
64
102
36
101
94
61
46
75
80
90
10
8
5
4
9

41
45
50
4
2
1
2
4
8
3
2
2
3
4
0
3
3
5
2
4
6
3
29
24
13
28
30
27
15
5

3
4
2
3
5
0
0
0
3
0
3
0
3
2
0
0
2
2
2
Cộng 362 402 1.362 137 714 61 425 130 34
% 10,0 11,1 3,78 3,78 19,68 1,68 11,71 3,58 0,97
Nguồn: Phòng lao động-Tổ chức-xã hội huyện Thanh Miện.
Theo số liệu điều tra của phòng tổ chức-lao đông và xã hội huyện Thanh
Miện đối với 3572 hộ nghèo. Mỗi hộ có một nguyên nhân chính dẫn đến tình
trạng nghèo đói, được kết quả như ở biểu 7. Qua đây chúng ta sẽ thấy một
cách tổng quan những nguyên nhân chính của tình trạng nghèo đói trong các
hộ. Đứng đầu nhóm nguyên nhân này là do thiếu vốn sản xuất: 37,5%, sau đó
đến có người tàn tật, ốm đau, già yếu: 19,68%; đông người ăn: 11,71% và
thiếu lao động 11,1%. Chúng ta cũng phải thấy rằng thiếu vốn sản xuất đang là
tình trạng phổ biến đối với các hộ nông dân trong nông thôn hiện nay. Nhưng

với mỗi cao độ có những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Qua biểu 8 chúng ta biết rằng, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện được chia làm 4 loại tuỳ theo cao độ của chúng, theo từng cánh
đồng đó là: chân cao, chân vàm, chân thấp và triều chũng. Tổng diện tích đất
nông nghiệp ở chân cao là 1487,2 ha, chiếm 18,45% đất nông nghiệp; chân
vàm có 462,91 ha chiếm 55,35%; chân thấp có 1737,30 ha chiếm 21,80% và
triều chũng có 354,84 ha chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của
huyện.
Xã Hùng Sơn là nơi có cao độ đất nông nghiệp thấp nhất của huyện, chỉ có
từ 1 đến 1,6. Và Thị trấn Thanh Miện là nơi đất nông nghiệp có cao độ lớn hơn
cả, từ 1,5 đên 2,5.
Biểu8: Các loại đất phân theo cao độ đất nông nghiệp trong huyện.
Đơn vị: ha
Xã-Thị trấn
Tổng
DTích
Chân cao Chân vàm Chân thấp Triều chũng
DTích Cốt đất DTích Cốt đất DTích Cốt đất DTích Cốt đất
1-Ngô Quyền
2-Tân Trào
3-Đoàn Kết
4-Hồng Quang
5-Lê Hồng
6-Đoàn Tùng
7-Thanh Tùng
8-Phạm Kha
9-Lam Sơn
10-Thị Trấn
11-Hùng Sơn
12-Tứ Cường

6,66
73,80
165,50
38,46
40,35
270,85
-
160,30
78,70
53,80
49,10
70,00
64,12
16,45
11,1
2,4-2,55
2,4-2,8
2,2-2,7
2,4-2,7
2,2-2,5
2,2-2,4
2,4-2,5
2,6-3,0
2,4-2,6
2,2-2,5
-
2,0-2,9
2,4-2,9
1,9-2,5
2,0-2,5

2,0-2,4
2,1-2,4
2,0-2,2
1,35-1,6
1,5-1,9
1,7-2,3
1,5-1,8
1,5-1,95
1,45-1,7
1,5-1,55
1,3-1,8
1,2-1,5
130,37
130,84
93,52
93,43
72,21
32,20
88,57
41,00
95,44
99,55
155,86
152,30
131,6
133,5
29,80
83,80
106,54
37,70

5,18
14,80
33,30
36,10
53,60
-
3,03
32,59
-
1,3-1,5
1,2-1,5
1,2-1,5
-
1,5-1,7
-
-
1,4-1,5
1,5-1,7
1,5-1,7
1,0-1,1
0,9-1,0
1,2-1,38
0,9-1,0
1,0-1,1
-
0,9
0,8-1
-
Tổng 8062,0 1487,2 18,45% 4462,9
0

cây
hàng
năm
Đất
vườn
tạp
Đất
trồng
cây lâu
năm
Đất có
mặt
nước
nuôi
trồng
thuỷ
sản
Đất
trồng
cây
hàng
năm
Đất
vườn
tạp
Đất
trồng
cây lâu
năm
Đất có

347,4
591,3
377,3
345,7
476,4
194,6
357,7
618,7
507,9
354,6
338,6
635,8
477,1
680,3
8,39
1,41
-
11,32
17,18
3,31
3,7
4,41
13,48
-
5,4
0,83
10,0
0,08
-
-

31,3
24,35
6,45
17,48
41,1
35,86
5,21
25,12
22,34
24,34
21,98
163,9
172,7
403,3
519,5
283,6
348,6
589,6
382
343,6
478
197,2
352,7
624,3
498,3
350,6
339,5
635,8
479,4
373,3

0,31
7,08
3,41
7,19
0,13
2,51
-
16,8
10,01
31,0
25,16
29,5
30,58
20,8
30,26
19,28
21,44
30,79
8,63
22,7
46,36
37,45
21,28
19,43
18,89
26,44
36,2
Tổng số 7.843 92,46 45,51 476,23 7836 111,5 67,1 486,2
% 92,66 1,1 0,54 5,7 92,2 1,31 0,79 5,70


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status