TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHIỆP VỤ
CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I .Ngân hàng thương mại
Ơ hầu hết các nước, các ngân hàng trung ương và chỉ có các ngân hàng
trung ương mới có thể phát hành tiền. Song, nếu như bạn cộng tất cả mệnh
giá của các tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm ở trong nước, chúng sẽ cho
một tổng số lớn hơn nhiều so với số tiền được in. Vậy số tiền thêm này ở
đâu ra ?
Thực tế, cung tiền được tạo ra do sự tác động qua lại của các ngân hàng và
ngân hàng trung ương. Chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét một số khía cạnh
về lịch sử và thể chế của ngân hàng thương mại.
1.Quá trình ra đời của ngân hàng
Nguồn gốc của Ngân hàng khởi đầu từ quá khứ xa xưa của lịch sử. Những
nhà nghiên cứu đã tìm thấy nó trong những thể chế có từ hàng nghìn năm trước
công nguyên, các nhà hài hước coi nó như “một nghề cổ nhất trên thế giới”.
Tuy nhiên C.Mark cho rằng ngân hàng thương mại ra đời từ các nhà tư bản
thương nghiệp trong nhóm các nhà tư bản thương nghiệp tách ra một nhóm làm
việc chuyển, đổi tiền giữa các quốc gia, các vùng. Trong quá trình làm việc
chuyển đổi tiền đó, người ta nắm được một quỹ tiền nhàn rỗi nào đó và họ thấy
tốt nhất là sử dụng cho vay hoặc đầu tư để thu thêm một khoản lợi nhuận.
Trong khi đó các nhà kinh tế học hiện đại lại cho rằng các ngân hàng thương
mại ra đời từ các nhà thợ kim hoàn và trải qua một thời kỳ gồm ba giai đoạn :
+ Giai đoạn các nhà thợ vàng chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi và giữ
hộ vàng cho khách hàng, thông qua việc này họ nhận được một khoản hoa
hồng. Đặc trưng của giai đoạn này là các thợ kim hoàn giữ lại 100% số tiền
hoặc số vàng khách hàng gửi. Như vậy kho chứa tiền của các thợ kim hoàn
cũng giống như những kho hàng thông thường khác.
+ Giai đoạn các nhà thợ vàng nhận thấy việc giữ lại 100% tiền gửi của
khách là không cần thiết vì việc mọi khách hàng rút tiền cùng một lúc là không
xaỷ ra thường xuyên. Hơn nữa, hàng ngày có một số người rút tiền ra nhưng
đồng thời cũng có một số người gửi tiền vào. Vì vậy họ quyết định giữ lại một
tư nhân. Ngân hàng thương mại cổ phần hỗn hợp thì các cổ đông gồm có
cả các tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.
- Theo chuyên ngành :
+ Ngân hàng nông nghiệp
+ Ngân hàng ngoại thương
+ Ngân hàng công thương
+ Ngân hàng đầu tư và phát triển
Trong nền kinh tế ngân hàng thương mại đa số được hiểu là ngân hàng
thương mại cổ phần. Nhưng hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam là hệ
thống ngân hàng nhà nước.
3. Chức năng của ngân hàng thương mại
- Chức năng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ – tín dụng và ngân hàng nhằm
mục tiêu thu lợi nhuận. Kể từ khi trong nền kinh tế – xã hội có hệ thống ngân
hàng hai cấp, thì chức năng của các loại hình ngân hàng được phân định một
cách rõ ràng. Sự phân định đó được chỉ rõ bằng luật. Ngân hàng Trung ương
chỉ thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà nước. Mục tiêu của ngân hàng
Trung ương là ổn định giá trị đồng tiền và thực hiện bảo đảm sự an toàn trong
quá trình hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, ngân hàng thương
mại thực hiện chức năng kinh doanh. Trong quá trình thực hiện chức năng này,
ngân hàng thương mại đã thực hiện việc dẫn vốn từ những người có khả năng
cho vay đến người muốn vay trong nền kinh tế. Thông qua việc thực hiện
chức năng cho vay, ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ thanh toán
như chuyển tiền, môi giới tư vấn cho khách hàng ...
- Chức năng tạo ra tiền gửi. Lượng tiền cung ứng bao gồm tiền lưu hành và
tiền gửi séc. Tiền lưu hành là giấy bạc do ngân hàng Trung ương phát hành,
thông thường chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng số các phương tiện thanh toán.
Tiền của ngân hàng thương mại là tiền gửi séc được tạo ra thông qua hoạt động
tín dụng của ngân hàng.
Tiền gửi séc = tiền dự trữ / tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Tiền gửi séc thường chiếm khoảng 90% - 95% trong lượng cung ứng tiền.
cách hoặc nâng số dư cân đối trên tài khoản tiền gửi không thời hạn, hoặc phát
hành kỳ phiếu ngân hàng. Việc xuất hiện tiền “ bổ sung ” sẽ kích thích tăng
trưởng kinh tế. Song trong mọi tình huống tổng khối lượng tiền cho vay chỉ
được xấp xỉ với tổng khối lượng tài sản Nợ của Ngân hàng.
Theo học thuyết, vai trò quyết định tính ổn định kinh tế phải là số lượng tiền
tệ trong lưu thông đảm bảo ổn định trong suốt chu kỳ, đặc biệt trong thời kỳ
suy thoái. Hiện nay yếu tố đảm bảo mức độ an toàn và tính ổn định của hệ
thống ngân hàng không phụ thuộc vào các mức độ hạn chế loại hình cho vay,
mà phụ thuộc vào thực tế bảo hiểm tiền cho vay. Do vậy cần có những hình
thức cho vay đảm bảo được nguồn vốn của ngân hàng.
2. Các vấn đề chung
1.0- Các loại hình cho vay
Phân loại các khoản cho vay của ngân hàng thương mại có thể được xem xét
trên nhiều tiêu thức.
Theo tiêu thức thời gian ta có tín dụng ngắn, trung và dài hạn.
Theo tính chất huy động, chia ra tín dụng có thể huy động và tín dụng không
thể huy động ( có thể ván lại và không thể bán lại ).
Tín dụng có thể dưới hình thức cho vay tiền, hoặc dựa trên việc chuyển
nhượng trái quyền.
Cho vay tiền là một loại hợp đồng kinh tế. Người cho vay cam kết giao cho
người vay một khoản tiền và người vay cam kết hoàn trả gốc và laĩ theo một
lãi suất quy định vào một thời điểm nhất định.
Cho vay trên cơ sở chuyển nhượng trái quyền là hình thức khách hàng là
chủ một trái phiếu có kỳ hạn nhưng muốn có vốn ngay lập tức, nên họ yêu cầu
ngân hàng cấp cho ngay số tiền đó, trừ đi phần trả lãi. Họ chuyển nhượng trái
quyền cho ngân hàng. Khi đến hạn, ngân hàng sẽ đòi người có trách nhiệm
phải thanh toán trái phiếu đó. Trái phiếu được sử dụng phổ biến là kỳ phiếu.
Hiện nay, phần lớn các ngân hàng thương mại đều thực hiện cho vay trên cơ
sở kỳ phiếu. Trên kỳ phiếu, thông thường một cá nhân, hay một hãng, một tổ
chức của chính phủ(được gọi là người phát hành kỳ phiếu ) khẳng định bằng
1.2- Lãi suất cho vay
Các khoản cho vay chiết khấu thường có nhiều loại lãi suất khác nhau.
Lãi suất áp dụng còn phụ thuộc mức độ rủi ro có thể xảy ra. Các xí nghiệp
nhỏ thường có nguy cơ vỡ nợ nhiều hơn các xí nghiệp lớn. Do vậy, vay vốn
phải chịu lãi suất cao vì quản lý phí trên một đơn vị tiền gửi cho vay lớn
hơn.
Thị trường cho vay mang tính cạnh tranh khốc liệt, vì vậy lãi suất của các
ngân hàng ngày càng có khuynh hướng xích lại gần nhau.
Lãi suất được công bố trên báo chí là lãi suất cơ bản. Luật Ngân hàng Nhà
nước quy định Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản. Có
thể hiểu lãi suất cơ bản là lãi suất “gốc” để các tổ chức tín dụng căn cứ vào đó
mà hình thành lãi suất kinh doanh của mình. Lãi suất cơ bản có thể được Ngân
hàng Nhà nước xác định và công bố ở các cấp độ khác nhau tuỳ từng điều kiện
cụ thể :