Huy động vốn và nghiệp vụ cho vay của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Quảng Uyên Tỉnh Cao Bằng - Pdf 24

Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
LỜI MỞ ĐẦU
Đường lối phát triển của nước ta là phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, phấn đấu
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để thực hiện
được những mục tiêu đó “vốn” là một nhân tố vô cùng quan trọng, được đặt lên
hàng đầu, do đó vai trò của hệ thống ngân hàng ngày càng chiếm vị trí then
chốt. Hoạt động của ngành ngân hàng gắn liền với cơ chế quản lý kinh tế, đòi
hỏi hoạt động ngân hàng phải là đòn bẩy kinh tế, là công cụ kiềm chế và đẩy
lùi lạm phát nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng
cần hoạt động có hiệu quả, đóng vai trò nòng cốt trên thị trường tiền tệ. Chiến
lược kinh tế của nhà nước chỉ rõ :”Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá hệ
thống tài chính, tiền tệ nhằm thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế xã hội”.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác huy động vốn trong hoạt động
của Ngân hàng. Với những kiến thức đã học và sau một thời gian thực tập,
nghiên cứu tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi nhánh
Huyện Quảng Uyên Tỉnh Cao Bằng, với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về
công tác huy động vốn cũng như vai trò của quản lý trong công tác huy động
vốn, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Huy động vốn và nghiệp vụ cho vay của
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Quảng Uyên Tỉnh
Cao Bằng”. Là Báo cáo thực tập.
Báo cáo này được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về huy động vốn trong ngân hàng thương
mại.
Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi nhánh Huyện Quảng Uyên Tỉnh Cao
Bằng.
Chương III: Định hương và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong
trong công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn Chi nhánh Huyện Quảng Uyên Tỉnh Cao Bằng.
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ

thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác…
Được dùng làm vốn kinh doanh. Do nguồn vốn huy động không phải thuộc sở
hữu của NHTM vì thế, các ngân hàng chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng
gốc và lãi khi đến hạn. Vốn huy động giữ một vai trò rất quan trọng trong NHTM,
nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại và
ảnh hưởng tới mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ
3
Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
1.1.2. Vai trò của vốn huy động:
Không giống hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác, các
NHTM kinh doanh dựa trên một hàng hóa đặc biệt là “tiền tệ” với hoạt động
kinh doanh chính là “đi vay và cho vay”. Vốn vừa là phương tiện vừa là đối
tượng kinh doanh. Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân
hàng. Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theo quy định của
Ngân hàng trung ương thì để có thể hoạt động được việc đầu tiên mà ngân
hàng phải làm là huy động vốn. Vốn huy động sẽ cho phép ngân hàng cho vay,
đầu tư... để thu lợi nhuận, nguồn vốn mà ngân hàng huy động được nhiều hay ít
quyết định đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Nguồn vốn huy động
được nhiều thì cho vay được nhiều và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Hay nói cách khác, ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh
trong cạnh tranh.
Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng
trên thương trường. Uy tín của các NHTM được dựa trên khả năng tập trung
vốn và sẵn sàng chi trả cho khách hàng. Với khả năng huy động vốn cao, tạo
cho ngân hàng điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các
loại hình dịch vụ, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày
càng mở rộng, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, góp phần vừa giữ
được chữ tín, vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thương trường.
Nguồn vốn huy động còn quyết định khả năng cạnh tranh của các

khách hàng một cách thuận tiện. Vì vậy đây là bộ phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm
thời chứ không phải là khoản để dành, khách hàng có thể lấy ra hoặc chuyển
nhượng cho bất kỳ ai và bất kỳ thời gian nào. Khách hàng được sử dụng số tiền
của mình bằng các phương tiện thanh toán dùng để chi trả như séc, uỷ nhiệm
chi, thư chuyển tiền…Do tính linh hoạt trong thanh khoản nên tiền gửi không
kỳ hạn có lãi suất thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi
khác.
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ
5
Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
Khi khách hàng gửi tiền theo hình thức này vừa có thể sử dụng theo nhu
cầu của mình vừa đem lại sự an toàn trong việc bảo quản vốn và trong quá
trình thanh toán, bên cạnh đó người gửi tiền còn được hưởng một khoản tiền lãi
nhỏ. Trên thực tế do lượng tiền gửi vào và lượng tiền rút ra không cùng một
lúc, khách hàng thường không sử dụng hết số tiền của mình trên tài khoản, vì
vậy sẽ tồn tại một số tiền trên tài khoản trong một thời gian dài có thể chiếm
tới gần 1/3 tiền gửi ngân hàng. Số tiền đó các NHTM dùng để đầu tư cho vay
nhằm tăng nguồn đầu tư, tái sản xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận.
Với sự trợ giúp của tiến bộ khoa học công nghệ, các NHTM ngày càng
thu hút được nhiều đối tượng gửi tiền cũng như mở tài khoản giao dịch, lượng
tiền gửi này càng được gia tăng, mang lại nguồn lợi nhuận ngày càng lớn cho
ngân hàng.
* Tiền gửi có kỳ hạn
Là các khoản tiền gửi có thời gian xác định, người gửi chỉ được rút tiền
khi đến thời hạn như đã thoả thuận. Hiện nay có nhiều kỳ hạn gửi tiền khác
nhau: có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 24 tháng hoặc trên
thế nữa, với mỗi kỳ hạn khác nhau thì ngân hàng áp dụng một loại lãi suất khác
nhau, thông thường với kỳ hạn càng dài thì lãi suất huy động ngày càng cao
(lãi suất tiền gửi có kỳ hạn lớn hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn). Loại tiền
gửi này tạo ra nguồn vốn tương đối ổn định, giúp cho các NHTM có thê sử

hợp mà lại an toàn, Chính sự đa dạng hoá các hình thức huy động vốn của
Ngân hàng đã giúp cho mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp tìm được cho mình
một hình thức đầu tư hợp lý nhất.
* Hoạt động sử dụng vốn
Sau quá trình huy động vốn, các NHTM sử dụng vốn thực hiện sử dụng
các nguồn vốn đó vào cho vay, đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ....để sinh
lời, thu lợi nhuận về cho ngân hàng. Vì vậy, hoạt động tín dụng hiệu quả tạo
cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế kinh doanh có hiệu quả, thu nhập xã
hội ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống của dân cư ngày càng nâng
cao, nguồn vốn nhàn rỗi ngày càng tăng, tạo cho nguồn vốn ngân hàng huy
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ
7
Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
động ngày càng tăng trưởng để thực hiện đầu tư cho các chu kỳ sản xuất tiếp
theo, nhưng nếu hoạt động sử dụng vốn không hiệu quả tất yếu dẫn đến việc
huy động vốn bị thu hẹp lại. Khi sử dụng vốn kém hiệu quả, làm thất thoát vốn
nhiều dẫn đến lòng tin của dân chúng vào ngân hàng bị giảm đi, sẽ rất khó
khăn cho các hình thức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi.
* Chính sách lãi suất
Lãi suất là căn cứ mà khách hàng quan tâm đầu tiên khi gửi tiền vào
ngân hàng. Do đó, duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh giữa các ngân hàng với
nhau đã trở nên cực kỳ quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới và
duy trì tiền gửi hiện có. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, chỉ cần
những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiền tiết
kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hay từ
công cụ này sang công cụ khác.
* Uy tín của ngân hàng
Uy tín hay nói cách khách chính là thương hiệu của NHTM, nó chính là
tài sản vô hình của ngân hàng, bao gồm uy tín của ngân hàng trong hệ thống,
uy tín ngân hàng trong kinh doanh. Đây là tài sản quý vô cùng quý giá trong

mẽ đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia, tác động trực tiếp đến tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc độ chu chuyển vốn, tình
trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Do đó, hoạt động của ngân hàng chịu sự quản
lý chặt chẽ hơn các doanh nghiệp khác, ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh của
rất nhiều chính sách, các quy định của chính phủ, của ngân hàng Trung ương
như các luật các tổ chức tín dụng, luật kinh tế, luật dân sự, các quy định về lãi
suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức đối với từng thời kỳ.
*Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội:
Trong các hoạt động của ngân hàng luôn bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc
độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm phát… tác động. Khi nền
kinh tế tăng trưởng hay suy thoái thì đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của
NHTM. Mọi biến động của nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong
việc tăng, giảm nguồn vốn huy động từ bên ngoài của ngân hàng. Nền kinh tế
tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ đó tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ
9
Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
tạo môi trường cho việc thu hút vốn của NHTM thuận lợi. Ngược lại, khi nền
kinh tế suy thoái, lạm phát tăng, người dân không gửi tiền vào ngân hàng mà
giữ tiền để mua hàng hoá, việc thu hút vốn gặp khó khăn.
* Môi trường văn hoá.
Văn hoá là yếu tố quyết định đến tập quán, tâm lý, thói quen trong việc
sử dụng tiền của dân cư. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác
dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của
khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá, khách hàng sẽ không gửi
thêm tiền hoặc gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn. Mặc khác có những
vùng mà người dân quen cất trữ số tiền nhàn rỗi dưới dạng tiền mặt thì việc
huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn .
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ
10

Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
+ Nguồn vốn thực hiện: 110 tỷ đạt 138% kế hoạch (110/80), trong đó
nguồn TCKT là 50 tỷ và nguồn tiết kiệm dân cư là 60 tỷ.
+ Dư nợ thực hiện: 18,2 tỷ đạt 182% kế hoạch (18,2/10 tỷ).
+ Chuyển tiền điện tử trong nước: 40 món ≈ trên 5 tỷ đồng.
+ Kinh doanh ngoại tệ: mua vào 344,581.61 USD và 19,528.81 EUR,
bán 388,995.98 USD và 19,528.81 EUR.
+ Luân chuyển thanh toán 7 món, chuyển tiền 6 món.
* Năm 2005: Chi Nhánh Quảng Uyên tích tích cực đẩy mạnh các biện
pháp đã đề ra và liên tục tìm kiếm các giải pháp mới nhằm giữ vững và phát
triển kinh doanh trong thị trường cạnh tranh.
+ Tổng nguồn vốn thực hiện: 219 tỷ đồng (đạt 184% kế hoạch) với số
lượng khách hàng gửi tiện là 1776 khách hàng, tốc độ tăng huy động vốn so
với năm 2003 tăng 85%.
+ Tổng dư nợ thực hiện:71,7 tỷ đồng (đạt 101,8% kế hoạch) số lượng
khách hàng vay là 116, tốc độ tăng so với năm 2003 tăng 1,8%, không có nợ
quá hạn.
+ Chỉ tiêu lợi nhuận năm 2004: đạt 1,873 tỷ đồng.
+ Công tác thanh toán quốc tế năm 2004 Chi nhánh Quảng Uyên đạt phí
thu 337 triệu đồng tăng 1,5 lần so với năm 2003.
+ Công tác thẩm định cũng được Ngân hàng cấp trên chú trọng. Tính
đến 31/12/2004 Tổ thẩm định đã thẩm định được 43 món đủ điều kiện giải
ngân và từ chối nhiều dự án không khả thi.
+ Công tác Kế Toán – Ngân Quỹ thu chi kiểm điểm đảm bảo đúng qui
trình, gọ gàng chính xác, 100% cán bộ phòng Kế Toán – Ngân Quỹ có thành
tích trả tiền thừa cho khách với 47 lần = 28 triệu đồng và 200 USD.
* Năm 2006. Đến 31/12/2005 Chi nhánh có kết quả kinh doanh như sau:
Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường DLĐĐ
12
Báo cáo thực tập Hà Thu Hường

Báo cáo thực tập Hà Thu Hường
* Năm 2010: Vượt lên trong khó khăn.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, nền kinh tế trong nước đang
đối mặt với nhiều khó khăn. Cùng với xu hướng thế giới Chính Phủ Việt Nam
đã và đang thực hiện các biện pháp điều hành quyết liệt nhằm chặn đà suy
giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững. Hai giải pháp
chính là chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ mở rộng. Chi nhánh
Quảng Uyên với những chính sách đúng đắn đã đứng vững và đạt được những
kết quả tốt. Tổng nguồn vốn là 1267,1 tỷ; Tổng dư nợ 1077,8 tỷ; Nợ xấu 10,14
tỷ; Hệ số lương 1.44
* Năm 2011 : Từng bước vượt qua suy thoái kinh tế.
Cũng như những năm trước Chi Nhánh Quảng Uyên lại tiếp tục đạt được
những kết quả đáng khích lệ trong đó:
+ Nguồn vốn đến 31/12/2010 : 1584 tỷ đồng;
+ Dư nợ là : 1120 tỷ đồng, Nợ xấu 11,9 tỷ;.
2.1.3 Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của chi nhánh NHNo&PTNT
Quảng Uyên
* Huy động vốn
Khai thác và nhận tiền ti ền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền
gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong
nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam; Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam
và ngoại tệ đối với nhiều kì hạn khác nhau.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng
* Hoạt động tín dụng
Cho vay đối với các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau:
+ Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với các
tổ chức kinh tế, cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế theo phân
cấp uỷ quyền.
+ Cho vay uỷ thác theo các chương trình của chính phủ, chủ đầu tư trong
và ngoài nước…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status