Ứng dụng của nấm trong căn bệnh ung
thư và tim mạch Chen, Shiu-Nan Ph.D.
Application of Mushroom Immunomodulatory Peptides,
β-Glucans and Fibrolytic Enzymes
on Cancer and Cardiovascular Disease
z Bác học chuyên khoa bệnh nhiệt đới Đại học
Liverpool Anh
z Giáo sư ngành khoa học sự sống Viện khoa học
sự sống Đại học Quốc Gia Đài Loan
z Giáo sư kiêm chủ nhiệm khoa ngành khoa học sự
sống Đại học Quốc lập Cao Hùng
z Chủ tịch Hiệp hội Glucan sinh học Đài Loan
z Chủ nhiệm Viện Nghiên cứu kiêm chủ nhiệm
khoa sinh học Đại học Quốc lập Đài Loan
z Trung tâm nghiên cứu sinh vật đánh bắt Đại học
Quốc Gia Đài Loan
z Ủy viên Ban chủ nhiệm Ủy ban phát triển ngành
đánh bắt Đại học Quốc Gia Đài Loan
immunomodulators and continuously sought out innovative developments.
Currently, I have finally accumulated substantial experience and results from
years of research and experimentation. After decades of a career in research, I
have not forgotten my original purpose of serving the society in the field of
scientific research. I am constantly reminded of my personal goal of establishing
mushroom immunomodulators as an important industry in Taiwan under the
current field of biotechnology, and I am very happy to see that it has begun its
growth and expansion. In the recent five years, our research has been targeting
the treatments using β – glucan, immonomodulatory proteins of mushroom
enzymes for cancer patients and for those suffering from cardiovascular
disorders. While laboratory work may often be tough and tedious, the joy of
diffusing my confusion has been worth the years of sweat.
Cancer and cardiovascular disorder are two major diseases humans suffer
today. Our research has shown that mushroom-related substances can provide
very positive effects in supplementing the treatment and prevention of these two
diseases. Other than obtaining related research results in proving the clinical
data, this book also offer a discussion of related background information on the
functions and effects of mushroom substances inside the human body. I believe
that strong scientific research evidence plays the crucial role as the backbone for the establishment of any new product in order to be convincing. Only after
presenting the experimental data of the mushroom products to the public care Tôi bắt đầu thiết lập kế hoạch nghiên cứu của chúng tôi về vi khuẩn lên
men sữa Lactobacillus, Bifidobacterium và các polysaccharide điều hòa miễn
dịch từ men trong khoảng năm 1982, cũng vào thời điểm đó chúng tôi bắt đầu
đánh giá khả năng của chất β-glucan từ nấm. Thời gian trôi qua nhanh, và 24
năm đã qua trong chớp mắt, nhưng cũng không thể ít hơn cho một giai đoạn hữu
ích. Trong suốt bấy nhiêu năm, tôi đã tập trung cao độ cho sự nỗ lực nghiên cứu
và khám phá về lãnh vực các yếu tố điều hòa miễn dịch từ nấm và tiếp tục theo
đuổi việc triển khai các phát kiến mới.
Hiện nay, tôi đã tích lũy được những kinh nghiệm và kết quả đáng kể từ nhiều
năm nghiên cứu và thử nghiệm. Sau những thập kỷ của sự nghiệp nghiên cứu, tôi
đã không hề quên mục tiêu nguyên thủy của tôi là phụng sự cho xã hội từ lãnh
vực nghiên cứu khoa học. Tôi luôn tự nhắc nhở mục tiêu về thiết lập hệ thống
điều chỉnh miễn dịch với các loại nấm như là một công nghệ quan trọng tại Đài
Loan trong lãnh vực công nghệ sinh học, và tôi rất vui mừng khi thấy điều này đã
có sự tiến triển và mở rộng. Trong khoản năm năm gần đây, sự nghiên cứu của
chúng tôi tập trung vào việc điều trị sử dụng β – glucan, thuộc nhóm protein
chiết xuất từ nấm có tác dụng điều chỉnh hệ miễn dịch dùng cho các bệnh nhân
ung thư và những người mắc các chứng bệnh tim mạch. Dù rằng công trình
nghiên cứu dai dẵng và mệt mỏi nhưng niềm vui về thành quả của nó đã lan tỏa
và đền bù xứng đáng cho bao năm vất vả qua.
Ung thư và rối loạn tim mạch là hai bệnh chủ yếu mà con người đang mắc
phải ngày nay. Những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng những chất chiết
xuất từ nấm có khả năng gây ra các tác dụng rất tích cực trong hỗ trợ điều trị và
ngăn ngừa hai loại bệnh trên. Ngoài việc đề cập đến những thành quả nghiên
cứu nhằm chứng minh các dữ liệu lâm sàng, quyển sách này cũng đề nghị một sự
hơn.
Shiu-Nan Chen
, Ph.D.
Giáo sư, Ngành khoa học sự sống Trường Đại học Quốc Gia Đài Loan
Ngày 09 tháng 01 năm 2007, viết tại phòng thí nghiệm.
z Điều trị ung thư
__________________________________
z Tế bào là đơn vị cơ bản tạo ra cơ thể
con người
__________________________________
z Giới thiệu sơ lược về bệnh ung thư
__________________________________
z Chẩn đoán ung thư
__________________________________
Điều trị bằng hormone
49
Điều trị bằng gene
50
Điều trị nhiệt
51
Điều trị lạnh
52
Điều trị miễn dịch
5656
Ăn uống của người bị bệnh ung thư
57
Kiểm soát cơn đau của bệnh nhân ung
thư
60
Môi trường gia đình của bệnh nhân
61
Mười nhân tố đẩy lùi ung thư
18
Triệu chứng bệnh ung thư
19
Tên gọi bệnh ung thư
21
21
Chẩn đoán siêu âm
23
Chẩn đoán X-quang
24
Chụp CT
26
Chẩn đoán MRI
28
Chẩn đoán PET
30
Chụp hình miễn dịch phóng xạ
31
Chụp hình thuốc phóng xạ
32
126128136141
141
Bối cảnh khai thác
142
Nghiên cứu và bước tiến về Polysaccharid
144
Cơ chế tác dụng của Polysaccharid và bào
chế thuốc trong tương lai
150
85
Kiến nghị phòng chống ung thư
88
Tự kiểm tra
89
Kiểm tra phòng chống ung thư
91
91
Hệ miễn dịch cơ thể: Phòng tuyến tự vệ
91
Thành viên hệ miễn dịch
92
Tác dụng của hệ miễn dịch
96
Globin miễn dịch
98
Phản ứng dị ứng
101
101
Cơ hội mới cho điều trị ung thư
z Biện pháp điều trị miễn dịch
__________________________________ z Tác dụng chống ung thư về Globin
của chất chiết xuất từ nấm
__________________________________
z Polysaccharid trong nấm giảm tác
dụng phụ của xạ trị và hóa trị
__________________________________
z Polysaccharide trong nấm với di căn
của tế bào ung thư
__________________________________
z Polysaccharide trong nấm và chống
ung thư
__________________________________
z Khai thác và ứng dụng thuốc miễn
dịch Polysaccharid
__________________________________
158158
Cơ chế tạo huyết khối và tan huyết khối
trong cơ thể
160
Thế nào gọi là huyết khối?
161
Thuốc điều trị bệnh huyết khối
164
z Phòng chống và điều trị bệnh tắc
nghẽn do huyết khối
__________________________________
z Polysaccharid của nấm với tác dụng
phòng chống bệnh tim mạch
__________________________________
z Chất chiết xuất nấm và cơ chế cải
thiện tuần hoàn máu
__________________________________
z Công trình nghiên cứu và khai thác
men nấm
__________________________________
truyền như nhau. Tuy nhiên do phân hóa và biểu hiện khác biệt về gene, nên
khiến tế bào xuất hiện với nhiều hình thái và chức năng. Khi sinh trưởng, tế vào
sẽ nhân đôi chất di truyền mang theo. Lúc này, trong tế bào có 2 nhóm DNA
giống hệt nhau, sau đó lại chia chất di truyền ra làm hai. Thế là nhân đôi thành
công hai tế bào giống nhau.
Phần nằm ngoài nhân là tế bào chất. Nếu chúng ta xem tế bào chất là một nhà
máy, thì các bào quan bên trong tế bào sẽ là các phòng ban sản xuất khác chức
năng, chúng phân công cùng duy trì sự trao đổi chất bình thường trong tế bào và
thực hiện chức năng của tế bào.
Ví dụ, Ti thể, cung cấp năng lượng cho tế bào; Ribôxôm, tổng hợp chất đạm
và chất men; còn Gôngi, tổng hợp kết cấu của chất protein; Lixôxôm, giúp phân
hủy chất thải tế bào và chất thâm nhập. Qua phân công và hợp tác của các bào
quan, tế bào thức hiện được chức năng đặc thù, và môi trường làm việc của các
bào quan chính là tế bào chất. Màng sinh chất là kết cấu ngoài cùng của tế bào với chức năng chính là ngăn
cách và bảo vệ, đặc biệt giúp ngăn cách nơi làm việc của từng tế bào, tránh bị can
thiệp. Màng sinh chất chế tạo bởi lớp keo phốtpholipit, có nhiều prôtein khảm
động, prôtein khác nhau, tình trạng khảm động cũng khác nhau, cũng có prôtein
xuyên thấu màng kép. Ngoài prôtein ra, màng sinh chất có lỗ nhỏ để các chất
trong ngoài lưu thông qua lại màng tế bào, vận chuyển các chất, tiếp nhận và
truyền thông tin từ bên ngoài vào trong tế bào. Màng sinh chất có chứa loại
glucose, với nhiệm vụ chính là đón nhận và truyền tải thông tin.
Mỗi tế bào có vai trò khác nhau và thực hiện công việc cũng không giống
nhau. Tế bào phải tạo ra prôtein theo yêu cầu, và hoàn thành công việc. Khi tế
bào thực hiện công việc, sẽ tìm đến chất di truyền AND, tiến hành nhân bản,
chuyển AND thành ARN quá trình này được tiến hành chủ yếu trong nhân tế bào,
được nhiều nhân tố hỗ trợ, để uốn nắn sai lệch. Sau đó tiến hành phân bào II.
Dưới hỗ trợ của bào quan trong tế bào chất, tế bào hoàn thành công việc hữu hiệu
nhiệm vụ phòng chống và điều trị bệnh ung thư.
SINH TRƯỞNG CỦA TẾ BÀO VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA TẾ BÀO UNG THƯ
Từ khi trứng thụ tinh ra đời, cũng là lúc khởi đầu một cá thể sống độc lập, muốn
duy trì sự sống và cơ chế sinh lý bình thường của cá thể, đòi hỏi tồn tại các tế bào
khác chủng loại và chức năng, chúng đều được hình thành từ trứng thụ tinh qua
giai đoạn sinh trưởng và phân hoá của tế bào. Tế bào giữ chức năng khác nhau
ngày đêm làm việc, dù cơ thể đang nghỉ ngơi. Do hoạt động liên tục, nên cũng
giống như máy móc sẽ bị hao mòn, tế bào của cơ thể chúng ta cũng bị lão hóa suy
yếu dần, công suất làm việc cũng bị giảm bớt. Nên cơ thể tùy theo tình hình sẽ
tiến hành đổi cũ thay mới, sản sinh thêm tế bào, để duy trì tốt hoạt động sinh học
cho cơ thể. Sự sinh sản tế bào mới sẽ được hoàn tất qua việc nhân bản của tế bào.
Quá trình sinh trưởng của tế bào gọi là chu kỳ của tế bào, chu kỳ này chia làm 4
giai đoạn, được ký hiệu là G1, S, G2 và M. Pha G1 là giai đoạn tế bào nhân đôi.
Khi tế bào nhận được thông tin sinh trưởng phân chia, sẽ bắt đầu khâu chuẩn bị,
tăng trưởng đến một kích thước nhất định, thì chúng sẽ tiến hành nhân đôi DNA,
kiểm tra theo trình tự sắp xếp DNA trong nhiễm sắc thể, lập tức tu bổ khi DNA bị
khiếm khuyết, và tránh xa những sắp xếp DNA sai lệch. Công việc kiểm tra cần
khoảng 10 đến 12 giờ, sau khi hoàn tất tế bào sẽ đi qua pha S. Khi tế bào không
vượt qua được điểm giới hạn, sẽ đi vào quá trình biệt hóa. Ở pha S tế bào cần 6
đến 8 giờ để diễn ra nguyên phân, hình thành 2 bộ nhiễm sắc thể giống nhau
100%. Pha G2 tiếp tục sau pha S, tiếp tục tổng hợp prôtein có vai trò đối với sự
hình thành thoi phân bào. Chuẩn bị chuyển sang pha M, pha M chủ yếu là phân
chia tách thành 2 tế bào con, tạo thành 2 nhân mới có số nhiễm sắc thể bằng
nhau, và bằng nhiễm sắc thể của bố mẹ. Thế là hoàn thành chu kỳ tế bào.
Trong quá trình nguyên phân, mỗi giai đoạn đều có mặt của chất mem, chất men
xúc tác các phản ứng, giúp uốn nắn những sai lệch, hỗ trợ tế bào hoàn thành
nguyên phân. Khi chất men bất kỳ đánh mất chức năng hoặc biến đổi bất thường,
nguyên phân của tế bào sẽ không bình thường. Nguyên phân của tế bào không
Tế bào của bướu lành tính có hình thái và chức năng gần giống với tế bào bình
thường bên cạnh, sinh trưởng hơi chậm, đa số đều có màng bọc, phân ranh rõ
ràng và sinh trưởng ở chỗ cố định. Có xảy ra hiện tượng chèn ép và gây ra ách
tắt, xong không lan tỏa di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể, chỉ cần tách
bóc, không tái phát, ít nguy hại. Còn kết cấu và chức năng của tế bào ung bướu ác
tính khác nhau rất lớn so với tế bào bình thường, hình thù quái dị, kích thước và
hình thái không đồng đều, chức năng yếu hoặc mạnh hoặc biến mất, tăng trưởng
cực mạnh không chịu khống chế, có tính xâm phạm và lan tỏa, nên dễ xâm nhập
vào các mô hoặc tế bào bình thường để tranh giành chất dinh dưỡng. Bướu ác
tính ngoài gây chèn ép và ách tắt, còn gây xuất huyết hoại tử, và lên cơn sốt, nếu
không được điều trị nó sẽ di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể thông qua hệ
thống bạch huyết hoặc mạch máu. Ngoài ra bướu ác tính sau khi điều trị vẫn có
khả năng tái phát. BẢNG SO SÁNH BƯỚU LÀNH TÍNH VÀ BƯỚU ÁC TÍNH
MỨC SO SÁNH BƯỚU LÀNH TÍNH BƯỚU ÁC TÍNH
Kiểu sinh trưởng Bành trướng, ranh giới rõ, đa số có
màng bọc.
Ngâm tẩm, phá hoại, không ranh
giới, không màng bọc.
Tốc độ sinh trưởng Tăng trưởng chậm, ít nhân đôi. Tăng trưởng nhanh, nhân đôi liên
tục, hoại tử lỡ loét.
Tái phát It tái phát sau phẩu thuật. Dễ tái phát sau phẩu thuật.
Di căn Ít di căn. Di căn qua máu hoặc bạch huyết
Mức độ phân hóa
và kết cấu
Hình thái phân hóa gần giống mô
thường, qui tắc sắp xếp và kết cấu
không chữa trị kịp thời vẫn sẽ có cơ hội chuyển thành bướu ác tính, đôi khi bướu
ác tính cũng có thể chuyển thành bướu lành tính.
NGUYÊN NHÂN CHÍNH HÌNH THÀNH BỆNH UNG THƯ
Nhìn chung gồm 3 lý luận:
1. Mô hình hai giai đoạn hoặc mô hình nhiều giai đoạn
Trước hết là tác nhân gây ung thư (Initiator), gây nên sự biến đổi không bình
thường về DNA, dẫn tới quá trình hình thành chất đạm cũng không bình thường,
làm ảnh hưởng quá trình trao đổi chất trong tế bào, dẫn tới tế bào không bình
thường. Tác nhân gây ung thư bao gồm hóa chất, tia phóng xạ, tia tử ngoại, thuốc
lá, virus v.v. ngoài ra, nếu đồng thời tồn tại tác nhân xúc tác (Promotor), sẽ tăng
nhanh quá trình phát bệnh. Qua nghiên cứu có 35% nguyên nhân gây ung thư có
liên quan đến thức ăn uống, 30% có liên quan đến thuốc lá, còn 10% có liên quan
tới nhiễm độc mãn tính và nhiễm độc virus, ngoài ra còn có các nguyên nhân
khác như làm việc quá sức, thiếu ngủ, strees … nếu chỉ có tác nhân gây ung thư
mà không có tác nhân xúc tác, thì ung thư cũng không thể phát sinh.
2. Sự xuất hiện của gen gây ung thư
Mỗi người chúng ta đều có gen gây ung thư. Trong môi trường thích hợp, gen
này sẽ đóng vai trò môi giới, hình thành tế bào ung thư. Ngoài ra, chúng ta cũng
có vài gen ức chế tế bào ung thư, chức năng giữa các gen này tác động qua lại,
giúp phòng chống tế bào bình thường đột biến thành tế bào ung thư. Trường hợp
tất cả gen ức chế ung thư đều xảy ra đột biến, không còn giữ được chức năng
bình thường, sẽ không thể ngăn chặn sự hình thành của tế bào ung thư, từ đó dẫn
tới bệnh ung thư
số tế bào không bình thường, thì số tế bào không bình thường đó sẽ có cơ hội tiếp
tục tồn tại trong cơ thể và phá hoại sâu hơn.
Trình độ khoa học kỹ thuật khoa học ngày càng phát triển thì ô nhiễm cuộc sống
cũng ngày một tăng lên, cơ thể chúng ta sống trong môi trường đầy ô nhiễm,
cộng thêm sức ép cuộc sống và công việc, hấp thụ nhiều phụ gia gây độc hại qua
chế biến thức ăn. Những tác nhân gây độc hại nêu trên tồn tại và tích lũy dần
trong cơ thể, ảnh hưởng liên tục đến chức năng hoạt động của cơ thể, hệ miễn
dịch từ đó suy yếu dần. Những vật chất có hại trong môi trường cũng gây ảnh
hưởng xấu đến gen, làm cho gen trở nên khác thường, không thể phục hồi tế bào
bình thường và khiến tế bào khác thường tăng nhanh, gây ảnh hưởng xấu đến cơ
thể.
Do tế bào ung thư hết sức ngoan cố. Ban đầu chưa hẳn bị phát hiện và dễ bị di
căn. Nên dù đã xử lý mầm bệnh vẫn lo bị tái phát hoặc di căn. Cho nên chúng ta
luôn luôn cảnh giác và tránh xa tiếp xúc với nguồn ô nhiễm và chú ý nâng cao
chức năng của hệ miễn dịch. Nhằm nâng cao tỉ lệ tiêu diệt của tế bào miễn dịch
đối với số tế bào khác thường, để chúng không gây hại cơ thể. Từ đó giảm tỉ lệ
mắc bệnh ung thư.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH UNG THƯ MANG TÍNH QUY LUẬT
Ung thư là một quá trình diễn biến phức tạp và nhiều giai đoạn, hình thành bởi tế
bào ung thư với đặc điểm chính là sự đột biến về gen di truyền, dẫn tới tế bào liên
tục tăng trưởng khác thường, hình thành ung bướu, xâm phạm đến các tổ chức
xung quanh và di căn sang các cơ quan khác để gây hại. Đây là hình thức chủ yếu
gây hại của tế bào ung thư biểu hiện qua lâm sàng là nhóm bệnh tật toàn thân với
đặc trưng là khối u cục bộ. Nhìn chung, quy trình phát triển của tế bào ung thư
gồm:
phát triển của ung thư máu thì ngay từ đầu đã mang tính toàn thân. Tóm lại trong
quá trình ung thư phát triển trong các cơ quan, ban đầu gây hại ít hơn, điều trị ít
hơn, hiệu quả cũng khá lớn, nhưng sau khi chúng lan tỏa, tỷ lệ trị khỏi sẻ giảm
còn rất thấp, thậm chí mất cơ hội trị khỏi bệnh và trong quá trình điều trị sự tác
hại và tác dụng phụ cũng cao hơn.
TRIỆU CHỨNG UNG THƯ
Do bệnh ung thư gồm rất nhiều loại, và phát sinh trong các bộ phận khác nhau,
nên triệu chứng cũng không giống nhau, mức độ nghiêm trọng cũng có phần khác
nhau. Dưới đây chỉ giới thiệu sơ lược về một vài triệu chứng của bệnh ung thư.
1. Sụt cân: nguyên nhân khả năng gây sụt cân
a. Tăng tốc độ trao đổi chất dẫn đến tăng tiêu hao năng lượng. Tuy nhiên do tỷ lệ
thay đổi trao đổi chất của bệnh nhân ung thư không giống nhau, nên mức độ giảm
cân cũng khác nhau.
b. Bệnh tình ác tính (gầy, yếu cực độ, uể oải và yếu sức đối với số bệnh nhân giai
đoạn cuối).
c. Biếng ăn.
2. Thay đổi vị giác.
3. Thuốc men có thể gây buồn nôn, biếng ăn.
4. Có đến 80% bệnh nhân ung thư có hiện tượng chất đạm bị giảm xuống rất
thấp, do nguyên nhân tai biến trong ruột.
TÊN GỌI BỆNH UNG THƯ
Tên được đặt theo nguồn gốc tế bào bị bệnh.
• Ung thư tế bào thượng bì (Carcinoma)
bụng……
Ưu khuyết điểm
1. Chẩn đoán siêu âm giúp tìm ra hình thù, kích thước, chức năng co giản của
túi mật, là biện pháp tốt nhất để kiểm tra bệnh túi mật.
2. Siêu âm nhận biết được động mạch bụng, xác định vị trí và tai biến của
tuyến tụy, xác suất phát hiện bướu tuyến tụy đạt 85-90%
3. Có giới hạn đối với các chứng viêm tuyến ngực mãn, xơ cứng, ung thư
tuyến ngực giai đoạn đầu và bướu xơ kém màng bọc, còn cần nghiên cứu tiếp
và nâng cao.
4. Siêu âm không xuyên thấu mô phổi có không khí, nên không ý nghĩa mấy
đối với khám u phổi.
5. Hiệu quả khám dạ dày và ruột không lý tưởng, kém hơn so với chụp X
quang và nội soi.
Chẩn đoán X quang
Ứng dụng tác dụng xuyên thấu, huỳnh quang và cảm quang của X quang, xuyên
thấu cơ thể, chụp lên hình ảnh trên màn hình hoặc phim, để tiến hành chẩn đoán.
Chụp X quang này được áp dụng ở các khoa lâm sàng, so sánh tỷ lệ ở các bộ
phận như ngực, xương, khi phát hiện khác thường về mật độ, mới cần kiểm tra
thêm hoặc chụp khác. Hiện nay chủ yếu được ứng dụng để phát hiện khối u ngực,
hệ thống xương, hệ tiêu hóa, tiết niệu, não,...
Ưu khuyết điểm
1. Do hệ thống xương có mật độ cao trong kết cấu cơ thể. Tỉ lệ nổi bật so với
mô xung quanh, chất xương bị phá hoại hay tăng sinh do ung bướu, sẽ trông rõ
ràng qua phim chụp X quang, tiện cho chẩn đoán.
quanh khối u... qua đó tiến hành định vị chẩn đoán.
2. Đối với khối u nằm trong cơ quan phủ tạng có khoản trống, do thành ruột
mỏng, có hơi, ảnh hưởng của tiêu hoá và thức ăn thừa, đôi khi gây khó khăn
khi chụp, nên không dễ phát hiện sớm khối u giai đoạn đầu.
3. Do chụp CT cần thời gian, nên cũng chịu ản hưởng bởi hoạt động sinh lý
như hít thở, nhịp tim, nhu động ruột, mà sinh ra ngộ nhận, làm giới hạn kết quả
chẩn đoán.
4. Đối với biến chứng nhỏ dễ bị bỏ qua.
5. Do khối u thiên lành tính có mật độ gần như mô bình thường, độ quét hình
không rõ, khó chẩn đoán phát hiện.
6. Giá đắt, có thể có bức xạ gây hại nhất định.
Chẩn đoán MRI
Ứng dụng lâm sàng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ là một cuộc cách mạng hình
ảnh học ngành y, sau kỹ thuật CT và siêu âm. Với nguyên lý tận dụng sóng điện
và từ trường, để tạo nên hiện tượng cộng hưởng của proton bên trong cơ thể từ đó
quan sát hình ảnh bên trong. Do cơ thể chúng ta có nhiều mô, như xương sụn,
xương cứng, mô mềm...,
hàm lượng nước và mỡ của các cơ quan cũng khác nhau,
mật độ proton trong môi trường bình thường và tai biến cũng có chênh lệch.
nên nghiên cứu trạng thái phân bổ của proton qua độ phân giải 2D, 3D, có ý
nghĩa lớn trong ngành y học. Chụp MRI không gây hại vì không có tia bức xạ, có
ưu điểm là độ phân tích mô và không gian cao, không bị can thiệp ngộ nhận.
Đồng thời với liều so sánh khác, sẽ giúp tìm thấy thay đổi giữa dòng máu trong
mạch và tim. Nay đã được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán ung thư.
giữa mô lành tính và mô ác tính (vết sẹo sau xạ trị).
PET chủ yếu dùng để chẩn đoán ung thư phổi, đầu cổ, trực tràng, thực quản, bạch
huyết, ngực, da, buồng trứng, tuyến giáp, cổ tử cung, tụy tạng, bướu não,…
Ưu khuyết điểm
1. Độ phân giải và tính chính xác cao, đặc biệt khi phân biệt bướu lành hoặc ác
tính. Đánh giá và theo dõi hiệu quả chẩn đoán và điều trị tốt.
2. Có thể quét kiểm tra toàn thân, ngoài kiểm tra khối u, còn tổng quan bạch
huyết, phổi, gan, xương.
3. Khuyết điểm lớn nhất của kỹ thuật PET là không cung cấp vị trí giải phẩu
chính xác. Hiện nay đang nghiên cứu sử dụng PET kết hợp với ảnh tổng hợp từ
CT và MRI, để nhìn rõ vị trí chính xác của mô ung thư từ 3D; và máy quét mới
sẽ là bộ máy kết hợp PET và CT.
RII : Chụp hình miễn dịch phóng xạ
Tiêm kháng thể đặc thù (có kháng nguyên liên quan với ung thư) có ký hiệu
phóng xạ vào cơ thể, khi theo máu đi tới khối u, sẽ kết hợp với kháng nguyên của
khối u, xuất hiện tia phóng xạ lớn hơn mô thường, qua kỹ thuật chụp bên ngoài,
thu được hình ảnh dương tính.
Hiện nay chủ yếu áp dụng cho chẩn đoán ung thư trực tràng, ung thư gan nguyên
phát, ung thư buồng trứng, phổi, tuyến tiền liệt, u nội tiết AFP, khối u CEA....
Ưu khuyết điểm
1. Kỹ thuật này tìm ra khối u bị kỹ thuật khác ngộ nhận hoặc chẩn đoán sai,
dùng trong giai đoạn đầu hoặc phân kỳ, tìm ra vị trí tái phát hoặc lan tỏa.
2. Khá nhạy bén, chuyên biệt và tính chính xác cao.
3. Trạng thái cung cấp máu của mô ung thư và mức độ kháng nguyên của khối
u, sẽ quyết định mức độ tụ tập của kháng thể có ký hiệu. Khối u chu cấp máu
tốt sẽ cho hiệu quả định vị cao hơn; khi khối u bị hoại tử, thiếu máu, hiệu quả
điều trị hữu hiệu đa dạng đối với u lành tính, u ác tính cạn, ung thư giai đoạn đầu.
Đối với ung thư giai đoạn cuối, phẩu thuật nội soi và ứng dụng kỹ thuật lồng
bụng, giúp thuyên giảm triệu chứng, kéo dài mạng sống. Do vậy, kỹ thuật nội soi
không ngừng được cải tiến và ứng dụng, giúp nâng cao hiệu quả điều trị ung thư
và phát triển lâm sàng.
Hiện nay, kính nội soi gồm kính thực quản, kính tá tràng, kính lồng ngực, kính
thanh khí quản, kính bàng quang....
Ưu khuyết điểm
1. Tìm hiểu trực tiếp hình thù, phạm vi, tính chất của khối u, chẩn đoán mô
tươi, làm căn cứ tin cậy cho chẩnn đoán hoặc điều trị.
2. Giúp kiểm tra, nhận định, chụp hình đối với tai biến ở các cơ quan, chỗ hẹp,
khối u giai đoạn đầu, là thiết bị quan sát ung bướu ban đầu hữu hiệu nhất hiện
nay.
3. Giúp đi sâu nghiên cứu ung bướu và bệnh liên quan, tìm ra nguyên nhân
bệnh, cơ chế phát bệnh.
4. Tiến hành phẩu thuật kín hoặc nữa kín cho khối u lành hoặc ác tính.
5. Quá trình kiểm tra làm bệnh nhân khó chịu và đau đớn. Chẩn đoán bệnh lý
Là cắt lấy mẫu hoặc phết lấy mẫu để soi dưới kính hiển vi, quan sát kết cấu và
hình thù tế bào. Chẩn đoán qua hình ảnh, sinh hoá, miễn dịch về ung thư, tuy có
bước phát triển, song muốn xác định tính chất, chủ yếu còn phải dựa trên chẩn
đoán bệnh lý. Đây là một nhánh của ngành bệnh lý học, thường chia làm bệnh lý
mô và bệnh lý tế bào. Chẩn đoán tìm ra bướu lành bướu ác, làm căn cứ lâm sàng.
Đồng thời còn dựa trên chỉ tiêu “phân loại ung thư chuẩn quốc tế”, tìm ra kết quả
chẩn đoán và tên gọi thống nhất cho bệnh lý. Có lợi cho giao lưu và nghiên cứu.
Hiện nay, chủ yếu ứng dụng trên ung thư di căn bạch huyết, ung thư cổ tử cung,
gan, phổi, ung thư cổ họng, dạ dày,…
Tuy nhiên, với vật tiêu biểu đã biết hiện nay, tuyệt đại đa số có cả ở bướu lành và
bướu dữ, thậm chí mô phôi thai và mô bình thường. Chẳng còn là sản phẩm đặc
thù, tuy chỉ nhiều hơn ở người bệnh u ác tính. Nên gọi là kháng nguyên có liên
quan đến ung bướu.
• Ptis : ung thư vị trí cố định : trong thượng bì, chỉ xâm phạm lớp cố định.
• PT0 : mô tách phẩu thuật không phát hiện ung thư nguyên phát.
• PT1, PT3, PT3, PT4 : ung bướu nguyên phát lớn lên.
Vật tiêu biểu của ung bướu được chia làm nhiều loại lớn: kháng nguyên phôi thai,
(như AFP, CEA, ACTH), men (như LDH, NSE, men PAP tuyến tiền liệt, β2M),
sản phẩm trao đổi chất, kháng nguyên ung bướu (như CA19-9, CA125, CA), gen
ung thư (như là e-mye, ras, p53, Rb), nguyên tố vi lượng (như sắt, kẽm, đồng,
arsenic và selenium).
• PTx : sau phẩu thuật và kiểm tra bệnh lý, đều không thể xác định phạm vi ngâm
tẩm của ung bướu.
PN : hạch bạch huyết cục bộ.
• PN0 : hạch bạch huyết chưa di căn.
Kiểm tra vật tiêu biểu ung thư và nghiên cứu lâm sàng có ý nghĩa quan trọng, ứng
dụng các mặt sau :
• PN1, PN2, PN3 : hạch bạch huyết tăng di căn.
• PN4 : hạch bạch huyết di căn xung quanh.
1. Kiểm tra ung bướu : là cách chính để phát hiện và chẩn đoán ung thư gan
• PNx : phạm vi ngâm tẩm ung bướu không xác định.
2. Kiểm tra người có nguy cơ mắc bệnh ung bướu cao : tỉ lệ người mắc bệnh
ung thư tuyến giáp cao hơn khi có bệnh sử gia đình về bệnh này.
PM : di căn vùng xa.
3. Chẩn đoán ung thư : men acid phosphate ở tuyến tiền liệt khác với ở mô khác,
có thể dùng để chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt hoặc phán xét ung thư di căn có
phải đến từ tuyến tiền liệt.
Phân cấp bệnh lý ung thư
Tùy theo hình thù bệnh lý, phân cấp bệnh lý cho ung bướu, để nắm vững mức độ
ác tính, dùng làm căn cứ cho điều trị lâm sàng và dự phòng. Theo tổ chức UICC, căn cứ kích thước, phạm vi (T), hạch bạch huyết (N) và tình
trạng di căn (M), để phân cấp bệnh lý cho ung bướu như sau : ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
Ung thư không phải là chứng bệnh cục bộ, mà là căn bệnh toàn thân hết sức phức
tạp. Ung thư giai đoạn giữa và cuối mang biến chứng toàn thân. Tỉ lệ phát sinh
các loại ung bướu và vị trí, phạm vi biến chứng, mức độ nghiêm trọng, giai đoạn
chia bệnh, quá trình biến chứng, điều kiện chữa trị, do các nhân tố không giống
nhau nên phản ứng và hiệu quả điều trị cũng khác nhau.
Trong vài chục năm qua, đã ra đời nhiều cách chữa trị bệnh ung thư. Chủ yếu
gồm điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, hormone, điều trị nhiệt, điều trị lạnh,
điều trị miễn dịch. Trong đó, liệu pháp phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, là 3 liệu pháp
thường dùng nhất trong các bệnh viện. Các liệu pháp trên có thể dùng kết hợp,
hoặc dùng riêng biệt. Khi dùng kết hợp trên hai liệu pháp, ngoài liệu pháp chính,
liệu pháp còn lại đóng vai trò phụ trợ. Song 3 liệu pháp được xem là cách điều trị
tiêu biểu nhất hiện nay, có lẽ làm ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư, giúp
căn bệnh thuyên giảm, nhưng không có cách uốn nắn nguyên nhân gây bệnh
chính đó là sa sút hệ miễn dịch, đôi khi còn gây giảm chức năng miễn dịch. Vì
3. Căn cứ vào đặc tính sinh vật học của ung bướu mà chọn cách điều trị tương
ứng. Đối với những khối u phân hóa tốt, hơi chín mùi, mức độ ác tính không cao.
Tế bào ung thư gần giống như tế bào mô bình thường, nên tiến hành điều trị phẫu
thuật là chính. Vì có những trường hợp ung thư chỉ cần phẫu thuật cắt bỏ là sẽ
được hồi phục. Đối với những khối u phân hóa kém hơn, ác tính cao hơn, tế bào
ung thư khác nhiều so với các mô ban đầu thì phải tiến hành điều trị toàn thân là
chính, chờ ổ bệnh teo lại mới áp dụng điều trị cục bộ như phẫu thuật, hoặc xạ trị.
Điều trị ung bướu cần áp dụng và phát huy sự kết hợp giữa các khoa phòng để
tiến hành điều trị tổng hợp, thông qua hội chẩn để chọn ra phương pháp điều trị
tốt nhất. Đối với một người bệnh ung bướu, khâu chẩn đoán và điều trị, ít nhất
phải tham khảo ý kiến hội chẩn của 5 chuyên gia gồm : bệnh lý, khoa ngoại, khoa
nội, chẩn đoán phóng xạ và điều trị phóng xạ, thậm chí phải mời thêm bác sĩ
chuyên khoa để tham gia hội chẩn. Tổng hợp các cách điều trị, để phát huy sở
trường của từng cách để đạt đến hiệu quả tốt nhất.
Theo bước chân tiến bộ của ngành y học, liệu pháp điều trị ung thư ngày càng gia
tăng, vì chủ thể điều trị là người bệnh và chịu đựng nỗi đau cũng là người bệnh,
nếu không trị khỏi, thì mất mạng cũng là người bệnh, cho nên bản thân người
bệnh phải quan tâm chịu khó thu tập thông tin, suy nghỉ và tìm ra cái lợi và tác
dụng phụ của điều trị. Xuất phát từ giá trị quan trọng của bản thân, tự quyết định
phương chân điều trị cho mình. Mối quan hệ giữa nhân viên y tế và người bệnh
phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cùng quyết định và cùng chịu
trách nhiệm.
ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
Chủ yếu để nhanh chóng cắt bỏ khối u ác tính, là cách điều trị xưa nhất, truyền
thống và thường dùng. Khoảng 90% bệnh ung thư được chẩn đoán và điều trị
từng giai đoạn bằng phẫu thuật. Đối với khối u nhỏ hơn và chỉ ở một nơi trong cơ
thể, cách này là cách điều trị mang lại hiệu quả tốt. Trường hợp tế bào ung thư đã