MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Hoàng
Trù, nay thuộc xã Kim Liên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Trong quãng
thời gian từ khi sinh ra đến trước khi xuất dương, Bác đã sinh sống ở nhiều
nơi. Đó là quê hương Nghệ Tĩnh với truyền thống yêu nước và đấu tranh
chống Pháp kiên cường. Đó là thành Huế với bao cảnh đau lòng của một dân
tộc bị làm nô lệ, Nguyễn Tất Thành là người thanh niên vượt qua gian khó,
đã sớm bộc lộ mầm mống trí lớn của một con người mà sau này trở thành
anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Người sinh ra
trong thời buổi dân tộc Việt Nam đang sống lầm than, tủi nhục, dưới ách
thốnh trị của thực dân Pháp. Lớp lớp sĩ phu và đồng bào yêu nước đã đứng
lên chiến đấu giành lại độc lập tự do, nhưng đều đi đến thất bại. Sứ mệnh
lịch sử đặt ra cho dân tộc, cho mỗi một người dân yêu nước cũng như cho
các dân tộc bị áp bức trên thế giới lúc bấy giờ, là tìm ra phương sách cứ
nước, cứu dân. Đó là thách thức của thời đại. Thời thanh niên, Nguyễn Tất
Thành được học chữ Hán, rồi chữ Pháp của nền giáo dục thực dân. Vốn là
con người thông minh ham học hỏi, Nguyễn Tất Thành đã để ý đến câu khẩu
hiệu của nước Pháp: tự do – bình đẳng – bác ái. Và người tự hỏi, đằng sau
ba chữ đó là sự thật như thế nào. Và vì sao dân tộc ta vẫn phải chịu cảnh nô
lệ lầm than. Những câu hỏi đó cộng với lòng yêu nước, ý chí vượt khó đã
thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước. Vốn có tư chất thông minh, nhạy
bén về chính trị, công thêm có thế giới quan khoa học, tư duy độc lập Người
đã ôm ấp chí lớn cứu nước, cứu dân, lại không chịu đi theo lối cũ của các
bậc tiền bối. Với nghị lực phi thường, Người đã quyết chí đi sang phương
tây để thấy tận mắt đất nước của những kẻ đã tới xâm lược dân tộc mình
mong tìm con đường giải phóng dân tộc.
Sinh thời, Người đã từng nói với đồng bào mình “tôi chỉ có một ham
muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập tự do, đồng
bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, nhà ở, được học hành tiến bộ, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được hưởng quyền tự do dân chủ mà họ xứng
đáng được hưởng với tư cách người chủ và làm chủ xã hội”. Đó thực sự là
Ngày sinh của Người.
Thật khó mà tách rời Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc với
Hồ Chí Minh - nhà văn hóa kiệt xuất. Bởi vì, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi
giặc ngoại xâm, với vinh dự lớn là một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc
to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng nhân dân khỏi thân phận nô
lệ, khỏi cái đói, cái rét, giành lại cho nhân dân Việt Nam những quyền sống
của con người, một cuộc sống có văn hóa, đó không chỉ là một sự nghiệp
chính trị phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là cuộc đấu tranh không
mệt mỏi của Người cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, chính là sự nghiệp văn
hóa cao cả nhất.
NỘI DUNG
1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
1.1 Tình hình thế giới
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 là cuộc khủng hoảng
nghiệm trọng và sâu sắc nhất trong lịch sử chủ nghĩa tư bản. Nó chấm dứt
thời kỳ ổn định tam thời của chủ nghĩa tưu bản trong những năm 20. Tháng
10 -1929, cuộc khuỉng hoảng nổ ra ở Mỹ rồi lan sang các nước tư bản khác.
Mức sản xuất của toàn bộ thê giới tư bản chủ nghĩa giảm 42%, trong khi đó
về tư liệu sản xuất giảm 53% [7, 132]. Cuộc khủng hoảng diễn ra ở tất cả
các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp và tài chính. Tuy nhiên
ở các nước khác nhau, mức độc và thời gian diễn ra khủng hoảng cũng khác
nhau, tiêu biểu là các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp….
Cuộc khủng hoảng các nước tư bản đã lan ra sang các xứ thuộc địa. Nhân
dân các nơi này phải chịu gánh nặng khủng hoảng của “ chính quốc”. Tình
hình đó làm cho nền kinh tế thuộc địa vốn đã lạc hậu, phụ thuộc lại càng suy
sụp, tiêu điều hơn. Cuộc sông của nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc
ngày càng điêu đứng. Chính vì thế, những cuộc nổi dậy đấu tranh nổ ra
không ngớt. Để củng cố nền thống trị đang bị lung lay, giai cấp tư sản các
nước tìm cách tăng cường nền chuyên chính của mình. Các lực lưọng cực
đoan, chế độ độc tài, chủ nghĩa phát xít bành trướng ở nhiều nơi, trước hết là
2.1.1 Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời và hoạt động của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Thứ nhất là đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đã mở
đầu một thời kỳ mới, vô cùng oanh liệt trong lịch sử dân tộc. Lúc này, dù
đang hoạt động ở nước ngoài, trên cương vị là người đại diện Ban Phương
Đông, Nguyễn Ái Quốc giữ liên lạc chặt chẽ với Quốc tế Cộng sản, đồng
thời theo dõi chặt chẽ phong trào cách mạng trong nước. “Người đã thấy sự
cần thiết phải thành lập và xây dựng một Đảng Cộng sản để lãnh đạo cuộc
đấu tranh, và chính Người đã bắt tay xây dựng nên Đảng Cộng sản Đông
Dương, và sau này là Đảng Lao động Việt Nam, Người đã tổ chức nên đảng,
giáo dục đảng và rèn luyện Đảng trong cuộc đấu tranh. Chính nhờ vậy mà
nhân dân Việt Nam đã có đựoc đội tiên phong của mình, một Đảng sáng
suốt biết đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ của nhân dân trong một mặt
trận rộng rãi để đưa họ đến thắng lợi” ( Phidencaxtơrô tại Hà Nội ngày
17/9/1973)[ 10 , 430]
- Thứ hai là thông báo sự ra đời của đảng và kêu gọi sự ủng hộ ở bên
ngoài: Cuối tháng 4, Người đến Malaixia làm nhiệm vụ và sau khi thoát
khỏi cuộc vây bắt ở Xingapo (lúc đó thuộc Malaixia), Theo ủy nhiệm của
Quốc tế Cộng sản, cuối tháng 4-1930, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm và
Malaixia. Đến Đông Bắc Xiêm (Thái Lan ngày nay), Người báo tin cho một
số đồng chí ở đây biết các nhóm cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất thành
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 27-2-1930, Người viết thư gửi đại diện
Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản, báo tin Đảng Cộng sản Việt Nam
đã được thành lập, đề nghị công bố trên báo Nhân đạo (L’Humanité) và tập
san Thư tín quốc tế (Inprecor)Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam. Người cũng yêu cầu Đảng Cộng sản Pháp cho biết tên những con
tàu chạy tuyến đường Pháp – Viễn Đông, có các đồng chí cộng sản Pháp làm
việc trên đó để bắt liên lạc. Trong thư, Nguyễn Ái Quốc viết: Chưa thể về
nước, không tham gia Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, vì đang chịu
“một cái án tử hình vắng mặt”.
trình độ đảng viên, tất cả Chỉ thị và Nghị quyết mới được thi hành, tư tưởng
và hành động của đảng viên mới thống nhất” [6, 75 – 76]
Người còn nhấn mạnh việc phải ra sức củng cố và phát triển đảng, Hồ
Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng đoàn kết, nhất trí trong đảng, trên cơ
sở Chủ nghía Mác- Lênin và đường lối đúng đắn của Đảng, Người coi giữ
gìn đoàn kết, nhất trí trong Đảng như gìn giữ con ngươi của mắt mình. Với
Người sự đoàn kết, nhất trí của Đảng phải đựoc thực hiện trên tất cả trên tất
cả các mặt như chính trị, tư tưởng và tổ chức, Người luôn luôn giữ vững
nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng và căn dặn mọi đẩng viên phải bảo
vệ và quyết tâm thực hiện đưòng lối chủ trường của đảng… luôn luôn trau
rồi phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng. Đối với Người đào tạo cán bộ
cách mạng cho đời sau là một việc rất cần thiết cho sự nghiệp xây dựng
Đảng. Đồng thời Người thẳng thắn phê bình Đảng còn kém đường bí mật
công tác, nhắc nhở Đảng phải tìm cách bảo vệ cán bộ, không để địch tìm
cách “túm mòn” hết cán bộ và phải biết tự đặt câu hỏi “Vì sao mà bị lộ để
suy nghĩ, và tìm cách sửa đổi”
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một nước phong kiến lạc hậu ở
phương Đông, bị chủ nghĩa thực dân xâm lược và nô dịch từ cuối thế kỷ
XIX, Việt Nam vốn là một dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân
ái, có nền văn hiến lâu đời. Từ khi Pháp xâm lược thì ngay từ đầu phong trào
đấu tranh của nhân dân ta đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và liên tục. Do vậy
ngay từ đầu Người đã đề ra những luận điểm về tính chất chủ động, tính tích
cực của cách mạng giải phóng dân tộc, của nhân dân các nước thuộc địa, bổ
sung vào những luận điểm chung lúc bấy giờ. Nhân dân các dân tộc thuộc
địa và phụ thuộc có thể “ chủ động đứng lên, đem sức ta mà giải phóng cho
ta” [2, 83]. Giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc, Người đã có những
luận điểm sáng tạo phù hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam ta về tổ chức,
lãnh đạo cách mạng, nhân tố cơ bản đảm bảo cho thắng lợi.
Khái quát quy luật đặc thù của con đường hình thành Đảng cộng sản
Việt Nam trong bài “ 30 năm hoạt động của Đảng” Người viết Chủ nghĩa
vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng
thắng lợi. đó là đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân rồi chuyển
ngay lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước nong nghiệp vốn là
thuộc địa. Đó là giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Với lý luận của Người về cách mạng thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh dày
công đặt nền móng tư tưởng cho việc xây dựng đường lối cách mạng của
Đảng. Một sự tổng hợp những quan điểm chiến lược có tính chỉ đạo lớn về
chính tri và lý luận, về nhân thức và hoạt động về phương pháp và mục tiêu
chiến thắng kẻ thù và xây dựng đất nước. Nắm vững đường lối ấy của
Người, chúng ta có căn cứ khoa học để hiểu, vì sao đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh lại có thể kết hợp được sức mạnh của dân tộc với sứ mạnh chủ nghĩa
xã hội, sức mạnh của nhân dân ta với sức mạnh của thời đại, gắn liền cuộc
chiến đấu của nhân dân ta với thế tiến công của ba dòng thác cách mạng thế
giới.
2.1.2 Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với phong trào cách mạng từ 1930-
1931 và phong tràocXô Viết Nghệ - Tĩnh
Ngay từ khi mới ra đời , nhờ có đường lối đúng đắn, Đảng ta đã tổ
chức và lãnh đạo một cao trào cách mạng xưa nay chưa từng có ở nước ta,
xây dựng đựoc khối liên minh công nông và thành lập được chính quyên Xô
Viết ở nhiều nơi trong tỉnh Nghệ- Tĩnh. Đó là bản chất anh hùng ca đầu tiên
trong lịch sử đấu tranh anh dũng của Đảng ta. Trong thời gian khoảng chừng
một tháng ở Liên Xô, Người còn làm những nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản
giao. Vào cuối tháng 5-1930, Người quay trở lại Hồng Kông. Tại đây Người
đã nhận được tin tức về phong trào cách mạng trong nước, cùng những báo
cáo về hoạt động của Đảng trong quần chúng công nhân, binh lính và bà con
người Việt Nam ở Thượng Hải. Tại Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc họp với
Nguyễn Lương Bằng, Hồ Tùng Mậu, Đỗ Ngọc Du và Lưu Quốc Long ,
hướng dẫn họ cách vận động cách mạng trong binh lính, làm báo Kèn gọi
lính. Người còn giới thiệu đồng chí Nguyễn Lương Bằng với đồng chí Thái
Sướng, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, để được giúp đỡ trong công
thư, báo cáo cho Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Nông dân, đề nghị giúp đỡ
các nạn nhân bị khủng bố. Đồng thời vơi tư cách là người đại diện của Quốc
tế Công sản, người đưa ra những lời khuyên bảo đối với Đảng vừa mới được
thành lập, đồng thời nhấn mạnh việc phải làm cho nông dân hiểu rõ: Cần
tiến hành kết hợp đấu tranh kinh tế với chính trị, làm cách mạng ruộng đất
“chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương” [6, 567]. Cơ
quan an ninh Đông Dương, được biết ít nhiều vì sao các mối quan hệ của
Người đối với những hoạt động cách mạng trong nước, và cho rằng Người
chỉ đạo toàn bộ phong trào và Người đã làm việc này ngay cả khi người ỏ
Hồng Kông, từ khi Người còn ở Thái Lan. Nhưng Nguyễn Ái Quốc không
chỉ là người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương từ nước ngoài. Là
người phụ trách khu vực Đông Nam Châu Á trong Quốc tế Cộng sản, Người
thúc đấy hoạt động, chính sách trong toàn bộ khu vực khi Người ở Thái Lan,
Malaixia, Singapo.
Ngày 19/2/1931 với bí danh là Víctor Người gửi các bức thư gửi
Quốc tế Cộng sản và các bài viết kêu gọi ủng hộ phong trào đấu tranh của
nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Xôviết Nghệ Tĩnh, Nguyễn Ái Quốc đã giới
thiệu tóm tắt tình hình địa lý, nhân văn, hành chính và phong trào cách mạng
của hai tỉnh, tố cáo những thủ đoạn đàn áp dã man của thực dân Pháp và
phong kiến Nam triều “ Nhân dân đói khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở, sưu
thuế nặng nề và nạn áp bức chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực
hơn”[3, 73]. Hồ Chí Minh khẩn thiết đề nghị với Quốc tế cộng sản, các tổ
chức quốc tế, các đảng anh em có những hình thức đấu tranh phối hợp ủng
hộ, góp ý kiến và trao đổi kinh ngiệm đấu tranh, giúp đỡ về tinh thần và về
vất chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh anh dũng của nhân
dân Việt Nam nói chung và phong trào Xôviết Nghệ Tĩnh nói riêng về mọi
mặt, góp phần ngăn chặn sự đàn áp đẫm máu của bọn đế quốc đối với phong