Chương 1: Mở đầu về hóa học phức chất - Pdf 71


Hỗn hợp phức chất
NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2006.
Tr 4 – 12.

Từ khoá: Phức chất, hóa học phức chất, ion trung tâm, phối tử, gọi tên phức chất, phân
loại phức chất.
Tài liệu trong Thư viện điện tử ĐH Khoa học Tự nhiên có thể được sử dụng cho mục
đích học tập và nghiên cứu cá nhân. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, in ấn phục
vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp thuận của nhà xuất bản và tác giả. Mục lục

Chương 1 MỞ ĐẦU VỀ HOÁ HỌC PHỨC CHẤT .........................................................2

1.1

Những khái niệm cơ bản của hoá học phức chất.....................................................2

1.1.1

Ion trung tâm và phối tử ....................................................................................3

1.1.2

Số phối trí .........................................................................................................3

1.1.3

Dung lượng phối trí của phối tử .........................................................................5

,...). Những hợp chất đơn giản lại có thể kết hợp
với nhau tạo thành hợp chất bậc cao, hay hợp chất phân tử, ví dụ K
2
HgI
4
(HgI
2
.2KI);
Ag(NH
3
)
2
Cl (AgCl.2NH
3
); K
4
Fe(CN)
6
[Fe(CN)
2
. 4KCN]... Gọi chúng là các hợp chất phân tử
để nhấn mạnh rằng ở đây không phải là các nguyên tử hay các gốc, mà là các phân tử kết hợp
với nhau. Cấu tạo của chúng không được giải thích thoả đáng trong khuôn khổ của thuyết hóa
trị cổ điển. Có một vấn đề đặt ra là trong số các hợp chất phân tử thì hợp chất nào được gọi là
hợp chất phức (phức chất).
Theo A. Werner, tác giả của thuyết phối trí thì phức chất là hợp chất phân tử nào bền
trong dung dịch nước, không phân huỷ hoặc chỉ phân huỷ rất ít ra các hợp phần tạo thành hợp
chất đó. Trong lịch sử phát triển của hoá học phức chất đã có nhiều định nghĩa về phức chất
của các tác giả khác nhau. Tác giả của các định nghĩa này thường thiên về việc nhấn mạnh
tính ch

3
)
2
. Có thể coi hợp chất này là
sản phẩm kết hợp giữa Cu(NO
3
)
2
và pyriđin (Py). Tính chất của phức chất tạo thành khác biệt
với tính chất của các chất đầu. Phức chất trên có khả năng tồn tại ở dạng tinh thể và trong
dung dịch.
Định nghĩa này tất nhiên cũng chưa thật hoàn hảo vì bao gồm cả các oxiaxit kiểu H
2
SO
4

và các muối sunfat. Điều này không phải là nhược điểm, vì về một số mặt có thể coi các hợp
chất này là phức chất. 3
Cho đến gần đây người ta vẫn còn bàn luận về khái niệm phức chất. Theo K. B.
Iaximirxki thì “phức chất là những hợp chất tạo được các nhóm riêng biệt từ các nguyên tử,
ion hoặc phân tử với những đặc trưng: a) có mặt sự phối trí, b) không phân ly hoàn toàn
trong dung dịch (hoặc trong chân không), c) có thành phần phức tạp (số phối trí và số hoá trị
không trùng nhau)”. Trong ba dấu hiệu này tác giả nhấn mạnh sự phối trí, nghĩa là sự phân b

hình học các nguyên tử hoặc các nhóm nguyên tử quanh nguyên tử của một nguyên tố khác.
Do có mặt sự phối trí trong phân tử nên hiện nay người ta còn gọi phức chất là hợp chất
phối trí. Tuy nhiên, khái niệm “phức chất” rộng hơn khái niệm “hợp chất phối trí”. Phức chất


Các phối tử phối trí qua nguyên tử cacbon thường là các gốc (ví dụ

CH
3
) và tương tác
của chúng với nguyên tử kim loại là sự hình thành liên kết cộng hóa trị nhờ sự ghép đôi các
electron. Cách thức này thường gặp trong hoá học của các hợp chất cơ kim.
Về hình thức có thể coi liên kết M – CH
3
là kết quả tương tác của nguyên tử cho C trong
anion :CH
3

với cation kim loại. Là chất cho elecctron σ, phối tử có thể đồng thời đóng vai trò
chất cho hoặc chất nhận các electron π. Điều này xảy ra với những phối tử mà phân tử của
chúng là chưa bão hoà, ví dụ CO, NO, CN

v.v...
Có nhiều phức chất ion trung tâm là phi kim, ví dụ trong ion amoni NH
4
+
, oxoni H
3
O
+
, ...
đóng vai trò ion trung tâm là nitơ và oxi.
1.1.2 Số phối trí


trong
[Al(H
2
O)
6
]Cl
3
có s.p.t. = 6, ion La
3+
trong [La(H
2
O)
9
](NO
3
)
3
có s.p.t. = 9. Trong một số
trường hợp s.p.t. có thể còn cao hơn nữa, ví dụ đối với phức chất của đất hiếm, ion đất hiếm
còn có thể có s.p.t. = 12. Các số phối trí thường gặp là 4, 6 và 2. Chúng tương ứng với các cấu
hình hình học có đối xứng cao nhất của phức chất: bát diện (6), tứ diện hoặc vuông (4) và
thẳng (2).
Thực nghiệm cho biết rằng có những ion được đặc trưng bằng s.p.t. không đổ
i, ví dụ các
ion Co(III), Cr(III), Fe(II), Fe(III), Ir(III), Ir(IV), Pt(IV),… đều có s.p.t. = 6, không phụ thuộc
vào bản chất của phối tử cũng như vào các yếu tố vật lý. Một số ion có s.p.t. không đổi là 4:
C(IV), B(III), Be(II), N(III), Pd(II), Pt(II), Au(III).
Đối với đa số các ion khác s.p.t. thay đổi phụ thuộc vào bản chất của phối tử và vào bản
chất của ion kết hợp với ion phức. Ví dụ, Cu(II) có s.p.t. 3, 4, 6 (phức chất với s.p.t. 6 kém
bền). Ni(II) và Zn(II) có s.p.t 6, 4, 3 (phức chất với s.p.t. 6 của chúng bền hơn củ

;
[Cu(NH
3
)
4
]SO
4
.H
2
O; [CuPy
4
](NO
3
)
2
; [Cu(H
2
O)
4
]SO
4
.H
2
O; K
2
[Cu(C
2
O
4
)

6
]; K
2
[Ni(C
2
O
4
)
2
];
K
2
[Ni(CN)
4
].
[ZnEn
3
]SO
4
; [ZnEn
3
][PtCl
4
]; [Zn(NH
3
)
4
][PtCl
4
]; K

4
](NO
3
)
2
; [AgPy
4
]S
2
O
8
.
Số phối trí còn phụ thuộc vào nhiệt độ. Thường khi tăng nhiệt độ thì tạo ra ion có s.p.t.
thấp hơn. Ví dụ, khi đun nóng hexammin coban (II) cao hơn 150
o
C thì tạo thành điammin,
đồng thời s.p.t. của Co (II) từ 6 chuyển sang 4:
() ()
o
150 C
32 32 3
62
Co NH Cl Co NH Cl 4NH
>
⎡⎤ ⎡ ⎤
+
⎣⎦ ⎣ ⎦
ZZZZZZX
YZZZZZZ


]Cl; của
Ir(III), Ir(IV) (K
3
[IrCl
6
], K
2
[IrCl
6
]) s.p.t. của ion trung tâm bằng 6. Nếu những gốc đa hoá trị 5
kết hợp với ion trung tâm thì s.p.t. có thể nhỏ hơn số hoá trị. Điều này thể hiện trong nhiều
muối của oxiaxit (sunfat, clorat, peclorat…). Chẳng hạn, trong ion SO
4
2–
có 4 ion O
2–
phối trí,
nghĩa là s.p.t. của S(VI) bằng 4. Có trường hợp s.p.t. bằng số hoá trị, ví dụ ở C(IV).
1.1.3 Dung lượng phối trí của phối tử
Trong cầu nội phối trí mỗi phối tử có dung lượng phối trí của nó. Dung lượng phối trí
(d.l.p.t.) của một phối tử là số vị trí phối trí mà nó chiếm được trong cầu nội. Các phối tử liên
kết trực tiếp với ion trung tâm bằng một liên kết thì có d.l.p.t. 1. Đó là các gốc axit hóa trị 1,
các phân tử trung hoà như NH
3
, CH
3
NH

2
–CH
2
–NH
2
có d.l.p.t. 2,
triaminopropan CH
2
NH
2
–CHNH
2
–CH
2
NH
2
có d.l.p.t. 3 v.v...
Phân tử của các phối tử đa phối trí liên kết với ion trung tâm trong cầu nội qua một số
nguyên tử, tạo thành các vòng và những phức chất chứa phối tử tạo vòng được gọi là phức
chất vòng (phức chất vòng càng, hợp chất chelat). Ví dụ, khi cho đồng (II) hiđroxit tương tác
với axit aminoaxetic (glyxin) thì tạo thành phức chất trung hoà:
2H
2
O
O
CH
2
NH
2
Cu

NH
2
CH
2

Mỗi phân tử glyxin sử dụng hai nhóm chức: nó kết hợp với ion trung tâm qua nguyên tử
nitơ của nhóm amino theo cơ chế cho-nhận, và qua nguyên tử oxi của nhóm cacboxyl bằng
liên kết cộng hóa trị thông thường. Sau đây là một số ví dụ khác:

C
C
CC
C
C
Fe
O
OO
O
O
O
O
O
O
O
O
O
Na
3

Cu

2
chỉ chiếm một chỗ phối trí vì nó chỉ ghép vòng 3 cạnh:
H
2
N
Me
H
2
N

Vòng này không bền nên bị đứt ra và hiđrazin chỉ liên kết với kim loại qua một nguyên tử
N, còn liên kết của nhóm NH
2
thứ hai được biểu thị dưới dạng tương tác với axit. Ví dụ, phức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status