Nghiên cứu hiệu quả sử dụng dung dịch điện hoạt hoá anolit và catolit trong chăn nuôi gà tại Thái Nguyên - Pdf 72

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA DOÃN HÙNG NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG DUNG DỊCH
ĐIỆN HOẠT HOÁ ANOLIT VÀ CATOLIT TRONG
CHĂN NUÔI GÀ TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn KH: TS.TRẦN TỐ THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong vài thập kỷ qua, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát
triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Trong đó chăn nuôi gia cầm nói
riêng chiếm một vị trí quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm thịt trứng cho
xã hội. Theo Hoàng Kim Giao (2005) [4] trong những năm gần đây tốc độ
tăng đầu con của đàn gia cầm từ năm 1990 đến năm 2000 là 5%/năm, năm
2002 so với năm 2001 là 6,69%, năm 2003 so với năm 2002 là 8,9%. Tổng
đàn gia cầm trong cả nước 179,3 triệu con năm 1990; 215,8 triệu con năm
2001; 233,29 triệu con 2002; 254,057 triệu con năm 2003. Sản lượng thịt gia
cầm 151,7 nghìn tấn năm 1990 tăng lên 261,8 nghìn tấn năm 1999; 338,4
nghìn tấn 2002; 372 nghìn tấn 2003. Sản lượng trứng 1,9 tỷ quả /năm 1990
tăng lên 3,71 tỷ quả năm 2000; 4,53 tỷ quả 2002; 4,85 tỷ quả 2003. Cả nước
có 2.260 trang trại trong đó có 119 trang trại giống, 12 trang trại giống gốc do
Trung ương quản lý và 16 cơ sở của các địa phương quản lý.

Nam, lông màu vàng. Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu
đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể
nuôi nhốt, hoặc nuôi thả ở vườn, ngoài đồng, trên đồi.
Môi trường chăn nuôi và công tác vệ sinh phòng bệnh có ảnh hưởng rất
lớn đến năng suất và chất lượng và hiệu quả thành công hay thất bại của việc
chăn nuôi gà đặc biệt là trong tình hình hiện nay dịch cúm gia cầm đang có
khả năng bùng phát bất cứ lúc nào, nơi đâu khi không đảm bảo thực hiện tốt
công tác vệ sinh phòng dịch. Sử dụng dung dịch điện hoạt hoá với tính năng
khử trùng tương đối hiệu quả và đặc tính an toàn với người sử dụng và vật

S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
3
nuụi cng l mt bin phỏp phũng tr dch bnh trong chn nuụi hin nay.
Nhm gúp phn ỏnh giỏ nh hng ca vic s dng dung dch in hot
hoỏ n kh nng sinh trng, sinh sn ca g tỡm ra bin phỏp ti u s lý
mụi trng v sinh phũng bnh thớch hp, r tin, an ton sinh hc cú li cho
sc kho ngi tiờu dựng sn phm, ngi trc tip chn nuụi t ú em li
li ớch kinh t cao nht trong sn xut.
Chớnh vỡ vy chỳng tụi tin hnh nghiờn cu ti:
"Nghiờn cu hiu qu s dng dung dch in hot hoỏ anolit v
catolit trong chn nuụi g ti Thỏi Nguyờn"
2. Mc tiờu ca ti
- ỏnh giỏ tỏc dng ca dung dch in hot hot hoỏ anolit v catolit
vi mụi trng chn nuụi g.
- Nghiờn cu tỏc dng hiu qu ca dung dch anolit v catolit n kh nng
sn xut v sc khỏng ca g c nuụi ti Thỏi Nguyờn.
3. í ngha khoa hc v thc tin ca ti
- Qua s dng dung dch in hot hoỏ, ỏnh giỏ mc ụ nhim mụi
trng chung nuụi g i vi mt s loi khớ c v mt s loi vi khun.
- Đánh giá tác dụng của dung dịch anolit và catolit đến khả năng sinh

ngược dấu. Kết quả của những tác động nói trên là dung dịch được chuyển

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
sang một trạng thái không cân bằng nhiệt động học với hoạt tính hoá học cao
khác thường trong vòng 24 giờ. Trong điều kiện đó dung dịch được xử lý
trong khoang catot gọi là catolit thể hiện tính năng tẩy rửa cao, còn dung dịch
được xử lý trong khoang anot gọi là anolit thể hiện tính năng khử trùng đặc
biệt cao.
Anolit là sản phẩm được tạo thành trong ngăn anot của buồng phản ứng
điện hoá có màng ngăn từ quá trình điện phân dung dịch muối loãng. Do
những tác động lý hoá xảy ra trong lớp tiếp xúc giữa điện cực và dung dịch,
nhiều chất có hoạt tính khử trùng cao được hình thành trong anolit như
HClO, ClO
-
, ClO
2
, Cl
-
… là các chất clo hoạt tính và các peroxyt vô cơ H
2
O
2
,
HO, HO
2
… tất cả các chất này đều không bền chúng sẽ tự phân giải và tái lập
lại với nhau để trở thành nước bình thường từ vài chục giờ đến năm ngày.
Nước hoạt hoá điện cũng như những dung dịch muối loãng được HHĐH
không những chỉ là những chất oxi hoá khử mạnh hoặc là tác nhân axit và

cực độc đối với chúng, thêm nữa mức độ khoáng hoá thấp của anolit và khả
năng hydrat hoá cao làm tăng mức độ thẩm thấu của màng tế bào vi khuẩn đối
với các chất oxy hoá. Các vi bọt khí mang điện được tạo ra trong vùng tiếp
xúc với Polime sinh học cũng góp phần làm chuyển dịch mạnh mẽ các chất
oxy hoá vào trong tế bào vi khuẩn, Vì thế anolit có tác dụng diệt khuẩn mạnh
nhưng lại ít gây hại tế bào cơ thể người.
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định dung dịch anolit có tính chất sát
khuẩn rất mạnh đối với các loại vi khuẩn sau:
- Nhóm vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae: Escherichia Coli (có
nhiều trong phân người), Klebsiella, Enterobacter…
- Các chủng vi khuẩn: Citrobacter, Eriberobacter, Citrobacter freundic…
- Liên cầu khuẩn thuộc giống Enterococcus và Streptoccocus bao gồm
các loài: E. avium, E.Casseliflarus…
Vi khuẩn kỵ khí có nha bào khử Sulfit: Clostridium perfringens,
Clostridium botulinum…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Các loại vi khuẩn và virut khác: Samonella paratyphi (A,B,C)
Mycobacterium tuberculocis, Mycobacterium chelomac, Mycobacterium
aviumntrase, Enterococcus faccalis, Bacillus subtilis, Staphylo Coccus aureus,
virut HIV…
1.1.1.3. Tính ưu việt của dung dịch ĐHH anolit và catolit trong phòng trừ
dịch bệnh cho gia súc, gia cầm
Với tính năng khử trùng hiệu quả và đặc tính an toàn đối với người sử
dụng và vật nuôi nêu trên, anolit và catolit đã được Hoa Kỳ, Nga và các nước
EU đưa vào sử dụng rộng rãi trong ngành chăn nuôi và chế biến thực phẩm từ
năm 1995. Kết quả ứng dụng cho thấy dung dịch ĐHH có những tính năng
vượt trội như sau:
* Hiệu quả khử trùng cao: Anolit diệt nhanh nhiều loại vi khuẩn, virut,

* Các dung dịch ĐHH bao gồm anolit và catolit được điều chế trên thiết
bị ECAWA có các thông số cơ bản sau đây:
- Loại điều chế từ dung dịch ban đầu Natri clorua có nồng độ 5g/l
Anolit: + pH trong khoảng 7,0 - 7,5
+ Thế oxi hoá khử ORP lớn hơn 800 mV
+ Nồng độ clo hoạt động trong khoảng 300 - 500 mg/ml
Catolit: + pH trong khoảng 10 - 11
+ Thế oxi hoá khử ORP có giá tri tuyệt đối lớn hơn 400mV
+ Nồng độ muối 5g/l
- Loại điều chế từ nước thường
Catolit: + pH trong khoảng 10 - 11
+ Thế oxi hoá khử ORP có giá trị tuyệt đối lớn hơn 400mV
+ Nồng độ muối 0,5g/l

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
* Các ứng dụng của dung dịch ĐHH:
- Khử trùng nước cấp: Nước cấp cho toàn trại chăn nuôi cần được khử
trùng bằng anolit với mức 5 - 6 l/m
3
để đảm bảo vô khuẩn.
- Ứng dụng anolit và catolit trong công đoạn tẩy rửa, khử trùng dụng cụ
và bề mặt trong trại nuôi gia cầm.
Các thông số, liều lượng sử dụng và thời gian xử lý của anolit và catolit
được trình bày theo bảng dưới đây:
Bảng 1.1. Liều lƣợng sử dụng và thời gian xử lý catolit, anolit
Dung
dịch
Thông số
Liều


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
- Ứng dụng dung dịch anolit để khử trùng và kiểm soát môi trường
không khí trong trại nuôi gia cầm.
Nguồn gốc gây bệnh như các loại nấm và vi khuẩn trong không khí bắt
nguồn trực tiếp từ bên ngoài trại đưa vào, từ thức ăn, rác bẩn bị ô nhiễm, hay
bắt nguồn từ các mầm bệnh trên bề mặt trần nhà và các dụng cụ đựng thức
ăn… bên trong trại nuôi gia cầm hoặc ngay trên lông gà. Do vậy để hạn chế
tối đa các khả năng gây bệnh, phun anolit nguyên chất (PH = 7 ± 0,3; nồng độ
250 - 300 mg/l; ORP ± 800mV) với liều lượng 150 - 200 ml/m
2
lên bề mặt
dụng cụ và vào trực tiếp môi trường không khí ngay cả khi có mặt vật nuôi
trong thời gian 30 phút, cho phép giảm đáng kể các quần lạc vi khuẩn (E coli,
Staphylococus…) trong không khí và trên bề mặt thiết bị trong chuồng nuôi.
- Ứng dụng anolit để vệ sinh chuồng trại sau khi thu hoạch gia cầm và
trước khi đưa gia cầm vào nuôi đợt mới. Kết thúc một chu trình chăn nuôi,
chuồng nuôi bị ô nhiễm nặng bởi các chất thải của gia cầm, vi sinh vật, bụi và
các thứ khác. Vì vậy, chuồng nuôi cần phải được vệ sinh và khử trùng rất kỹ
để chuẩn bị cho một đợt nuôi mới. Các khâu làm vệ sinh chuồng nuôi sau khi
thu hoạch gia cầm gồm: Quét dọn thu gom phân, chất độn chuồng, rác thải,
rồi rửa sạch bằng nước, khử trùng.
- Khử trùng được chia làm 2 khâu:
+ Khử trùng không khí: Thực hiện giống như khử trùng khi đang có mặt
gia cầm nuôi.
+ Khử trùng bề mặt: Dùng vòi phun tia phun ướt các bề mặt cần được
khử trùng (mặt nền, tường bao).
Đối với các bề mặt bằng kim loại dễ bị rỉ sét tránh phun trực tiếp bằng
dung dịch anolit. Trong trường hợp bề mặt kim loại bắt buộc phải khử trùng,

10kg thức ăn khô.
30 - 60
Nước uống
pH = 7 ± 0,3
ORP > + 800mV
Nồng độ: 300mg/l
Có thể pha anolit tỷ lệ 1:
20 với nước sạch cho gà
uống. Khi phát hiện có
dịch bệnh thì pha với tỷ
lệ : 1/5
Thường xuyên
Nguồn: Lê Hồng Mận và cs (2007) [14]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
- Cho gà uống catolit
Cho gà uống catolit được điều chế từ nước thường với khoảng cách từ 1giờ
30 phút đến 2 giờ một lần sau khi cho gà ăn để tăng khả năng tiêu hoá thức ăn
của gà. Nếu sử dụng đều đặn có thể tăng hiệu quả sử dụng thức ăn từ 5 - 10%.
- Xử lý trứng:
+ Trứng thương phẩm: Các khay đựng trứng được vệ sinh khử trùng
bằng anolit như khử trùng dụng cụ. Trứng thương phẩm được xếp đống và
phun trước hết là catolit cho ướt đều, để yên chừng 30 phút, phun tiếp anolit
cũng tới mức ướt đều. Để khô tự nhiên và xếp vào khay rồi đưa vào nơi lưu
giữ hoặc mang đi tiêu thụ.
+ Trứng sinh sản: Cũng vệ sinh như trứng thương phẩm, tuy nhiên để
khô nhanh có thể dùng quạt.
- Xử lý phòng ấp
+ Các bề mặt trong phòng ấp được vệ sinh khử trùng theo quy trình như

Như vậy, năng suất giống vật nuôi phụ thuộc vào các yếu tố di truyền và
ngoại cảnh. Vật nuôi nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ, nhưng sự thể
hiện khả năng đó ở kiểu hình lại phụ thuộc vào ngoại cảnh môi trường sống.
Đây là cơ sở để tạo lập một điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhằm củng cố phát
huy tối đa khả năng di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là gia cầm.
1.1.3. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng, khả năng
cho thịt của gà
Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp
protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá
sinh trưởng. Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những
quy luật nhất định. Gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó
tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.
Để xác định toàn bộ quá trình sinh trưởng một cách chính xác là rất khó
khăn và phức tạp. Tuy nhiên trong chọn giống vật nuôi ngày nay, người ta sử
dụng các phương pháp đơn giản và thực tế để đánh giá khả năng sinh trưởng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
- Kích thước các chiều đo: Kích thước và khối lượng xương có tầm quan
trọng lớn đối với khối lượng cơ thể và hình dáng con vật, quan hệ giữa khối
lượng thân, tốc độ lớn và chiều dài đùi, chiều dài xương ngực với chất lượng
giết thịt có tầm quan trọng đặc biệt. Kích thước các chiều đo có liên quan rõ
rệt với khối lượng cơ thể, độ dài chân có liên quan đến tính biệt.
- Tốc độ sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng các chiều cơ
thể trong một khoảng thời gian nhất định.
- Tiêu tốn thức ăn: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng phản ánh
quá trình chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng. Tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối
lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1992) [12] cho rằng để phát huy
tối đa khả năng sinh trưởng của gia cầm thì việc cung cấp thức ăn đầy đủ và

phải chú ý giảm nhiệt độ ở mức 23-24
0
C. Gà trống broiler khối lượng cao có
thể bị chết vì stress nhiệt ở mức 35
0
C. Lúc nhiệt độ cao cần cung cấp đủ
nước uống cho gà. Nước uống là yếu tố quan trọng để duy trì sức chịu
đựng của gà ở nhiệt độ 44-46
0
C, nếu nhiệt độ trên giới hạn này gà sẽ bị
chết hàng loạt.
+ Ở nhiệt độ 35
0
C, gà 7 tuần tuổi trở lên sẽ tiêu thụ nước uống tăng thêm
4 lít/giờ/100 gà. Mùa nóng khi gà bị stress nhiệt nước uống nên pha thêm
vitamin C, Đường glucoza và các chất điện giải.
+ Ngoài ra nhiệt độ môi trường còn ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu ME
và CP của gà broiler, nên tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối nhiều của
nhiệt độ môi trường. Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu thụ thức
ăn của gà cũng khác nhau. Nhu cầu về năng lượng và các vất chất dinh dưỡng
khác cũng bị thay đổi theo nhiệt độ môi trường. Khi nhiệt độ môi trường nuôi
ổn định thì mức tiêu thụ thức ăn của gà tăng khi giảm mức năng lượng trong
thức ăn và ngược lại. Vì vậy nhiệt độ môi trường ổn định, cần phải đảm bảo
mức năng lượng cao trong thức ăn để nâng cao sức tăng trọng của gà. Với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
mức năng lượng ổn định tiêu thụ thức ăn của gà sẽ bị giảm khi nhiệt độ môi
trường tăng và ngược lại.
* Ảnh hưởng của ẩm độ:

, H
2
S = 0,002 g/m
3
, CO
2
= 0.35 g/m
3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Ở nước ta chủ yếu là nuôi thông thoáng tự nhiên nên cần đảm bảo ấm
cho mùa đông và mát cho mùa hè. Về mùa hè khi nhiệt độ cao cần bố trí hệ
thống quạt để tăng tốc độ gió để chống nóng cho gà. Mùa đông cần có thiết bị
sưởi ấm cho gà.
* Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1993) [13] thì gà broiler phải
được chiếu sáng 2-3 giờ trên ngày khi nuôi trong nhà kín (môi trường nhân
tạo) Kết quả thí nghiệm cho thấy: 1-2 giờ chiếu sáng sau đó đến 2-4 giờ sau
không chiếu sáng cho kết quả tốt nhất và lớn nhanh, chi phí thức ăn giảm,
giảm năng lượng điện chiếu sáng, tác giả khuyến cáo với gà 3-4 ngày tuổi
chiếu sáng với công suất 4w/ m
2
nền chuồng giảm dẫn đến 21 ngày tuổi chỉ
cần ánh sáng mờ 15w /25m
2
nền chuồng.
Khi cường độ ánh sáng cao gà hoạt động nhiều do đó làm giảm sự tăng
khối lượng, với chuồng thông thoáng tự nhiên, đối với mùa hè nên che chắn

* Năng suất trứng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng
Năng suất trứng: Số lượng trứng thu được của mỗi đàn hoặc mỗi mái đẻ
trong khoảng thời gian nhất định (một tháng, một mùa, sau một năm tuổi, cả
đời mái đẻ..).
Sản lượng trứng được tính theo 2 cách: Số trứng tương đối tính theo đơn
vị quả hoặc số trứng tuyệt đối tính theo đơn vị khối lượng (kg). Thông
thường, người ta xác định sản lượng trứng sau một chu kì đẻ trứng sinh học
(hoặc sau 1 năm đẻ trứng) hoặc sản lượng trứng đến 500 ngày tuổi.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [6] năng suất trứng chịu sự
chi phối của các tập hợp gen khác nhau. Các gen quy định tính trạng này nằm
trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính. Năng suất trứng của gà
mái do 5 yếu tố di truyền quy định: Thời gian kéo dài chu kì đẻ trứng, cường
độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ mùa đông, tính ấp bóng, tuổi thành thục sinh dục.
Ngoài ra, năng suất trứng còn phụ thuộc vào dinh dưỡng, ánh sáng và các yếu
tố khí hậu khác.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng:
Sức sản suất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh hưởng
bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
+ Giống, dòng: Ảnh hưởng trực tiếp đến sức sản xuất trứng của gia cầm.
Cụ thể giống gà Leghorn trung bình có sản lượng 250 - 270 trứng /năm, gà Ri
chỉ 90 -100 trứng /năm (Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [6]).
Trong cùng một giống, các dòng khác nhau cũng cho năng suất trứng
khác nhau. Những dòng đã qua chọn lọc sẽ cho sản lượng cao hơn 15- 20% so
với những dòng chưa được chọn lọc.
+ Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm là đặc
điểm di truyền cá thể. Tuổi thành thục sinh dục của cá thể được xác định qua
tuổi đẻ quả trứng đầu tiên. Đối với đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi thành thục

thay lông. Ở điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là những điểm
quan trọng để tính gia cầm đẻ tốt hay xấu. Những con thay lông sớm thường
là con đẻ kém và kéo dài thời gian thay lông. Ngược lại những con thay lông
muộn, quá trình thay lông diễn ra nhanh và là những con đẻ tốt. Đặc biệt ở
một số đàn gà cao sản thời gian nghỉ đẻ 4 -5 tuần và lại đẻ lại ngay sau khi
chưa hình thành bộ lông mới, có những con đẻ ngay trong thời gian thay lông.
Như vậy, sự thay lông liên quan mật thiết tới sản lượng trứng.
Cường độ đẻ trứng được biểu thị qua số trứng đẻ ra trong một khoảng
thời gian nhất định không kể đến chu kỳ hay nhịp đẻ. Cường độ đẻ trứng có
tương quan dương với sản lượng trứng của gia cầm. Nếu cường độ đẻ cao thì
sản lượng trứng cao và ngược lại.
* Mùa vụ: Ảnh hưởng tới sức đẻ trứng rất rõ rệt, ở nước ta về mùa hè
sức đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu lại tăng
lên, sản lượng trứng hàng tháng rất khác nhau khi nhận gà vào đẻ ở các
thời gian khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Bảng 1.3. Ảnh hƣởng của mùa vụ đến sản lƣợng trứng của gà
Tuổi gà
(Tháng)
Thời gian nhận gà vào đẻ
Tháng 3
Tháng 6 Tháng 9
Tháng
Sản lƣợng
trứng
(quả)
Tháng
Sản lƣợng

cường độ 3-3,5W/m
2
. Có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên kết hợp với ánh sáng
nhân tạo để đảm bảo đủ về thời gian và cường độ chiếu sáng trên.
Nhiệt độ môi trường xung quanh liên quan mật thiết với sản lượng trứng,
ở nước ta nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp với gà đẻ là 14-22
0
C. Nếu nhiệt độ
dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng chống rét và trên
giới hạn cao thải nhiệt nhiều nên cũng làm giảm sản lượng trứng.
* Khối lượng trứng
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng giống, tỉ lệ nở,
chất lượng và sức sống của gà con.
Khối lượng trứng là tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của nhiều gen
và có hệ số di truyền h
2
= 0,3 - 0,7. Khối lượng trứng có tương quan âm
đến sản lượng trứng (r = - 0,36) và có tương quan dương với khối lượng cơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
thể (r = 0,31) và tuổi thành thục trứng của gia cầm bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng
của gia cầm trưởng thành 20 - 30%. Khối lượng trứng ở năm đẻ thứ hai lớn
hơn năm đẻ thứ nhất 10 - 15% (Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [6]).
Khối lượng trứng ấp và khối lượng gia cầm con nở ra có mối tương quan
dương, khối lượng gia cầm con nở ra thường có khối lượng bằng 62 - 78% khối
lượng trứng vào ấp (Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [6]). Khối lượng
trứng phụ thuộc vào giống, khối lượng cơ thể, tuổi đẻ và chế độ dinh dưỡng.
* Hình dạng và chất lượng trứng
Hình dạng và chất lượng trứng được quyết định bởi phần sau của ống dẫn

chủ yếu là albumin và một số chất khoáng, nước giúp cấu tạo lông, da và các
bộ phận nội quan trong quá trình phát triển phôi.
Lòng đỏ là phần quan trọng nhất của trứng gồm có nước, protein, lipid,
glucid và các acid amin không thay thế, các vitamin nhóm B và A,D, E làm
nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi. Chất lượng lòng đỏ được xác
định bằng chỉ số lòng đỏ, trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỉ lệ ấp nở cao.
* Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gà
trống và gà mái. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào tuổi, tỉ lệ trống mái trong đàn
gà, mùa chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng và chọn đôi giao phối. Sự giao phối
cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh.
Tỷ lệ nở phụ thuộc vào tỷ lệ trứng có phôi, chất lượng trứng và chế độ ấp.
Đó là chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của phôi và sức sống của gia cầm non
1.1.6. Sức sống và khả năng đề kháng bệnh của gia cầm
Sức sống và khả năng kháng bệnh ở đàn gia cầm là yếu tố quan trọng
giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả cao. Tổn thất do bệnh tật ở gia cầm có những

Trích đoạn Sức sống và khả năng đề khỏng bệnh của gia cầm Tỡnh hỡnh nghiờn cứu ngoài nước Tỡnh hỡnh nghiờn cứu trong nước Nguồn gốc và một số đặc điểm của giống gà Lương Phượng Đối với gà thịt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status