Đề tài "Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội" - Pdf 72



Luận Văn Tốt Nghiệp

Đề Tài : Giải pháp mở rộng hoạt động
tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân
hàng ngoại thương Hà Nội LỜI MỞ ĐẦU Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy
hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan
trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia. Hoạt
động xuất nhập khẩu đã góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân
sách, đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán giải quyết công
ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam từ nền kinh tế lạc hậu và kém phát triển chuyển sang xây
dựng nền kinh tế thị trường thì việc mở rộng buôn bán, quan hệ với nước
ngoài là hết sức cần thiết. Sau khi nhận thức được những sai lầm trong
đường lối kinh tế, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm thực hiện công cuộc đổi
mới theo hướng "mở cửa" nền kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu, không
ngừng mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với các nước trên thế giới, phát

cầu mới của nền kinh tế thị trường là vấn đề bức xúc có ý nghĩa thực tiễn
đối với quá trình phát triển kinh tế nước nhà.
Từ nhận thức đó cùng với kiến thức được trang bị qua 4 năm học ở
trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đặc biệt được sự hướng dẫn nhiệt tình
của cô giáo Phạm Hồng Vân và các thầy cô trong trường cũng như sự chỉ
bảo tận tình của anh chị phòng Tín dụng Chi nhánh NHNT Hà Nội, em xin
mạnh dạn chọn đề tài: "Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ
xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội".
Về hình thức, bài viết này được trình bày theo kết cấu sau:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về tín dụng xuất nhập khẩu của
ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại
NHNT Hà Nội
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng tín dụng xuất
nhập khẩu tại NHNT Hà Nội
Trên cơ sở phân tích hoạt động tín dụng tài trợ XNK của NHNT Hà
Nội trong 3 năm, (2000, 2001, 2002) đề tài tập trung vào tình hình và kinh
3
nghiệm thực tế của hoạt động này để từ đó đưa ra một số khuyến nghị
nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động tín dụng XNK tại Chi nhánh. Song do
kiến thức còn hạn chế, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót nhất định,
em rất mong được sự chỉ dạy của thầy cô giáo và góp ý của các bạn để bài
viết được hoàn thiện tốt hơn.
Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Phạm
Hồng Vân người đã tận tình giúp đỡ em trong việc chọn đề tài, hướng dẫn
phương hướng triển khai đề tài và tổng kết các kết quả nghiên cứu một
cách có hệ thống.

Thương mại quốc tế được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản xuất
khẩu và nhập khẩu. Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có
sự quan tâm thích đáng đến hoạt động XNK là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt
động thương mại quốc tế.
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có
những nét đặc thù riêng đó là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ
tầng kĩ thuật lạc hậu, công nghệ thủ công... đang rất cần được đổi mới, bên
cạnh đó tiềm lực xuất khẩu lại lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tất
cả những điều này cho thấy hoạt động XNK đối với nước ta càng quan
trọng hơn.
5
Vai trò của XNK đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện qua một
số khía cạnh cơ bản sau:
* Xuất khẩu
- Xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước tạo
điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước sẽ khuyến khích
các ngành, nghề phát triển bởi họ phần nào có được thị trường tiêu thụ ổn
định và mở rộng hơn. Đồng thời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc
tế sẽ tạo cho các nhà sản xuất sự năng động và sáng tạo trong kinh doanh,
sự quan tâm đúng đắn đến việc nâng cao hiệu quả quản lí, đổi mới công
nghệ cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu có thể diễn ra thuận lợi
hơn nhờ nguồn ngoại tệ thu được và mối quan hệ quốc tế mà nó tạo ra.
* Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò

nó gắn liền với các giai đoạn của hoạt động này.
Do hoạt động thương mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế
cũng hết sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ như: thương mại
giữa các nước phát triển, thương mại giữa các nước đang phát triển, thương
mại giữa các nước phát triển và đang phát triển... ) nên để phù hợp với điều
kiện Việt Nam cũng như với đề tài nghiên cứu, ở đây tôi chỉ xin đề cập đến
hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước phát triển và đang phát triển.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước phát triển sang các nước đang phát
triển chủ yếu là hàng hoá tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, kỹ thuật,
công nghệ. Đây là những hàng hoá mà để hoàn thành hoạt động xuất khẩu
cần phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ phân tích nhu cầu, kí kết hợp
đồng, sản xuất cung ứng, lắp ráp chạy thử... đến thanh toán tiền hàng. Nhu
7
cầu tài trợ thường để đáp ứng các chi phí cho quảng cáo, thiết kế mẫu mã,
sản xuất và cung cấp công trình.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển sang các nước phát
triển chủ yếu là các mặt như nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng thô hay mới qua
sơ chế... Và nhu cầu tài trợ thường là để thu mua chế biến xuất khẩu, đáp
ứng nhu cầu vốn tạm thời.
Để có cái nhìn tổng quát về nhu cầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động
XNK ta sẽ xem xét nhu cầu tài trợ của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu hình
thành trong cùng một hoạt động XNK hàng hoá máy móc, thiết bị kĩ thuật,
công nghệ.
* Nhu cầu tài trợ cho xuất khẩu
Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá máy móc thiết bị thường
kéo dài từ nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thường nhu cầu tài trợ
thường nảy sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:

- Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng
hoá được giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp
ráp chạy thử cho tới khi được người mua thu nhận và chấp nhận thanh toán.
- Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu
cầu được bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán.
- Giai đoạn thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất
khẩu được thuận lợi người xuất khẩu thường phải dành cho người mua một
ưu đãi thanh toán trong nhiều năm mà người xuất khẩu và ngân hàng của
họ có thể chấp nhận được. Trong thời gian chờ được thanh toán nhà xuất
khẩu thường có nhu cầu được tài trợ để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản
xuất tiếp theo.
* Nhu cầu tài trợ nhập khẩu
Với hoạt động nhập khẩu, nếu như nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ
để đẩy mạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu
9
cầu tài trợ để mua hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng được. Vì vậy
về phía nhà nhập khẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt.
- Giai đoạn trước khi kí kết hợp đồng: Ở giai đoạn này các nhà nhập
khẩu cần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác
nhu cầu của mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
- Giai đoạn sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí kết được hợp đồng,
nhà nhập khẩu cần được tài trợ để đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu... .
- Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn
này nhà nhập khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa
chừng cho nhà xuất khẩu hay tài trợ cho các công việc ở điạ phương để
chuẩn bị cho đầu tư.
- Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện

được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với
các công cụ chủ yêú là kỳ phiếu và hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn
hạn được ưa dùng vì dễ thực hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao
(thông qua chiết khấu tại các ngân hàng), linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên,
các công cụ như hối phiếu thường được sử dụng trên cơ sở có ngân hàng
đứng ra chấp nhận hay bảo đảm.
* Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự
có có thể là vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty
cổ phần hay vốn của chủ doanh nghiệp tư nhân.
Vốn tự có chủ yếu bao gồm vốn khi thành lập doanh nghiệp như nói
trên và phần lợi nhuận để lại + khấu hao. Sử dụng vốn tự có doanh nghiệp
có thể giảm được hệ số nợ, tạo sự chủ động trong kinh doanh. Tuy vậy,
nguồn tài trợ này có hạn chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ
hội của việc giữ lại lợi nhuận cao.
* Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện
nay họ có thể phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và
dài hạn. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có được sự chủ động
trong việc huy động và sử dụng vốn, giảm được nguy cơ phá sản khi gặp
khó khăn (vì có thể không phải phân chia lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn
trả lợi tức khi bị lỗ hoặc không có nhiều lãi) hay làm tăng vốn chủ sở hữu,
giảm hệ số nợ của doanh nghiệp... Tuy nhiên, chỉ có các doanh nghiệp thỏa
mãn những điều kiện nhất định mới được sử dụng hình thức này. Với nước
12
ta, do thị trường tài chính còn chưa phát triển nên hình thức tài trợ này còn
ít được sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì hiệu quả chưa cao.
* Phát hành trái phiếu công ty: Đây cũng là một hình thức tài trợ
khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường gần như cổ phiếu.

14
2. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
2.1. Khái niệm, Vai trò của tín dụng ngân hàng
2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế được rất nhiều nhà kinh
tế học đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng.
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội
giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông
qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền
tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín
dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các
cơ quan Nhà nước và các tầng lớp dân cư ”.
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có
khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã
không ngừng được mở rộng sang tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau
trong đó có hoạt động XNK, nó đã trở thành một nguồn tài trợ không thể
thiếu đối với hoạt động XNK của các quốc gia. Sự tham gia hỗ trợ của các
ngân hàng cho hoạt động XNK có tác động tích cực không chỉ về mặt tài
chính mà còn về cả việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK được thể hiện
qua các mặt sau:
- Thứ nhất, giống như các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng là
một nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK để thu mua dự
trữ, sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, mua sắm máy móc thiết bị... phục vụ cho

cung cấp cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi xuất ưu đãi
mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh
doanh của mình.
16

17
2.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng
thương mại.
Thương mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng, phức
tạp. Với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo cho hoạt động XNK diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận
lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Dựa trên các tiêu chí ta có thể
chia tín dụng XNK ra thành các hình thức như sau:
2.2.1. Cho vay trong khuôn khổ thanh toán bằng L/C
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng
cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối
phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất
trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đề ra
trong thư tín dụng.
* Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu
- Cho vay ký quỹ L/C
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp
khách hàng xin được bảo lãnh, khách sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định
vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản tiền

- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C
đã được chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà
nhập khẩu. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ
sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có
thể thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng
trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán.

19
2.2.2. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
- Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: Ngân hàng cho vay
thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ
hàng xuất khẩu.
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: Ngân hàng tiếp nhận
chứng từ từ ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập
khẩu. Nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì cần phải có sự
tài trợ của ngân hàng cho vay thanh toán hàng nhập khẩu.
2.2.3. Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Trong kinh doanh ngoại thương hối phiếu đóng vai trò rất quan
trọng, trên cơ sở hối phiếu ngân hàng có các hình thức cho vay sau:
* Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một loại tín dụng ngân hàng cung cấp cho
khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi nó đến hạn thanh
toán, tức là ngân hàng mua lại khoản nợ phải đòi. Chiết khấu hối phiếu tạo
điều kiện cho nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng được
nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng cung ứng hàng mà anh ta cấp cho

- Chiết khấu được phép truy đòi
Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối
phiếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếu(nhà xuất khẩu ) và giá trị
chiết khấu cao hơn.
- Chấp nhận hối phiếu:
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký
chấp nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu
và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính. Thực chất
ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi đến
hạn, nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì người cho vay
(ngân hàng) - người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu
tin tưởng khả năng thanh toán của bên mua. Họ có thể đề nghị bên mua yêu
cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát.
21
Nếu ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận
một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối
phiếu đến hạn.
Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng
chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu như bên mua không có tiền
thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán.
Đương nhiên nếu đến hạn thanh toán hối phiếu, bên mua có đủ tiền
thì ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra. Như vậy, khoản tín dụng này
chỉ là hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính. Trong trường hợp này,
ngân hàng sẽ chỉ nhận được một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp
cho chi phí gánh chịu rủi ro tín dụng mà thôi.
2.2.4. Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu khác

+ Factaring phục vụ cho những hoạt động XNK không sử dụng tới
tín dụng chứng từ còn forfaiting lại dựa vào chúng và sự bảo đảm của ngân hàng.
* Tín dụng thuê mua
Thuê mua là hình thức tài trợ vốn, ra đời ở Mỹ vào năm 1952, sau đó
nhanh chóng thâm nhập vào Châu Âu đầu những năm 1960 và dần dần hiện
nay đang được các nước trên thế giới áp dụng.
Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó
người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người đi
thuê sử dụng. Người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt
thời gian thuê và khi kết thúc thời hạn họ có thể được quyền sở hữu tài sản
thuê hoặc được mua lại tài sản thuê hay là được quyền thuê tiếp. Điều này
tuỳ thuộc vào thoả thuận của hai bên khi ký hợp đồng thuê. Có hai loại hình
thức thuê mua. Đó là: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính.
- Cho thuê tai chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông
qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác. Bên đi thuê được
chuyển quyền sở hữu hoặc tiếp tục thuê khi kết thúc thời hạn thuê.
- Cho thuê vận hành: bên đi thuê thuê máy móc, thiết bị trong thời
gian ngắn để sử dụng vào mục đích tạm thời. Mọi rủi ro và lợi ích đem lại
đối với quyền sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc người cho thuê.
23
So với hình thức cho vay truyền thống, hình thức thuê mua này có
những ưu điểm sau:
+ Các doanh nghiệp sẽ không phải bỏ tiền mua thiết bị ngay
lập tức mà trả tiền thuê thiết bị theo định kỳ, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp chủ động hơn về vốn để tập trung cho sản xuất. Hình thức này có ý
nghĩa nhất đối với doanh nghiệp không đủ vốn nhưng vẫn có thể đi thuê
thiết bị thiết bị để sản xuất và dùng một phần lợi thu được từ sản xuất để trả

+ Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài... .
Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này
- Đối với nhà nhập khẩu (bên được bảo lãnh): được hưởng một
khoản vốn của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá
bán đã tính lãi rồi) chi trả một khoản phí cho người bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được
thanh toán nợ. Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ
chiết khấu tại một ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu vốn của mình.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất kì ngân hàng nào, khi tiến
hành bảo lãnh, nghĩa là được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về phía bên
xuất khẩu, bên nhập khẩu. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho
vay trừu tượng nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà
chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay.
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông
thường nghĩa là khi bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích
xin vay, có khả năng thanh toán và có tài sản thế chấp. Khi đến hạn, nếu nhà
nhập khẩu không có đủ khả năng thanh toán, thì cần phải làm thủ tục xin vay
tại ngân hàng. Như vậy, mục đích bảo lãnh đã được thực hiện, nghĩa là ngân
hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay nhằm thu thêm được một
khoản lãi, có khách hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh.

3. Rủi ro trong tín dụng tài trợ XNK của ngân hàng thương mại
Rủi ro trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một dạng rủi ro trong
hoạt động của ngân hàng thương mại. Đó là những biến cố bất thường, không
mong đợi xảy ra, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường

Trích đoạn Quản lý rủi ro trong tín dụng tài trợ XNK Chiến lược con người và công nghệ ngân hàng 1 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status