Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
Lời mở đầu
----
Hiện nay nớc ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá - hiện
đại hoá. Với chính sách mở cửa nền kinh tế trong bối cảnh quốc tế hóa nền kinh tế
thế giới đang đợc đẩy mạnh thì hoạt động thơng mại quốc tế nói chung và bảo
hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân.
Trên thế giới, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đờng
hàng không đã ra đời từ lâu, và hiện nay vẫn đang phát triển không ngừng. Còn ở
Việt Nam, tuy nghiệp vụ này đã đợc triển khai từ trớc nhng mới chỉ chiếm một vị
trí rất khiêm tốn trong thị trờng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Nguyên nhân
chủ yếu là do sự phát triển ngành vận tải hàng không còn chậm, khối lợng hàng
hoá vận chuyển cha nhiều.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nớc ta luôn tăng trởng với tốc độ cao
và ổn định làm cho nhu cầu về vận tải hàng không ngày càng lớn. Khối lợng cũng
nh giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đờng hàng không tăng lên
đáng kể kéo theo nhu cầu bảo hiểm cho hàng hoá cũng tăng lên. Do vậy, đây chính
là nghiệp vụ đầy tiềm năng mà ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và Bảo Việt
nói riêng cần nghiên cứu và xem xét.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trớc sự ra đời của một loạt các công ty
bảo hiểm mới cùng với quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trờng thì việc nghiên cứu
nghiệp vụ bảo hiểm mới mẻ này là yêu cầu cấp thiết đối với Bảo Việt để đứng vững
và duy trì đợc thị phần bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của mình. Đó chính là
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 1 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
lý do mà em chọn đề tài "bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng nh hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng, nhng con ngời vẫn có nguy cơ gặp
phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân nh: do môi
trờng thiên nhiên, các sự cố xảy ra do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và cả từ
phía môi trờng xã hội. Vậy : thế nào là rủi ro?
"Rủi ro là những đe doạ nguy hiểm, không lờng trớc đợc, và là khả năng xảy
ra tổn thất".
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thờng đem lại cho con nguời
những khó khăn trong cuộc sống. Chính vì vậy, đã có rất nhiều phơng pháp đối phó
với những rủi ro đợc con ngời áp dụng mà phơng pháp có thể coi là u việt nhất là
san sẻ rủi ro.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con ngời có thể chế
ngự và hạn chế đợc phần nào những hậu quả mà thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra.
Tuy nhiên, những tổn thất về ngời và của hàng năm con ngời phải gánh chịu vẫn
còn rất lớn. Do vậy, để đủ sức đơng đầu với thiên nhiên, khắc phục nhanh chóng
hậu quả - tổn thất thì con ngời phải đoàn kết - hợp sức nhau lại. Một trong những
cách hợp sức nh vậy là tiến hành bảo hiểm, nghĩa là nhiều ngời cùng nhau góp tiền
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 3 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
lập ra một quỹ chung để khi có rủi ro bất ngờ xảy ra thì trích từ quỹ chung đó bù
đắp cho ngời bị nạn. Chỉ có nh vậy, ngời bị nạn mới có thể nhanh chóng khắc phục
đợc hậu quả nặng nề do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra.
ý tởng về việc hình thành một quỹ chung là tiền để đa bảo hiểm trở thành
một lĩnh vực kinh tế mới : "kinh tế bảo hiểm". Không giống nh hình thức bảo hiểm
sơ khai khi nhiều ngời cùng liên doanh khi có lợi nhuận thì chia nhau, có tổn thất
thì cùng nhau san sẻ. Ngày nay, có các tổ chức bảo hiểm chuyên môn chịu trách
nhiệm về các rủi ro trên cơ sở ngời chuyển nhợng rủi ro nộp một khoản phí bảo
hiểm. Và nh thế bảo hiểm đã ra đời cùng với sự xuất hiện của khái niệm rủi ro.
và giá cả của ngành kinh doanh này chính là phí bảo hiểm.
Một vấn đề đặt ra là : các công ty bảo hiểm làm sao để có nguồn vốn đủ lớn
để chi trả, bồi thờng thiệt hại khi các rủi ro xảy ra? ở đây, quy luật số lớn đã đ-
ợc vận dụng. Nghĩa là, với sự đóng góp tuy ít của nhiều ngời đã đem lại lợng vốn
đủ lớn để trang trải cho một số ít ngời bị rủi ro.
Nh vậy bản chất cuối cùng của bảo hiểm là sự phân tán rủi ro, chia nhỏ tổn
thất của một hoặc một số ít ngời ra cho tất cả những ngời tham gia bảo hiểm cùng
chịu. Hay nói cách khác, đó chính là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những
ngời tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngời
xảy ra gây tổn thất đối với ngời tham gia bảo hiểm.
Rõ ràng là không phải tất cả những ngời mua bảo hiểm đều gặp rủi ro mà chỉ
một số ít ngời. Những ngời không bị tổn thất hiển nhiên bị mất không số phí bảo
hiểm đã đóng góp. Vậy : lý do gì khiến ngời ta mua bảo hiểm? Đó chính là do sự
cần thiết của bảo hiểm.
2. Sự cần thiết của bảo hiểm
Trong đời sống xã hội, con ngời phải thờng xuyên có mối quan hệ tác động
qua lại với tự nhiên để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đó, con ngời luôn
phải chịu sự tác động của các quy luật khách quan của tự nhiên và của các điều
kiện kinh tế - xã hội. Những tác động này có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Đối với
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 5 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
những tác động tiêu cực, có những điều con ngời có thể khống chế và điều chỉnh đ-
ợc song cũng tồn tại những điều nằm ngoài khả năng kiểm soát của con ngời. Rủi
ro thuộc loại thứ hai. Vì vậy con ngời đã dùng nhiều biện pháp để đối phó với
những rủi ro ấy :
a) Tránh rủi ro : tức là không làm một việc gì đó quá mạo hiểm, không chắc
chắn. Dùng biện pháp này để đối phó với rủi ro là rất tiêu cực. Vì nếu muốn tránh
rủi ro con ngời sẽ không dám làm bất cứ một việc gì và nh vậy họ cũng sẽ chẳng
với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu bảo hiểm càng lớn và đa dạng
thì bảo hiểm càng phát huy rộng rãi những tác dụng của mình. Tuy nhiên, xét về
tổng thể, bảo hiểm có những tác dụng cơ bản sau :
3.1. Bảo hiểm là một phơng thức giúp tập trung đợc một nguồn vốn lớn, nguồn
vốn này đầu t lại vào nền kinh tế và giúp cho quá trình tái sản xuất xã hội phát
triển
Quá trình tập trung vốn diễn ra dới hình thức huy động sự đóng góp của các
tổ chức, các cá nhân ngời tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm tập
trung. ở các nớc có thị trờng bảo hiểm phát triển cao thì các quỹ bảo hiểm có
nguồn vốn lớn, là một trong những nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế, là
một phần quan trọng của thị trờng tài chính.
ở Việt Nam, trong những năm gần đây hoạt động của bảo hiểm ngày càng
phát triển, chỉ tính riêng năm 1987 - là năm đầu nớc ta bắt đầu thực hiện chính
sách mới về kinh tế - toàn ngành bảo hiểm đã thu đợc xấp xỉ 1 tỷ đồng, gần bằng
doanh thu suốt cả 20 năm hoạt động trớc đó. Tiếp tục đà phát triển đó, cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thị trờng và nhiều loại hình bảo hiểm phong phú, tổng
doanh thu bảo hiểm năm 1999 trên 2000 tỷ đồng với mức đầu t trở lại nền kinh tế
chiếm 0,5% GDP (khoảng 1648 tỷ đồng). Toàn bộ số vốn bảo hiểm tập trung đợc
gửi vào tài khoản ngân hàng và ngân hàng sử dụng để đầu t cho các ngành sản
xuất. Để minh họa cho điều này, ta có bảng số liệu sau :
Bảng 1: Tình hình hoạt động kinh doanh bảo hiểm giai đoạn 1995 - 1999
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 7 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
(Đơn vị : tỷ đồng)
Năm 1995 1996 1997 1998 1999
1. Tổng doanh thu
- % GDP
1027
0,43
1648
0,48
4. Nộp ngân sách 84 100 105 110 120
(Nguồn : Thời báo kinh tế Việt Nam, số 2/2000)
3.2. Thông qua việc giải quyết bồi thờng thiệt hại, bảo hiểm có tác dụng góp
phần ổn định sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống
Thông thờng, ngời tham gia bảo hiểm chỉ thấy đợc vai trò này của bảo hiểm
khi phát sinh trách nhiệm bồi thờng của bảo hiểm. Khi đối tợng bảo hiểm bị tổn
thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng toàn bộ hay một phần số tiền thiệt hạI, lúc
đó lợi ích của việc tham gia bảo hiểm mới rõ ràng. Ngợc lại, khi cha có tổn thất
xảy ra với đối tợng bảo hiểm thì ngời tham gia bảo hiểm cha thấy đợc sự cần thiết
tất yếu của việc đóng góp hình thành nên quỹ bảo hiểm.
Do thực hiện nguyên tắc lấy số đông bù số ít nên hoạt động bảo hiểm tập
trung đợc một lợng tiền khá lớn dùng để bù đắp những thiệt hại, mất mát về ngời
và tài sản do các rủi ro, tai nạn bất ngờ xảy ra. Do đó, doanh nghiệp hay cá nhân
ngời bị thiệt hại có thể phục hồi lại năng lực tài chính của mình, ổn định tình hình
sản xuất kinh doanh và đời sống.
Việc thực hiện tốt giải quyết bồi thờng sẽ khiến cho nhiều ngời thấy đợc vai
trò của bảo hiểm trong cuộc sống của mình, và từ đó lôi cuốn đợc nhiều ngời hơn
tham gia bảo hiểm. Nhờ đó, quỹ bảo hiểm ngày càng lớn và việc bồi thờng lại càng
đợc thực hiện tốt hơn.
3.3. Bảo hiểm còn góp phần tăng cờng công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 8 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
Do đặc thù kinh doanh của mình, các công ty bảo hiểm thông qua việc thống
kê thờng xuyên các vụ tai nạn và tổn thất trong các lĩnh vực của đời sống, phát
cùng kỳ năm 2001, đến nay đạt gần 4.000 tỷ đồng. Bảo Việt còn đầu t vào các lĩnh
vực khác nh : trái phiếu Chính phủ, cho vay theo dự án.
Qua hoạt động đầu t sinh lời, bảo hiểm nộp một phần vào ngân sách Nhà nớc
theo luật định góp phần tăng tích luỹ cho ngân sách, do đó chi tiêu cho phúc lợi
tăng, đời sống nhân dân đợc cải thiện. Phần còn lại để phát triển, mở rộng hoạt
động bảo hiểm phục vụ cho lợi ích chung của nền kinh tế.
Mặt khác, để nâng cao hiệu quả hoạt động, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm
đều tăng cờng công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Từ đó, Nhà nớc giảm bớt đợc
gánh nặng về y tế, làm lại các công trình công cộng Ngân sách Nhà n ớc sẽ tiết
kiệm đợc một khoản lớn để đầu t vào những ngành sản xuất chính, tạo nhiều công
ăn việc làm cho ngời lao động cũng nh thúc đẩy sản xuất phát triển.
Đối với Bảo Việt, một doanh nghiệp Nhà nớc lớn trong lĩnh vực bảo hiểm,
tổng nộp ngân sách trong 5 năm gần đây đợc thể hiện qua đồ thị sau :
Bảng 2 : Tổng nộp ngân sách Nhà nớc của Bảo Việt từ 1997 - 2001
79.62
97.22
90.14
96.9
103.93
0
20
40
60
80
100
120
1997 1998 1999 2000 2001
Tỷ VND
(Nguồn : http://www.baoviet.com.vn/financial report)
Thêm vào đó, khi mở rộng và phát triển các loại hình bảo hiểm trong nớc, các
bảo hiểm, do vậy, phải tính toán chính xác sao cho vừa đảm bảo kinh doanh bảo
hiểm có lãi vừa đảm bảo đợc khách hàng chấp nhận.
Ngoài nguyên tắc trên thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn phải tôn trọng
các nguyên tắc cơ bản sau :
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 11 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
4.1. Nguyên tắc bảo hiểm rủi ro chứ không bảo hiểm cái chắc chắn
Theo nguyên tắc này, ngời bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm rủi ro tức là bảo hiểm
một sự cố tai nạn, tai hoạ xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con ngời
chứ không bảo hiểm cái chắc chắn xảy ra, đơng nhiên xảy ra, có thể lờng trớc đợc
cũng nh chỉ bồi thờng những thiệt hại do rủi ro gây ra chứ không bồi thờng những
thiệt hại chắc chắn hay đơng nhiên xảy ra.
4.2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Theo nguyên tắc này, bảo hiểm phải tiến hành trên cơ sở trung thực và tin t-
ởng lẫn nhau giữa ngời đợc bảo hiểm và ngời bảo hiểm thể hiện ở :
- Ngời bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, biểu
phí cho ngời đợc bảo hiểm biết; không đợc nhận bảo hiểm khi biết đối tợng bảo
hiểm đã đến nơi an toàn hay đã bị tổn thất.
- Ngời đợc bảo hiểm phải kê khai chính xác các chi tiết liên quan đến đối tợng bảo
hiểm và các rủi ro hay hiểm hoạ có thể gây tổn thất cho đối tợng bảo hiểm; phải
thông báo kịp thời những thay đổi về đối tợng bảo hiểm; không đợc mua bảo hiểm
khi đối tợng bảo hiểm đã bị tổn thất.
Hợp đồng bảo hiểm còn là hợp đồng của sự tín nhiệm: "contract of
goodfaith", do đó, nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có
hiệu lực.
4.3. Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm
Theo nguyên tắc này, chỉ có những ngời có lợi ích bảo hiểm thực sự thì mới
đợc kí kết hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng đó mới hợp pháp. ở đây, lợi ích bảo
Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng, qua đó một ngời (đợc bảo hiểm) tự cam
kết trả một khoản tiền (phí) để mình hay một ngời thứ ba (ngời thụ hởng), trong tr-
ờng hợp rủi ro xảy ra (sự cố bất ngờ và gây ra thiệt hại) có trợ giúp bởi một ngời
khác (ngời bảo hiểm).
Đó chính là thoả thuận giữa một ngời bảo hiểm và một ngời đợc bảo hiểm để
kí hợp đồng : nguời bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho rủi ro đợc yêu cầu và ngời
đợc bảo hiểm trả phí theo thoả thuận.
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 13 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
II. Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đờng hàng không
Bảo hiểm là một ngành kinh tế đặc biệt đã đợc con ngời biết đến từ hàng
nghìn năm nay, trong đó, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là một trong những
nghiệp vụ bảo hiểm cổ xa nhất trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 600 năm. Ng-
ời ta biết đến đơn bảo hiểm hàng hoá đầu tiên đã đợc cấp cho chuyến hàng xếp trên
tàu Santa Clara từ Giơnoa đến Marjorca vào năm 1347).
Trong thơng mại quốc tế ngày nay, có lẽ khó mà tìm đợc một hoạt động nào
mà lại không có bảo hiểm. Có chăng chỉ còn xuất khẩu điện bằng dây cáp hay xuất
khẩu nhiên liệu bằng đờng ống là cha đợc bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu chiểu theo luật
của một số nớc thì những trờng hợp trên cũng phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của chủ sở hữu đờng dây điện hay đờng ống đối với những tổn thất bất ngờ
có thể xảy ra trên đờng vận chuyển, gây thiệt hại co ngời thứ ba hay đối với môi tr-
ờng xung quanh.
Sự cần thiết phải có bảo hiểm cho các loại hàng hoá, sản phẩm giờ đây đã
thực sự là điều không ai có thể nghi ngờ đợc. Bảo hiểm là phơng thức linh hoạt
nhất, thuận tiện nhất để bù đắp cho chủ hàng bị tổn thất trong quá trình sản xuất,
vận chuyển hay sử dụng trong các trờng hợp thiên tai hay tai nạn bất ngờ, là tấm lá
chắn hữu hiệu nhất để bảo toàn vốn cho các doanh nghiệp.
Nh vậy, hoạt động xuất nhập khẩu thực sự là một hoạt động có tính rủi ro
cao. Rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ công đoạn nào của hoạt động xuất nhập
khẩu, từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nh thiên nhiên, kỹ thuật, môi trờng kinh
doanh, chính sách của Nhà nớc, ... Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ nh hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu đợc mở rộng,
ngời ta không chỉ quan hệ buôn bán với những nớc láng giềng nữa mà còn với tất
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 15 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
cả các nớc trên thế giới. Khoảng cách về không gian và thời gian càng rộng tất yếu
sẽ kéo theo xác suất về rủi ro tăng lên. Chính vì vậy, việc mua bảo hiểm cho hàng
hoá xuất nhập khẩu là một công việc không thể thiếu trong quá trình xuất nhập
khẩu hàng hoá và hiện nay nó đã trở thành thông lệ quốc tế.
Hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay có thể đợc chuyên chở bằng nhiều phơng
thức vận tải khác nhau nh : máy bay, ô tô, tàu hoả, ... trên nhiều tuyến đờng khác
nhau nh : đờng không, đờng sắt, đờng biển, ... và còn có nhiều phơng thức vận tải
hiện đại nh : vận tải liên hợp, vận tải đa phơng thức, ... Trong thực tế, phơng thức
vận chuyển đờng biển đợc áp dụng nhiều hơn cả, chiếm tới khoảng 90% tổng khối
lợng hàng hoá xuất nhập khẩu của thế giới do những u điểm riêng của phơng thức
vận tải này nh : năng lực vận tải lớn, cớc phí thấp, ... Tuy nhiên, phơng thức vận
chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đờng hàng không trong buôn bán quốc tế
vẫn chiếm một vị trí không thể thiếu. Tuy chỉ chuyên chở khoảng 1% tổng khối l-
ợng hàng hoá trong buôn bán quốc tế nhng lại chiếm khoảng 20% trị giá hàng hoá
trong mua bán quốc tế. Đối với các nớc phát triển, chuyên chở hàng hoá bằng đờng
hàng không chỉ chiếm một lợng nhỏ hơn 1%, nhng lại chiếm khoảng 30% trị giá.
Điều này cho thấy : nếu nói về khối lợng hàng hoá thì rất nhỏ nhng về giá trị, vận
tải hàng không chiếm vị trí tơng đối quan trọng; và chứng tỏ rằng : hàng hoá đợc
chuyên chở bằng đờng hàng không chủ yếu là hàng hoá có giá trị cao. Bên cạnh
đó, do đặc điểm về tốc độ của vận chuyển hàng không là nhanh nhất so với các ph-
quy định trách nhiệm của ngời vận chuyển hàng không đối với hành khách, hành
lý, hàng hoá và các bên thứ ba khác. Về sau, các mức trách nhiệm này lại đợc nâng
lên dần theo sự phát triển của nền kinh tế và ngành hàng không và đến nay có thể
lên đến hàng trăm triệu USD một vụ tổn thất.
Với đặc điểm riêng có của hình thức vận tải hàng không nh : tuyến đờng
trong vận tải hàng không là không trung và hầu nh là đờng thẳng không phụ thuộc
vào địa hình mặt đất, mặt nớc, không phải đầu t xây dựng; tốc độ vận tải cao, thời
gian vận tải ngắn; an toàn nhất trong các phơng thức vận tải;... thì dờng nh chuyên
chở hàng hoá bằng đờng hàng không đã khắc phục đợc những hạn chế cố hữu gây
ra nhiều tổn thất cho hàng hoá của hình thức vận tải đờng biển. Tuy nhiên, do giá
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 17 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
trị của mặt hàng trong vận tải hàng không thờng rất lớn nên việc lựa chọn tất yếu
của các chủ hàng để đảm bảo công việc kinh doanh của mình ổn định, nếu có tổn
thất xảy ra, chính là mua bảo hiểm.
Hơn nữa, ngày nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ngành
hàng không phát triển với tốc độ rất nhanh và trở nên vô cùng quan trọng không
chỉ về mặt vận chuyển hành khách mà còn đáp ứng cả nhu cầu ngày càng cao về
vận chuyển hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất nhập khẩu. Đi kèm với nó, dịch vụ
bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đờng hàng không cũng ngày
một phát triển và thiết yếu hơn bao giờ hết.
III. Một số nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đờng hàng không
Khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá bằng đờng hàng không, mỗi một chủ
hàng đều có thể mua bảo hiểm cho hàng hoá của mình theo hai cách : mua trực
tiếp từ hãng hàng không thông qua cớc phí vận chuyển phải trả cho hàng hoá đó,
hoặc là mua bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm chuyên ngành. Trong nội dung bài
thành nhiệm vụ chuyên chở và giao hàng theo đúng hợp đồng mua bán. Ngời vận
chuyển chỉ giao hàng cho ngời sở hữu hàng hoá, tức là ngời có vận đơn gốc.
Nh vậy, trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá chủ yếu có 4 bên liên quan
là : ngời bán, ngời mua, ngời vận chuyển và ngời bảo hiểm.
1.2. Trách nhiệm của các bên liên quan trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu
Ngời bán hàng (ngời xuất khẩu hàng) có trách nhiệm :
+ chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng đã kí kết về số lợng, chất lợng, ...
+ làm thủ tục hải quan và kiểm dịch
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 19 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
+ nếu ngời bán mua bảo hiểm thì khi hàng qua khỏi biên giới, địa phận quốc gia
phải chuyển nhợng quyền lợi bảo hiểm sang cho ngời mua
Ngời mua hàng (ngời nhập khẩu hàng) có trách nhiệm :
+ nhận hàng từ ngời chuyên chở theo số lợng, chất lợng, chủng loại trong vận đơn
hay hợp đồng mua bán
+ kiểm tra các loại giấy tờ có liên quan nh biên bản kết toán giao nhận hàng với
chủ tàu, bên mua phải tiến hành các thủ tục pháp lý để bên bán xác định thiệt hại
(nếu có)
+ nhận phần chuyển nhợng bảo hiểm từ ngời bán hay tự mua bảo hiểm và theo dõi
cho đến khi hàng về tới kho
+ nếu hàng hoá có vấn đề tổn thất thì phải kịp thời thông báo cho các bên liên
quan để giải quyết
Ngời chuyên chở hàng hoá có trách nhiệm :
+ chuẩn bị phơng tiện và con ngời để nhận và đảm bảo chuyên chở hàng hoá theo
hợp đồng với bên bán và giao hàng cho bên mua
+ về số lợng hàng hoá trong quá trình chuyên chở
+ khi có tổn thất xảy ra phải kịp thời ghi chép lại, thông báo cho các bên liên quan
+ kim cơng và các đồ đá quí, đồ trang sức, ...
Hàng dễ h hỏng do thời gian (perisable) : bao gồm hoa quả tơi, thực phẩm đông
lạnh, ...
Hàng nhạy cảm với thị trờng (market sensitive air freight) : nh các loại hàng
bán theo mùa, hàng mốt, hàng thời trang (fashion goods)
Động vật sống (alive animals) : loại này gồm động vật nuôi trong nhà, động vật
ở các vờn thú. Động vật sống cần có yêu cầu về kiểm dịch, chăm sóc đặc biệt,
đòi hỏi vận chuyển nhanh để không ảnh hởng tới sức khoẻ.
3. Các điều khoản bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đờng hàng không
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 21 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
Điều kiện, điều khoản bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là những quy định
phạm vi trách nhiệm của ngời bảo hiểm đối với tổn thất của hàng hoá. Hàng hoá
mua bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản nào thì chỉ những rủi ro xảy ra trong điều
kiện, điều khoản đó mới đợc bồi thờng.
Khác với các loại hình bảo hiểm hàng không khác nh : bảo hiểm thân máy
bay; bảo hiểm trách nhiệm đối với hành khách, hành lý và hàng hoá; bảo hiểm
trách nhiệm sản phẩm; do hãng hàng không mua từ các công ty bảo hiểm, bảo
hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đờng hàng không có thể do các
chủ hàng mua từ các công ty bảo hiểm chuyên ngành, nó tơng tự nh hình thức xuất
nhập khẩu hàng hoá bằng đờng biển. Do vậy, điều khoản bảo hiểm này không nằm
trong các Công ớc hay các Nghị định th của vận tải hàng không mà đợc ban hành
trong điều khoản bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của ICC.
Trên thế giới đã có 2 lần ban hành và sửa đổi điều kiện bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu vào năm 1963 và 1982. Lần thứ nhất: ở Anh, ngày 1-1-1963 ban
hành 3 điều kiện cơ bản là bảo hiểm miễn tổn thất riêng (FPA), bảo hiểm tổn thất
riêng (WA), điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (AR), đợc áp dụng rộng rãi. Nhng do
giao lu thơng mại quốc tế ngày một thay đổi và phát triển, ngày1-1-1982, Viện
- Tổn thất hay chi phí do nội tỳ hay bản chất của đối tợng bảo hiểm
- Tổn thất hay chi phí phát sinh từ sự không phù hợp của máy bay, phơng tiện
vận chuyển, container hay băng chuyền (unfitness aircraft conveyor container
or liftman), đối với việc vận chuyển an toàn đối tợng bảo hiểm, khi ngời đợc
bảo hiểm hay ngời làm công của họ đã biết trớc sự không phù hợp nh vậy vào
lúc xếp hàng
- Mất mát, h hại hay chi phí do chậm trễ, dù chậm trễ gây ra bởi một rủi ro đợc
bảo hiểm
- Mất mát, h hỏng hoặc phát sinh chi phí do tình trạng thua lỗ tài chính mất khả
năng chi trả (loss damage or expensive arising from insolvency financial
default) của những ngời chủ, ngời quản lý, ngời thuê hay ngời khai thác máy
bay (owners, managers, chatterers or operators)
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 23 -
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở
bằng đờng hàng không tại Bảo Việt
- Mất mát, h hại do việc sử dụng vũ khí chiến tranh, hạt nhân nguyên tử
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng
- Bị bắt, tịch thu, câu thúc, câu lu
- Bom, mìn và các vũ khí chiến tranh
- Tổn thất do những ngời đình công, cấm xởng, bạo động nổi loạn dân sự
- Tổn thất do những ngời khủng bố (terrorist), hay bất cứ ngời nào hành động vì
mục đích chính trị.
Nh vậy, nếu nh bảo hiểm hàng hoá bằng đờng biển có các đIều kiện A, B, C
tuỳ theo mức độ rủi ro thì bảo hiểm hàng hoá bằng đờng không chỉ có đIều khoản
về những rủi ro đợc bảo hiểm và loại trừ. Các rủi ro loại trừ bao quát hơn nên ngời
ta thờng gọi đIều khoản bảo hiểm hàng hoá bằng đờng không là covering institute
cargo clause
3.3. Thời hạn bảo hiểm (điều khoản vận chuyển, điều khoản kết thúc hợp đồng
vận chuyển, điều khoản thay đổi hành trình)
hiểm yêu cầu tiếp tục bảo hiểm trong khi bảo hiểm vẫn còn hiệu lực với điều kiện
phải nộp thêm phí bảo hiểm nếu ngời bảo hiểm yêu cầu, hoặc
- cho tới khi hàng đợc đem bán và giao ngay tại địa điểm đó, hoặc trừ khi có thoả
thuận riêng khác, cho tới khi hết thời hạn 30 ngày sau khi hàng hoá đợc bảo
hiểm đến địa điểm đó, tuỳ theo trờng hợp nào xảy ra trớc, hoặc
- nếu hàng hoá đợc gửi đi trong thời hạn 30 ngày nói trên (hoặc bất kỳ thời hạn
mở rộng nào đã thoả thuận) tới nơi đến có tên ghi trong hợp đồng bảo hiểm hay
tới bất kỳ nơi đến nào khác cho tới khi kết thúc bảo hiểm theo những quy định
trên.
d) Thay đổi hành trình
Sau khi bảo hiểm này bắt đầu có hiệu lực nếu ngời đợc bảo hiểm thay đổi nơi
đến thì bảo hiểm này vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều kiện ngời đợc bảo hiểm
phải thông báo ngay cho ngời bảo hiểm biết với phí bảo hiểm và những điều kiện
đợc thoả thuận.
Nguyễn Thị Thanh Xuân A3 - K37 - 25 -