TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI ĐIỆN LỰC CẦU GIẤY-CÔNG TY ĐIỆN LỰC
TP HÀ NỘI
2.1- Đặc điểm tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty điện lực
hà nội.
2.1.1- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Điện lực Hà
Nội
Công ty Điện lực Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng
Công ty Điện lực Việt Nam- Bộ công nghiệp, có trụ sở đóng tại 69 Đinh Tiên
Hoàng, Hoàn Kiếm- Hà Nội.
Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể tóm lược một số nét
cơ bản sau:
Tổ chức tiền thân của Công ty Điện lực TP Hà Nội là Nhà máy đèn Bờ
Hồ, do thực dân Pháp xây dựng năm 1892 sau khi xâm chiếm toàn bộ nước ta,
với vốn đầu tư ban đầu là 3 triệu Frăng.
Năm 1954 chính quyền cách mạng tiếp nhận nhà máy từ tay thực dân
Pháp.
Năm 1960 Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ ba đã chỉ rõ: “… Để phát
triển các nghành kinh tế khác thì cần phải phát triển điện lực trước một bước”.
Vì vậy, trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhiều nhà máy nhiệt điện được xây
dựng và đi vào sử dụng và song song với nó các trạm cao thế 110KV được đưa
vào vận hành. Lúc này, Nhà máy đèn Bờ Hồ được đổi tên thành Sở quản lý và
phân phối điện khu vực I. Sở được giao quản lý trạm 110KV Đông Anh và phần
lớn đường dây 110KV. Tính đến cuối năm 1964 sản lượng điện thương phẩm đã
đạt được 251,5 KWh (riêng khu vực Hà Nội là 82,5 triệu KWh) gấp 12 lần sơ
với năm 1954.
Đến năm1980 Sở quản lý và phân phối điện I được đổi tên thành Sở Điện
lực Hà Nội. Năm 1980 Sở Điện lực Hà Nội được củng cố một bứơc về tổ chức
sản xuấtm các trạm 110KV tách khỏi Sở để thành lập Sở truyền tải. Phân xưởng
Diezel tách ra thành lập Nhà máy Diezel. Bộ phận đèn đường tách ra trở thành
Xí nghiệp đèn công cộng trực thuộc Thành phố quản lý. Nhiệm vụ của Sở Điện
Công ty Điện lực Hà Nội có phạm vi hoạt động là khu vực Hà Nội và
vùng phụ cận, bao gồm : 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.
2.1.2.1- Chức năng của Công ty:
- Tổ chức kinh doanh và vận hành lưới điện.
- Khảo sát điện và sửa chữa các thiết bị điện
- Xây lắp điện
- Sản xuất phụ kiện và thiết bị điện
- Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị điện
- Tổ chức và hoàn thiện hệ thống kinh doanh truyền tải và phân phối điện
năng trên khu vực Hà Nội, thực hiện nghĩa vụ thu nộp tiền điện cho Tổng công
ty và ngân sách Nhà nứơc. Thực hiện các dịch vụ liên quan đến nghành điện.
2.1.2.2- Nhiệm vụ của Công ty.
Để thực hiện tốt các chức năng trên Công ty đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Tổ chức tốt công tác kế hoạch hoá:
+ Lập kế hoạch cải tạo, nâng cấp và phát triển lưới điện trong địa bàn
+ Lập kế hoạch mua bán điện năng thương phẩm, kế hoạch cung ứng điện
cho các thành phần kinh tế địa phương.
- Quản lý chặt chẽ khách hàng điện năng thương phẩm
- Tổ chức công tác cán bộ, lao động tiền lương và đào tạo.
- Tổ chức tốt công tác quản lý lưới điện trong thành phố, giảm thiểu thất
thoát.
- Tổ chức tốt công tác phát triển điện nông thôn.
- Phấn đấu giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, đặc biệt là chi phí trong
quản lý sản xuất, vận hành điện.
- Thực hiện tốt nghĩa vụ đóng góp với ngân sách nhà nước.
- Quản lý và vận hành các thiết bị truyền tải cao, trung và hạ áp, bảo đảm
cung cấp điện đầy đủ ( lưới điện phủ khắp các ngõ phố trong nội thành và các
khu vực phụ cận), ổn định (điện áp ổn định, ít dao động), liên tục (cung cấp
24/24 giờ) với chất lượng cao, thực hiện tốt kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5
sản xuất điện, sản lượng điện này gọi là điện thanh cái.
Điện thanh cái =
Tổng sản lượng điện do
nhà máy điện sản xuất
ra
-
sản lượng điện dùng
để sản xuất
điện ở nhà máy điện
Điện do các nhà máy sản xuất ra, muốn đưa đến người sử dụng điện phải qua
hệ thống truyền tải, phân phối điện. Chức năng này được giao cho các công ty
truyền tải điện và công ty Điện lực đảm nhận trên địa dư từng thành phố, tỉnh
thành. Hệ thống truyền tải điện gồm: cột, đường dây cao thế (từ 66KV đến
220KV và 500KV), hệ thống điện trung thế (từ 6KV đến 35KV), các trạm biến
thế điện và mạng lưới điện hạ thế. Hệ thống truyền tải điện đi càng xa, càng mở
rộng thì càng hao hụt nhiều ở đường dây và trạm biến áp. Sản lượng điện của hệ
thống truyền tải phân phối là lượng điện thương phẩm tức là sản lượng điện
truyền dẫn đến người sử dụng điện. Điện thương phẩm bằng điện thanh cái của
các nhà máy phát điện đưa lên máy truyền tải trừ đi sản lượng điện hao hụt mất
mát trên hệ thống truyền tải và phân phối (tổn thất điện).
Điện thương
phẩm
=
Điện thanh
cái
-
tổn thất
điện
phân cấp của Công ty.
Quy trình kinh doanh mua bán điện của Công ty Điện lực HN có thể khái
quát như sau:
Tổng công ty sẽ dựa vào số điện mua đầu nguồn của Công ty ĐLHN để
xác định doanh thu của công ty TTĐ1, còn Công ty ĐLHN sẽ dựa vào số điện
mua đầu nguồn này để xác định chi phí mua điện của Tổng công ty(sau đó sẽ
tập hợp vào giá thành điện thương phẩm). Đối với ngành điện, điện sản xuất ra
đến đâu tiêu thụ hết đến đó, không thể có trường hợp điện do Công ty TTĐ1
truyền về trạm đầu nguồn thành phố HN là 3 triệu KWh trong 1 ngày đêm
nhưng công ty ĐLHN chỉ mua 2 triệu KWh được do đó, điện truyền tải về bao
nhiêu, công ty TTĐ1 được tính doanh thu và Công ty ĐLHN được xác định chi
phí bấy nhiêu. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm điện truyền vào trạm đường
dây đầu nguồn thành phố HN để tính doanh thu của công ty TTĐ1 và tính chi
phí mua điện của công ty ĐLHN chỉ mang tính lý thuyết vì trên thực tế thời
điểm này diễn ra rất nhanh và xảy ra liên tục (do dòng điện truyền liên tục,
không thể tính doanh thu và chi phí theo từng giây một), kế toán chỉ có thể xác
định một cách tương đối 1 lần đối với doanh thu và chi phí mua điện theo tháng,
quí , năm nhằm tạo thuận lợi cho công tác kế toán. Đây cũng chính là một đặc
thù của Công ty ĐLHN bởi tất cả các khâu từ sản xuất đến phân phối tiêu dùng
điện là một dây chuyền khép kín toàn ngành.
2.1.4- Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
Xuất phát từ tình hình và nhiệm vụ mà cấp trên giao, việc tổ chức xây
dựng bộ máy quản lý của công ty phải vừa phù hợp với đặc điểm của ngành
nghề sản xuất kinh doanh vừa đáp ứng được nhu cầu về mặt nhân lực và chất
lượng sản xuất kinh doanh của đơn vị
Công ty tổ chức quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng. Đứng đầu
công ty là Giám độc, Giám đốc công ty là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa
vụ của toàn công ty trước cơ quan cấp trên và trước pháp luật.
Giúp việc cho Giám đốc là 3 phó giám đốc: một phó giám đốc kinh
doanh, một phó giám đốc kỹ thuật và một phó giám đốc phụ trách đầu tư xây
Tổ chức kiểm tra, xét duyệt báo cáo quyết toán tài chính của các đơn vị trực
thuộc...
+ Phòng Vật tư:
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác mua sắm, quản lý, theo dõi, cấp phát vật tư thiết bị và một số
công việc khác được giao, thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị
thực hiện.
+ Phòng Bảo vệ quân sự:
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác tổ chức hoạt động bảo vệ, quân sự...
+ Phòng Quản lý đầu tư xây dựng.
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác quản lý đầu tư xây dựng và một số công việc khác được giao.
+ Phòng Kinh doanh bán điện.
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác kinh doanh điện năng trong toàn Công ty theo quy định …
+ Phòng Kinh tế đối ngoại, xuất nhập khẩu.
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo hoạt động kinh tế đối ngoại, hợp tác quốc tế, xuất nhập khẩu vật tư thiết
bị theo phân cấp của Tổng công ty ; hoạt động nghiên cứu, phát triển thị
trường...
+ Phòng Thanh tra :
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp dân...
+ Phòng Quản lý tiếp nhận lưới điện nông thôn.
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác quản lý, tiếp nhận lưới điện nông thôn của Công ty ...
+ Phòng Bảo hộ lao động.
Có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Giám đốc Công ty trong quản lý,
chỉ đạo công tác an toàn lao động, công tác bảo hộ lao động, phòng chống bão
chính xác an toàn và hiệu quả.
+ Xí nghiệp quản lý lưới điện 110KV: quản lý và vận hành lưới điện
110KV tại các trạm đầu nguồn khu vực Hà Nội.
+ Xưởng công tơ: có nhiệm vụ sửa chữa, đảm bảo độ chính xác của công
tơ điện và các thiết bị đo điện trước khi đưa vào sử dụng.
+ Ban quản lý dự án lưới điện Hà Nội: là ban quản lý chuyên trách
nghiên cứu và triển khai dự án cải tạo và phát triển lưới điện Hà Nội.
Ngoài ra, để đảm bảo công tác kinh doanh bán điện, cung ứng điện liên
tục, xử lý kịp thời các sự cố, hàng năm Công ty còn phải cải tạo, nâng cấp, sửa
chữa lưới điện và phục vụ các nhu cầu sử dụng điện khác của khách hàng như:
xây dựng các trạm biến thế, lắp đặt các hệ thống đường dây điện... Các hoạt
động kinh doanh phụ này đều được các Điện lực, các xưởng, đội của Công ty
đảm nhiệm.
Nhìn chung, Công ty đã xây dựng được một bộ máy quản lý chặt chẽ hiệu
lực chỉ huy mạnh mẽ, kịp thời. Đồng thời, thủ trưởng đơn vị lại được khối
lượng các phòng ban gánh vác bớt những phần việc mang tính chất chuyên môn
sâu và đặc thù. Chính vì vậy, mà trong những năm qua Công ty đã bước vào
kinh doanh một cách ổn định, hiệu quả góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn
Thủ đô.
Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được khái quát như sau
2.1.5. Đặc điểm hộ máy kế toán ở Công ty.
2.1.5.1. Sơ đồ bộ máy kế toán.
Công ty áp dụng hình thức kế toán vừa tập trung vừa phân tán
*) Nội dung :
Ở đơn vị chính có phòng kế toán trung tâm và ở các đơn vị phụ thuộc có
phân cấp quản lý kinh tế tài chính cũng có tổ chức bộ máy kế toán riêng.
- Ở phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ :
+ Thực hiện toàn bộ công tác kế toán phát sinh ở đơn vị chính.
+ Hướng dẫn và kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị thành viên.
+ Lập kế hoạch giao các chỉ tiêu tài chính cho các đơn vị trực thuộc Công
+ Kế toán tiền gửi ngân hàng : Ghi chép các khoản thu, chi liên quan đến
TGNH. Cuối tháng đối chiếu số dư tài khoản TGNH với bảng sao kê do NH
gửi ; lập báo cáo chi tiết tài khoản TGNH nộp cho kế toán tổng hợp.
+ Kế toán tiền mặt : Theo dõi các khoản thu chi liên quan đến tiền mặt,
xác định và lập bảng kê khai nộp thuế.
Phó phòng
TCKT
Phó phòng TCKT
+ Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ : tính lương và theo dõi
việc thanh toán lương, tiền thưởng, BHXH và các khoản thuộc về thu nhập của
CBCNV…
+ Kế toán vật tư :
/ Kế toán tổng hợp vật tư, hàng hoá : Tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ về
quản lý hạch toán vật tư hàng hoá cho kế toán chi tiết vật tư. Ghi chép, phản
ánh đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của từng mặt hàng cả
về giá trị và hiện vật …
/ Kế toán chi tiết vật tư, hàng hoá : Hàng ngày ghi giá vật tư nhập, xuất
luân chuyển nội bộ trong Công ty vào chứng từ nhập xuất, và nhập phiếu nhập
xuất từ thẻ kho và nhập chứng từ vào máy…
+ Kế toán TSCĐ : Hạch toán tình hình tăng, giảm TSCĐ ; mọi tình hình
biến động về tài sản đều được theo dõi trên thẻ TSCĐ. Xác định đúng đối tượng
phân bổ, mức trích khấu hao TSCĐ. Cuối tháng lập bảng phân bổ khấu hao, báo
cáo tăng giảm TSCĐ, bảng tổng hợp nguyên giá và toàn bộ hao mòn….
+ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành : Theo dõi sổ kế toán tổng
hợp. Phụ trách khâu tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất. Cuối kỳ hạch toán lập báo
cáo tài chính thông qua sự chỉ đạo của Kế toán trưởng và trình Giám đốc phê
duyệt.
+ Kế toán sửa chữa lớn TSCĐ : tập hợp chi phí SCL, theo dõi việc thanh
quyết toán các công trình SCL tại các đơn vị trực thuộc.
+ Kế toán thuế và các khoản phải nộp Ngân sách : tính thuế được khấu
TK 13624 : "Vay dài hạn dùng cho XDCB"
………………………
TK 3362 : "Vãng lai giữa TCT với các đơn vị trực thuộc TCT"
TK 33621 : "Tiền mua điện"
TK 33622 : "Các quỹ"
TK 33623 : "Vốn khấu hao TSCĐ"
TK 33626 : "Thuế GTGT được khấu trừ"
………………………..
Tài khoản Công ty mở thêm :
TK 1363 : "Vãng lai trong nội bộ Công ty"
TK 1364: "Vãng lai trong nội bộ đơn vị cơ sở"
TK 3363 : "Vãng lai trong nội bộ công ty"
TK 3364 : "Vãng lai trong nội bộ đơn vị cơ sở"
…………………………..
Việc lựa chọn những tài khoản hợp lý sẽ xử lý và cung cấp thông tin kế
toán đầy đủ, phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý của Công ty. Hơn nữa Công ty áp
dụng kế toán trên máy nên quy định được chi tiết nhiều hơn, theo đó có thể
quản lý chặt chẽ hơn các đối tượng kinh tế tài chính.
2.1.5.2 Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty
Công ty áp dụng hình thức sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung. Đặc
trưng của hình thức này là tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều
được ghi vào sổ nhật ký trọng tâm là sổ nhật ký chung, theo thứ tự thời gian
phát sinh và định khoản nghiệp vụ đó, sau đó máy tự động chuyển ghi sổ cái
theo từng nghiệp vụ phát sinh.
2.1.5.3 Chính sách kế toán áp dụng tại công ty :
Công ty áp dụng chế độ kế toán theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC
Ngày 20/03/2006 của Bộ
Trình tự ghi sổ kế toán của Công ty được khái quát như sau:
Hầu hết các sổ kế toán đều được ghi hàng ngày vì khi các chứng từ được
nhập vào thì máy sẽ tự động vào các sổ kế toán liên quan. Hệ thống sổ sách ,
phân tích số liệu trên các sổ, các báo cáo kế toán để có thể đưa ra các quyết định
phù hợp.
VD : Nhận được phiếu nhập kho ngày 8/12/2007 nhập kho công tơ 1 pha
220V 10-40A, số lượng 440 cái, đơn giá nhập: 105.000đ/cái; thuế suất T.GTGT
5% chưa trả tiền người bán là công ty Thiết bị đo điện. Kế toán nguyên vật liệu
sẽ ghi vào TK Nợ là TK 15231F6 Công tơ kho 6, TK Có là TK 33111, TK phản
ánh thuế GTGT được khấu trừ là TK 13311. Kế toán nguyên vật liệu chỉ cần
nhập số lượng, đơn giá và % thuế suất sau đó máy sẽ tự động tính ra tổng số
tiền thanh toán là 48.510.000đvà số thuế GTGT được khấu trừ là 2.310.000đ.
Sau khi cập nhật trên TK 15231F6, máy sẽ tự động cập nhật lần lượt vào các
TK cấp cao hơn TK 15231-Công tơ, rồi đến TK 1523-Phụ tùng và cuối cùng
đến TK 152-nguyên vật liệu. Cuối kỳ, sổ cái TK152 sẽ được dùng để đối chiếu
với các bảng kê nhập-xuất-tồn và các sổ chi tiết.
Tuy thực hiện kế toán trên máy nhưng các số liệu đều phải được in ra sổ
sách hàng tháng. Những sổ sách này phải có đầy đủ chữ ký của kế toán phần
hành, được Kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị xem xét, ký duyệt.
Hiện nay, để phục vụ nhu cầu quản lý Công ty quy định cho các đơn vị
thành viên đều phải mở sổ, ghi chép, quản lý, lưu giữ và bảo quản đúng chế độ
2.2- Tình hình thực tế về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu ở
Công ty Điện lực TP Hà Nội.
2.2.1- Các đối tượng cần quản lý có liên quan đến việc tổ chức kế
toán nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu trong công ty có rất nhiều chủng loại, phong phú, biến
động thường xuyên. Để tăng cường tính tự động hoá của chương trình và làm
giảm bớt sự cồng kềnh của hệ thống tài khoản. Các loại đối tượng được phân
biệt với nhau bởi mã đối tượng.
- Vật tư
- Kho
- Nguồn cung cấp.
*) Xây dựng danh mục nguyên vật liệu :
Mỗi loại vật tư lại có tính chất khác nhau, đơn vị tính khác nhau do đó, để
quản lý tốt Công ty đã sử dụng nhiều kho, mỗi kho được sử dụng để quản lý
một nhóm nguyên vật liệu có tính chất giống nhau. Để quản lý tốt các kho cũng
được tiến hành mã hoá theo mã kho. Các kho được mã hoá theo các số tự nhiên
từ 1 đến 9, và theo chữ cái in hoa từ A, B…đến Q.
Trên cơ sở danh mục vật tư được xây dựng và gắn với mã kho quản lý
công ty xây dựng được danh mục tài khoản kế toán như sau: mã đối tượng và
mã loại đối tượng được đưa thêm vào phía sau mã tài khoản để mở rộng phạm
vi và tính năng động của hệ thống tài khoản áp dụng cho doanh nghiệp (trích
bảng kê tài khoản).
Bảng kê tài khoản
Mã TK Tên tài khoản
1521 Nhiên liệu
15218 Nhiên liệu khác
15218F0 Nhiên liệu kho 0
15218F1 Nhiên liệu kho 1
………..
1525 Phế liệu
1525F7 Phế liệu kho 7
…..
Ngoài ra để thuận tiện cho việc nhập liệu, chương trình kế toán còn tiến
hành mã hoá các đơn vị, công trình sử dụng vật tư cũng như mã hóa lý do nhập
xuất.
Việc khai báo các mã vật tư, công trình… được tiến hành vào một lần đầu
tiên khi bắt đầu sử dụng chương trình phần mềm hoặc khi có một loại nguyên
vật liệu mới phát sinh mà chưa có sẵn trong danh mục, thì kế toán lại tiến hành
khai báo bổ sung thêm vào hệ thống danh mục đó.