GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG - Pdf 72

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT
TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT
TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tên giao dịch : Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông.
Trụ sở : Lô 18 - Khu đô thị mới Định Công - Phường Định Công - Quận Hoàng Mai -
Thành phố Hà Nội.
Điện thoại : 04.6405422 Fax : 04.6405430
Vốn điều lệ: 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng VN)
Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông ban đầu có tên là Ban công trình
thuộc Nha Bưu điện Vô tuyến điện Việt Nam được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1954
tại Phố Cò - Thành phố Thái Nguyên. Ra đời từ trong khói lửa của cuộc kháng chiến
chống Pháp với nhiệm vụ là tổ chức thi công các đường dây thông tin và lắp đặt máy
điện thoại, phục vụ thông tin liên lạc khu căn cứ Trung ương và vùng căn cứ cách mạng
được mở rộng (từ Thái Nguyên lên Việt Bắc).
Năm 1955, thực hiện Nghị định số 124/NĐ/BĐ - Ban Công trình được đổi tên
thành Tổng đội Công trình. Đây là đơn vị chủ lực, làm nhiệm vụ xây dựng các công
trình thông tin của ngành Bưu điện.
Đến tháng 04 năm 1957, chế độ hạch toán kinh tế ra đời, tổ chức của bộ máy Tổng
đội công trình có sự thay đổi. Cùng với việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Tổng Cục
Bưu điện, Tổng đội Công trình đổi tên thành Đội Công trình. Đây cũng là thời kỳ Đội
Công trình bắt tay vào xây dựng mạng cáp nội thị phục vụ thành phố và thị xã, nhằm
đảm bảo thông tin giữa Trung ương và địa phương.
Đến tháng 5 năm 1962, Tổng cục Bưu điện có quyết định đổi tên Đội công trình
thành Công ty Công trình Bưu điện trực thuộc Cục xây dựng cơ bản. Trụ sở: 60 Ngõ
Thổ Quan - Khâm Thiên - Đống Đa - Hà Nội.
Trải qua những năm tháng chiến tranh tàn phá khốc liệt, nhưng ngành Bưu điện nói
chung và Công ty Công trình Bưu điện nói riêng đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ của
Đảng và Nhà nước giao. Vào giữa thập niên 80, trước diễn biến phức tạp tình hình kinh
tế xã hội, nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị

nghệ thông tin;
- Xây dựng, lắp đặt các công trình điện, điện tử, thông gió điều hòa và cấp thoát
nước; Các công trình thông tin tín hiệu đường sắt, đường bộ, hàng không, đường biển;
- Trang trí nội, ngoại thất công trình;
- Xây dựng nền móng công trình và kết cấu hạ tầng: cầu đường, bển cảng, đê điều,
đường dây và trạm biến thế điện;
- Sản xuất lắp dựng, sửa chữa, bảo trì các công trình cột cao, các trang thiết bị bưu
chính viễn thông, tin học và các trang thiết bị khác thuộc đài, trạm, bưu cục;
- Xây dựng lắp đặt hệ thống thông tin nội bộ, hệ thống báo cháy, camera, trang âm,
chống sét, truyền thanh, truyền hình;
- Kinh doanh vật liệu, thiết bị, máy móc xây dựng, trang thiết bị nội thất, cáp viễn
thông, cáp điện lực và các mặt hàng khác;
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị và phụ kiện điện,
điện tử, tin học;
- Kinh doanh khai thác dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ du lịch, khách sạn,
nhà hàng, và các ngành nghề kỹ thuật dịch vụ khác (Không bao gồm kinh doanh quán
bar, phòng hát Karaoke, vũ trường).
Trong những năm gần đây, cùng với sự mở cửa mạnh mẽ của nền kinh tế, Công ty
Cổ phần Phát trển Công trình Viễn thông cũng gặp sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường
đặc biệt với sự xuất hiện một loạt các công ty xây dựng tư nhân với quy mô nhỏ và bộ
máy gọn nhẹ. Nhưng với bề dày truyền thống và tiềm lực sẵn có về vốn, về con người
cộng với sự cải tiến từng bước cơ chế hoạt động và bộ máy quản lý nên những năm vừa
qua công ty vẫn đạt được sự tăng trưởng mạnh trong các chỉ tiêu kinh tế (Biểu 1). Thị
trường của Công ty vẫn được giữ vững và phát triển thêm trên cả nước. Hiện nay công
ty đang thi công trên địa bàn trên dưới 50 tỉnh, thành trong cả nước. Về lực lượng lao
động, trong những năm vừa qua Công ty đang ở trong quá trình tinh giản bộ máy nên về
số lượng lao động tăng không nhiều mà chủ yếu tăng cường lực lượng lao động có trình
độ cao.
2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty chủ yếu tập

không phải “khoán trắng” mà là “khoán quản”. Cách tổ chức giao khoán như trên góp
phần nâng cao tính tự chủ, mang tính hiệu quả kinh tế cao trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Sản phẩm của Công ty là các công trình có quy mô từ vài chục triệu đồng cho đến
vài tỷ đồng, sản phẩm mang tính đơn chiếc, thời gian thi công công trình có thể kéo dài
một vài năm, chủng loại yếu tố đầu vào đa dạng và đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư
lớn.
Có thể tóm tắt quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty như sau :
+ Đối với công trình dạng cáp :
Đặt các thiết bị đường dẫn
Ra cáp treo vào các thiết bị dẫn
Hàn nối các mối cáp
Đấu cáp vào các thiết bị đầu cuối
Sơ đồ 1 - Công trình dạng cáp
+ Đối với công trình dạng cột anten :
Xây dựng móng cột
Sản xuất cột
Lắp dựng cột
Sơ đồ 2 - Công trình dạng cột anten
Một số chỉ tiêu kinh tế của Công ty trong những năm gần đây:
Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Năm 2007
(3 quý đầu
năm)
1. Doanh thu thuần 126.687 166.255 153.281 95.000
2. Vốn kinh doanh 28.983 45.132 50.000 50.000
3. Nộp ngân sách 7.707 13.177 12.502 9.012
4. Lãi sau thuế 6.913 8.393 14.134
5. Thu nhập bình quân 2,9 3,3 3,8 3,8

Hội đồng quản trị gồm có 05 thành viên, do Đại hội cổ đông bầu.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có quyền nhân danh Công ty để
quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề
thuộc Đại hội đồng cổ đông.
Ban kiểm soát có 03 người do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát là cơ
quan thay mặt cổ đông để kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của Tổng Giám đốc
trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, chấp hành pháp luật, Điều lệ của Công ty và
các Nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị.
Tổng Giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty, chịu trách
nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về các quyền và nhiệm vụ được giao.
Các Phó tổng giám đốc là người giúp việc Tổng Giám đốc về các lĩnh vực và
những nhiệm vụ theo sự phân công của Tổng Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng
Giám đốc và trước Pháp luật về các quyền và nhiệm vụ được giao.
Kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và trước pháp luật về lĩnh
vực tài chính, kế toán của Công ty.
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ bao gồm: Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Kế
hoạch Kinh doanh, Phòng Tài chính Kế toán hoạt động theo điều lệ tổ chức hoạt động
và các quy định khác của Công ty.
Phòng Kế hoạch kinh doanh:
+ Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh toàn công ty;
+ Tìm kiếm thông tin thị trường, lập hồ sơ dự thầu các công trình;
+ Kiểm tra đôn đốc các xí nghiệp trong quá trình thi công công trình;
+ Hoàn thiện hồ sơ xác nhận khối lượng hoàn thành giai đoạn và quyết toán công
trình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status