MỘT SỐ Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN
XNK HÀ ANH
3.1. Nhận xét chung tình hình kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng tại công ty
3.1.1.Ưu điểm
Cùng với sự phát triển của đất nước trong nền kinh tế thị trường, tăng
trưởng nhanh, bền vững và lợi nhuận là mục tiêu lớn nhất của bất cứ công ty,
doanh nghiệp nào. Để đạt được mục tiêu này,ban lãnh đạo công ty CP -XNK Hà
Anh nói chung và bộ phận kế toán nói riêng đã phải nỗ lực cố gắng không biết
mệt mỏi để hoàn thiện và gia tăng thị phần của công ty trên thị trường. Sự nỗ
lực và cố gắng này được thể hiện trên từng bước đi của công ty. Từ lúc hình
thành, công ty chỉ là một trạm vật tư nông nghiệp nhỏ bé với vốn đầu tư ban đầu
rất thấp khoảng vài triệu đồng và chỉ thực hiện nhiệm vụ cung cấp vật tư nông
nghiệp cho bà con nông dân, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn lạc hậu,
trình độ quản lý kinh doanh chưa cao, chưa đồng bộ, đặc biệt là tổ chức công
tác kế toán còn rất nhiều hạn chế. Nhưng hiện nay, công ty không chỉ đứng
vững trên thị trường mà còn lớn mạnh hơn trước rất nhiều, vốn đầu tư khoảng
trên 60 tỷ đồng, qui mô hoạt động rộng khắp từ bắc vào nam.
Cùng với sự phát triển này thì bộ máy kế toán cũng ngày càng được hoàn
thiện để phù hợp với sự thay đổi của công ty.Hiện nay, bộ máy kế toán của công
ty đã được sắp xếp lại trên cơ sở gọn nhẹ và khoa học. Công ty lựa chọn những
người có năng lực và tinh thần trách nhiệm. Thế nên bộ máy kế toán đã góp
phần không nhỏ vào thành công ngày nay của công ty.
Trong bộ máy kế toán, bộ phận kế toán liên quan trực tiếp đến vấn đề cung
cấp thông tin về doanh thu, lợi nhuận đó chính là kế toán bán hàng và xác định
kết quả. Vì tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển
của công ty, bộ phận kế toán bán hàng và xác định kết quả đã cố gắng hoàn
thành nhiệm vụ được giao, đồng thời đảm bảo được các yêu cầu và nguyên tắc
tổ chức công tác kế toán. Công ty đã áp dung tương đối tốt luật kế toán và các
bán chịu này được kế toán theo dõi khoa học và rất chi tiết thuận lợi cho việc
đòi nợ của công ty.
- Kế toán xác định kết quả tiêu thụ: Kết quả tiêu thụ hàng hóa được kế
toán tính đơn giản, dễ hiểu.
- Đội ngũ cán bộ kế toán giàu kinh nghiệm, nhiệt tình và có tinh thần
trách nhiệm cao đối với công việc .
Những ưu điểm trên đã giúp cho công ty hàng năm tiêu thu một khối lượng
hàng hoá và làm cho tốc độ chu chuyển vốn diễn ra nhanh hơn. Đó là một yếu
tố rất quan trọng đối với công ty thương mại này.
1.1.2. Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm kể trên, tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác
định kết quả vẫn còn có những bất cập mà công ty nên nghiên cứu, khắc phục
để hoàn thiện và đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong công tác quản lý.
- Một số điểm bán hàng còn nhỏ lẻ , công ty chưa có hình thức bán hàng
đại lý.
- Mặc dù công ty có sử dụng nhiều phương thức bán hàng khác, song
phần lớn là phương thức bán chịu( chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu) nên
khó đảm bảo nguồn thu và vốn của công ty bị ứ đọng.
- Công ty không tính riêng lãi cho từng mặt hàng
- Về chứng từ ghi sổ: công ty thường lập chứng từ ghi sổ vào cuối tháng
nên dẫn đến khối lượng công việc bị dồn lại nhiềuvào cuối tháng, dễ gây nhầm
lẫn thiếu sót.
- Về các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, công ty không
mở tài khoản riêng để theo dõi nên khó xác định các khoản này phát sinh là bao
nhiêu để có kế hoạch cho kỳ tới.
- Công ty chưa thực hiện trích lập các khoản dự phòng như dự phòng
khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho...Như vậy công ty đã
bỏ qua nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
- Việc ứng dụng tin học ở bộ phận kế toán còn rất hạn chế nên ảnh hưởng
đến việc xử lý và cung cấp thông tin kế toán, làm giảm hiệu quả công việc.
chiếm 65% tổng doanh thu. Tình trạng này có thể gây ra thất thoát vốn, doanh
nghiệp khó bảo toàn vốn ảnh hưởng đến kêt quả kinh doanh của công ty.
Để đề phòng tổn thất và hạn chế đến mức tối thiểu những đột biến về kết
quả kinh doanh trong kỳ hạch toán thì cuối mỗi kỳ kế toán năm, kế toán nên lập
dự phòng cho khoản phải thu khó đòi. Căn cứ vào việc phân loại nợ và việc xác
định các khoản nợ phải thu được xác định là không chắc chắn thu được, kế toán
tính toán xác định số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập.
Khi trích lập dự phòng kế toán ghi:
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi.
Sang niên độ kế toán tiếp theo, nếu số dự phòng pahỉ thu khó đòi năm đó
lớn hơn số dư của khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ
trước, thì số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí , ghi:
Nợ TK 642.
Có TK 139
Nếu số dự phoàng phải thu khó đòi cần trích lập năm đó nhỏ hơn số dư của
khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụng
hết, thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:
Nợ TK 139
Có TK 642 (Chi tiết hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi)
Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được
được phép xoá nợ. Việc xoá nợ các khoản phải thu khó đòi phải theo chế độ tài
chính hiện hành. Căn cứ vào quyết định xoá nợ phải thi khó đòi, ghi:
Nợ TK 139
Có TK 131
Đồng thời ghi đơn vào bên Nợ TK 004 - " Nợ khó đòi đã xử lý"
Đối với những khoản phải thu khó đòi đã được xử lý xoá nợ, nếu sau đó
thu hồi được, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi được,
ghi:
Nợ TK 111, 112