Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị cho bệnh tiểu đường loại 2 - Pdf 72

ðẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ðẠI HỌC BÁCH KHOA

BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ ðỀ TÀI NCKH
CẤP ðẠI HỌC QUỐC GIA

TÊN ðỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LASER BÁN DẪN

CÔNG SUẤT THẤP TRONG ĐIỀU TRỊ CHO
BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2

ðồng chủ nhiệm ñề tài:
PGS.TS Trần Minh Thái
GVC.ThS Nguyễn Dương Hùng
Mã số ñề tài: B2010-20-12
Thời gian thực hiện: từ tháng 04 năm 2010
đến tháng 04 năm 2012

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012


MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
4
1.1 Tiểu đường là căn bệnh của thế kỷ 21
4
1.2 Nguyên nhân và bệnh sinh của tiểu đường

CHƯƠNG 4: MÔ PHỎNG SỰ LAN TRUYỀN CHÙM TIA LASER BÁN
DẪN LÀM VIỆC Ở CÁC BƯỚC SĨNG KHÁC NHAU VỚI CƠNG SUẤT
29
THẤP TỪ BỀ MẶT DA VÙNG LƯNG ĐẾN TUYẾN TỤY BẰNG PHƯƠNG
PHÁP MONTE CARLO
4.1 Lời nói đầu
29
4.2 Phương pháp Monte Carlo
29
4.3 Mô phỏng và kết quả
31
4.4 Kết luận
34
CHƯƠNG 5: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HẠ
ĐƯỜNG HUYẾT Ở NGƯỜI TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 BẰNG LASER BÁN
35
DẪN CÔNG SUẤT THẤP
5.1 Ý tưởng của phương pháp điều trị
35
5.2 Chọn bước sóng thích hợp để thực hiện điều trị hạ đường huyết ở người tiểu
36
đường loại 2 bằng laser bán dẫn công suất thấp
5.3 Cơ chế điều trị
36
5.4 Sử dụng quang châm bằng laser bán dẫn làm việc ở bước sóng 940nm với
công suất thấp, tác động trực tiếp lên các huyệt trong châm cứu cổ truyền phương
38
Đông
CHƯƠNG 6: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ LÂM SÀNG HẠ
ĐƯỜNG HUYẾT Ở NGƯỜI TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 – KHI ĐƯỜNG

8.2 Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn nội tĩnh mạch trong điều trị xơ vữa động
mạch cảnh ở người tiểu đường loại 2
8.3 Kết quả điều trị lâm sàng xơ vữa động mạch cảnh bằng laser bán dẫn công
suất thấp ở người bệnh tiểu đường loại 2
8.4 Kết luận
CHƯƠNG 9: ỨNG DỤNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP TRONG
ĐIỀU TRỊ VẾT LOÉT CHÂN, VIÊM VÀ NHỮNG THAY ĐỔI MÀU DA
CHÂN CỦA NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
9.1 Lời dẫn
9.2 Về cơ chế điều trị loét chân ở người bệnh tiểu đường loại 2 bằng laser bán dẫn
công suất thấp
9.3 Tư liệu về bệnh nhân
9.4 Kết quả điều trị các dạng tổn thương ở chân người tiểu đường loại 2 bằng laser
bán dẫn công suất thấp
9.5 Kết luận
CHƯƠNG 10: ỨNG DỤNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP
TRONG ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG SAU TAI BIẾN
MẠCH MÁU NÃO Ở NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
10.1 Mục tiêu nghiên cứu
10.2 Phương pháp điều trị phục hồi chức năng vận động sau tai biến mạch máu
não cho người bệnh tiểu đường loại 2 bằng laser bán dẫn công suất thấp
10.3 Thiết bị điều trị phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân sau tai biến
mạch máu não ở người tiểu đường loại 2 bằng laser bán dẫn công suất thấp
10.4 Quy trình điều trị
10.5. Kết quả nghiên cứu điều trị lâm sàng
10.6 Kết quả điều trị lâm sàng
CHƯƠNG 11: ỨNG DỤNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP
TRONG ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG GAN BỊ RỐI LOẠN Ở
NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
11.1 Lý do đưa ra chương trình nghiên cứu

80
80
81
85
97
97
97
98
100
104
105
105
108


MỞ ĐẦU
Hiện nay, chưa có phương pháp nào điều trị triệt để căn bệnh tiểu đường loại
2. Vì vậy, mục tiêu của đề tài này với tên gọi “Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn
công suất thấp trong điều trị bệnh tiểu đường loại 2” gồm ba phần sau đây:
- Mục tiêu thứ nhất: nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong
điều trị đưa chỉ số đường huyết khi đói và sau khi ăn hai giờ ở người bệnh tiểu đường
loại 2 về gần mức độ sinh lý, để đạt HbA1C lý tưởng, nhằm gảm các biến chứng do
tiểu đường loại 2 gây nên.
Để đạt được mục tiêu này, cần phải thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:
• Xây dựng cơ sở lý luận của phương pháp điều trị hạ đường huyết ở người
bệnh tiểu đường loại 2 bằng laser bán dẫn cơng suất thấp.
• Thiết kế và chế tạo thiết bị điều trị hạ đường huyết ở người bệnh tiểu đường
loại 2.
• Tổ chức điều trị lâm sàng hạ đường huyết ở người bệnh tiểu đường loại 2
bằng laser bán dẫn công suất thấp.

Sử dụng phương pháp vừa nêu trên điều trị cho 112 người bệnh tiểu đường
loại 2 với kết quả như sau:
a. Chỉ số trung bình đường huyết khi đói:
- Trước khi điều trị: 192.94 mg/dl
- Sau khi kết thúc điều trị: 87.69 mg/dl
1


-

Kết quả điều trị giảm được: 105.27 mg/dl
b. Chỉ số HbA1C:
- Trước khi điều trị: 8.5%
- Sau khi kết thúc điều trị: < 6%
- Kết quả điều trị giảm được: 2.5%
Khi động mạch cảnh ở người bệnh tiểu đường loại 2 bị xơ vữa, trong tương lai
sẽ bị tai biến mạch máu não thoáng qua.
Tiến hành song song điều trị:
- Hạ đường huyết
- Xơ vữa động mạch cảnh trong
cho 37 người bệnh tiểu đường loại 2 bị xơ vữa động mạch cảnh trong bằng laser bán
dẫn công suất thấp với kết quả như sau:
a) Tước khi điều trị:
Chỉ số đường huyết trung bình khi đói: 190.99 mg.dl – có mảng xơ vữa động
mạch cảnh trong: bên trái là 06 người, bên phải là 06 người, bị cả hai bên là 25 người.
b) Sau khi kết thúc điều trị:
Chỉ số trung bình đường huyết khi đói: 96.4 mg/dl – giá trị bình
thường.
Chỉ cịn 1 người có mảng xơ vữa động mạch cảnh trong bên phải –
chiếm 2.7%. Các bệnh nhân còn lại có mảng xơ vữa được điều trị hết hồn toàn –

2


-

Tiến triển phục hồi chức năng thơng qua điểm Orgogozo:
• 65 điểm – di chứng vừa: có 03 người, chiếm 3%.
• 85 điểm – di chứng nhẹ: có 20 người, chiếm 20%.
• 93 điểm – hồi phục hồn tồn: 77 người, chiếm 77%.
Những kết quả nêu trên cho thấy: Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp
trong điều trị:
- Hạ đường huyết ở người bệnh tiểu đường loại 2
- Các nguy cơ chính đưa đến biến chứng mạn ở người bệnh tiểu đường loại 2
- Các biến chứng mạn do bệnh tiểu đường loại 2 gây nên
Đạt kết quả cao. Điều này mang lại niềm hy vọng cho người bệnh tiểu đường loại 2.

3


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2
1.1 Tiểu đường là căn bệnh của thế kỷ 21
1.1.1 Định nghĩa
Theo [1] cho biết:
Tiểu đường là bệnh mạn tính, có yếu tố di truyền, do hậu quả từ tình trạng
thiếu Insulin tuyệt đối hay tương đối. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là tình trạng tăng
đường huyết cùng với các rối loạn, chuyển hoá đường, đạm, mỡ, khống chất. Các rối
loạn này có thể đưa tới các biến chứng cấp tính, các tình trạng dễ bị nhiễm trùng và
lâu dài sẽ gây ra các biến chứng ở mạch máu nhỏ và mạch máu lớn.
1.1.2 Phân loại bệnh tiểu đường
a. Bệnh tiểu đường loại 1

loại béo phì. Lý giải về hiện tượng này, các chuyên gia cho rằng chế độ dinh dưỡng ở
châu Á ngày nay đã khác trước. Từ nhỏ, trẻ em đã có chế độ dinh dưỡng khơng hợp lý
(ăn nhiều chất béo). Bên cạnh đó là áp lực học tập, việc ngồi bên máy tính hàng giờ,
…., nên trẻ em ít vận động.
Tổ chức y tế thế giới (WHO) cảnh báo, 20 năm nữa bệnh tiểu đường và những
bệnh liên quan sẽ trở thành khủng hoảng y tế lớn nhất thế kỷ 21, sẽ có khoảng 330
triệu người mắc bệnh. Trong đó, khu vực chấu Á có 4 quốc gia có nhiều người mắc
bệnh tiểu đường. Đó là: Ấn Độ (33 triệu), Trung Quốc (23 triệu), Pakistan (9 triệu),
Nhật Bản (7 triệu). Bệnh tiểu đường làm suy kiệt cơ thể từ từ và theo nhiều cách. Nếu
4


châu Á không cố gắng ngăn chặn bệnh tiểu đường ngay từ bây giờ thì hậu quả khơn
lường, mà tai hại nhất là biến chứng do nó gây nên.
Việt Nam có tỷ lệ người mắc bệnh tiểu đường cao, tại các thành phố lớn
khoảng trên 6% dân số, tỷ lệ này trên toàn quốc là 4,4%.
Triệu chứng bệnh tiểu đường âm thầm, gây suy giảm nhanh sức khoẻ cũng như khả
năng lao động bởi các biến chứng nguy hiểm của bệnh trên nhiều cơ quan, làm ảnh
hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, hiệu quả lao động và tuổi thọ của bệnh nhân.
Một điều đáng lo là 50% người bệnh tiểu đường khơng biết mình bị bệnh.
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh tiểu đường
Các yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tiểu đường gồm:
• Béo phì, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch;
• Di truyền, nhiễm vi rút, xuất hiện cùng một số tự miễn;
• Thói quen ít vận động, ăn nhiều thức ăn giàu năng lượng, sử dụng nhiều chất
kích thích như: rượu, thuốc lá,…
• Phụ nữ sinh con trên 4kg, hoặc bị sẩy thai, đa ối;
• Sử dụng các thuốc: corticoid, ngừa thai, lợi tiểu nhóm thiazid, diazoxid.
1.2 Nguyên nhân và bệnh sinh của tiểu đường
1.2.1 Nguyên nhân

kháng Insulin là hiện tượng khởi đầu trong bệnh tiểu đường loại 2, nhưng nếu chỉ

5


riêng đề kháng insulin thì khơng đủ để gây bệnh; chính đáp ứng của tế bào β với tình
trạng đề kháng insulin mới là yếu tố quyết định diễn tiến đến rối loạn dung nạp
glucose và tiểu đường loại 2, và chính điều này giúp cho sự quyết định chọn lựa cách
điều trị.
1.3 Chẩn đoán [2]
1.3.1 Chẩn đoán bệnh tiểu đường loại 2 theo y học hiện đại
Theo tiêu chí của Tổ chức y tế thế giới và Hội tiểu đường Hoa Kỳ, bệnh nhân
bị tiểu đường loại 2, khi:
• Đường huyết thử lúc bất kỳ ≥ 200mg/dL
• Đường huyết khi đói ≥ 126mg/dL
• Đường huyết sau khi ăn 2 giờ ≥ 200mg/dL (hoặc 2 giờ sau khi uống 75g
glucose)
1.3.2 Các triệu chứng lâm sàng
Thường biểu hiện bởi nhóm triệu chứng sau đây:
• Khát nước và uống nhiều nước;
• Tiểu nhiều;
• Ăn nhiều;
• Sụt cân.
Ngồi các triệu chứng nêu trên, người bệnh có thể bị khơ da, ngứa tồn thân,
và mờ mắt thoáng qua.
1.3.3 Xét nghiệm cận lâm sàng
1.3.3.1 Đường huyết
Theo tiêu chí của Tổ chức y tế thế giới và Hội tiểu đường Hoa Kỳ, các loại đường
huyết thử để chuẩn đoán xác định xem bảng dưới đây:
Đường huyết lúc đói

độ cao chứng tỏ cơ thể đang thiếu insulin.
1.3.3.4 Huyết sắc tố kết hợp với glucose
Huyết sắc tố HbA1c tăng trong trường hợp tăng đường huyết mạn và có liên
hệ đến tình trạng chuyển hố nói chung, nhất là cholesterol.

6


1.4 Biến chứng
Các biến chứng mạn của bệnh tiểu đường loại 2 gia tăng theo tình trạng tăng
đường huyết kéo dài,thường xuất hiện sau thập kỷ thứ hai của bệnh, bởi vì tiểu đường
loại 2 có một thời gian dài khơng triệu chứng và khơng ít bệnh nhân tiểu đường loại 2
đã có các biến chứng ngay tại thời điểm mới chẩn đoán.
Việc điều trị, dù được tuân thủ và theo dõi nghiêm ngặt cũng khó lịng đạt
được mục đích kiểm sốt đường huyết tối ưu lâu dài. Vì lẽ đó, sự xuất hiện của một
hoặc nhiều biến chứng mạn trong q trình diễn tiến bệnh là điều khó tránh khỏi. Các
biến chứng mạn của bệnh tiểu đường loại 2 được phân thành 2 loại biến chứng mạch
máu và không phải mạch máu.
• Các biến chứng mạch máu bao gồm biến chứng mạch máu nhỏ (mắt, thận,
thần kinh) và biến chứng mạch máu lớn (bệnh mạch vành, bệnh mạch máu
ngoại biên và mạch máu não).
• Các biến chứng khơng phải là mạch máu bao gồm: rối loạn tiêu hoá, rối loạn
tình dục, nhiễm trùng và những thay đổi của da.
1.5 Điều trị bệnh tiểu đường loại 2
1.5.1 Nguyên tắc chung
a) Mục đích:
- Duy trì được lượng glucose trong máu khi đói, glucose trong máu sau khi
ăn 2 tiếng gần mức độ sinh lý, để đạt được HbA1C lý tưởng nhằm làm giảm các biến
chứng có liên quan, giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tiểu đường loại 2.
- Có một đời sống và tuổi thọ cao giống người bình thường.


-

Sulfonylurea + ức chế α-glucosidase
Kích thích β cell tiết insulin
Thuốc sulfonylurea
Ức chế đề kháng insulin
Tăng nhạy cảm của mô ngoại vi đối với insulin
Thuốc biguanid
Giảm sự thèm ăn
1.5.3 Điều trị bệnh tiểu đường loại 2 theo y học cổ truyền
a) Điều trị bằng thuốc đơng dược
Hiện nay có nhiều bài thuốc điều trị cho bệnh tiểu đường loại 2 (cho từng
trường hợp cụ thể). Có thể tham khảo ở [3].
b) Điều trị bằng châm cứu
Thể châm: có thể chọn các huyệt sau:
a. Khát nhiều: Phế du, Thiếu thương.
b. Ăn nhiều: Tỳ du, Vị du, Túc tam lý.
c. Tiểu nhiều: Thận du, Quan nguyên, Phục lưu, Thủy tuyến.
1.6 Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh đái tháo đường và
các biến chứng của nó gây nên
1.6.1 Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh đái tháo đường
Theo Emmanuel Campana, Sarah Tapawan, Romeo Quini [4]: laser cơng suất
thấp (LLL) giúp cơ thể có thể tự làm lành và sửa chữa. Tình trạng hư tổn và cuối cùng
là sự mất chức năng của tế bào Beta là nguyên nhân gây ra bệnh đái tháo đường.
Laser bán dẫn công suất thấp được chiếu tập trung vào gan và tuỵ. Sử dụng phương
pháp châm cứu laser cho các điểm trên cơ thể bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường.
Nghiên cứu trên 83 bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường khơng thể kiểm sốt. Liệu
pháp laser cơng suất thấp (LLLT) được thực hiện 2 tới 3 lần một tuần. Sự dùng thuốc
được duy trì và sự kiểm tra đường huyết được thực hiện để xem xét hiệu quả của

75 - 183
110 - 178
114 – 152
Bảng 1.2: Sự cải thiện tình trạng bệnh của 03 bệnh nhân tiêu biểu
sau 20 lần điều trị bằng LLLT
Nghiên cứu này chứng minh 100% ảnh hưởng của LLLT đến đường huyết ở
những bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường không kiểm sốt. Trải qua nhiều lần điều
trị LLLT sẽ có kết quả tốt hơn.
[5] Insulin là một kích thích tố do tụy tạng (pancreas) tiết ra, đóng vai trị
trong việc điều hòa lượng đường trong máu. Ở người bệnh đái tháo đường tụy tạng
khơng cịn hay sản xuất rất ít insulin hay cơ thể khơng cịn khả năng sử dụng insulin
để đưa đường vào bên trong tế bào. LLLT có vai trò quan trong trong việc tái sinh và
8


hồi phục tế bào. Ở những người mắc bệnh đái tháo đường, tuỵ tạng khơng cịn chức
năng hoặc mất khả năng tiết insulin. Tiểu đảo tuỵ bị suy giảm chức năng nghiêm
trọng. S. Irani et al nghiên cứu ảnh hưởng của LLLT lên chức năng của tiểu đảo tuỵ ở
chuột. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của LLLT lên chức năng tiểu
đảo tuỵ đã được phân lập sau 24 giờ cấy. Tiểu đảo tuỵ được phân lập từ chuột đực.
Sau đó, tiểu đảo được chiếu bằng laser với cường độ năng lượng khác nhau lần lượt là
1, 3, 5 J/cm2 ở 2 bước sóng 810 nm và 630 nm. LLLT GaAlAs 810 nm 50 mW thời
gian chiếu lần lượt là 7, 20, 34 giây. LLLT GaAs 630 nm 40 mW thời gian chiếu lần
lượt là 8, 25, 42 giây. Nồng độ Insulin được đo bằng chỉ số chức năng tiểu đảo. Chiếu
LLLT 810 nm lên tiểu đảo tuỵ làm gia tăng đáng kể sự bài tiết insulin sau khi kiểm tra
glucose (P< 0.5). Sự bài tiết Insulin xảy ra đáng kể sau khi chiếu với laser 630 nm.
(A): Nồng độ Insulin giữa các
nhóm sau khi chiếu LLLT 810 nm.
P< 0.05


cứu đã chỉ ra tác dụng của LLLT trong điều trị biến chứng bàn chân ở người đái tháo
đường như thúc đẩy nhanh quá trình làm lành vết loét, gia tăng vi tuần hoàn dưới da,

Theo J.S. Kawalec et al [6], các vết loét do đái tháo đường gây ra cho bệnh
nhân càng khó chữa trị hơn, do vi tuần hoàn giảm và các loại rối loạn khác ảnh hưởng
đến việc chữa trị vết thương. Do đó việc điều trị được các vết loét do đái tháo đường
là một thành tựu quan trọng. Các vết loét do đái tháo đường đang trở thành vấn đề lo
lắng cho các bệnh nhân đái tháo đường. Theo nghiên cứu tại nước Mỹ khoảng 14 triệu
người đã được chẩn đoán hoặc chưa chẩn đốn bệnh đái tháo đường, có xấp xỉ 15% bị
ảnh hưởng bởi các vết loét trong suốt cả cuộc đời.
Giữa năm 1983 và năm 1990, tỉ lệ loét tăng ước tính khoảng 50%. Hơn nữa,
mặc dù bệnh nhân được chẩn đoán bị đái tháo đường chiếm khoảng 3% dân số Hoa
Kỳ. Chiếm hơn 1 nửa trong số họ là bị cụt chi dưới. Những bệnh nhân này được dự
đoán là phải cắt cụt chi còn lại trong vòng 5 năm sau chiếm tỉ lệ khoảng 50%. Sau 5
năm tỉ lệ tử vong sau khi cắt cụt là cực thấp, có thể dao động cao nhất là 68%. Như
vậy điều trị thành công loét đái tháo đường là một vấn đề rất quan trọng.
Laser là phương pháp được đánh giá là chữa lành vết thương không xâm lấn.
Một vài các loại laser khác nhau đã được xác nhận có thể tạo ra các hiệu ứng kích
thích sinh học mang lại lợi ích lớn, bao gồm: Argon, HeNe, GaAlAs, GaAs và Nd:
YAG. Những hiệu ứng này được gọi là “hiệu ứng kích thích sinh học “ hoặc là hiệu
ứng sinh học , tạo ra không phá hủy ảnh hưởng đến các mô ở cấp độ tế bào. LLLT
tăng cường chức năng/hoạt động của tế bào như:
• Tăng cơ chế hơ hấp tế bào
• Tăng cường tổng hợp ATP
• Tăng tổng hợp DNA và RNA
• Kích thích sử dụng acid ascobic bởi các tế bào
• Tăng nhanh sự phát triền, sinh sơi của tế bào
• Tăng cường tổng hợp Collagen
• Tăng cường phát triền ngun bào sợi
• Sự kích thích các đại thực bào

pháp chữa trị bằng laser trên nhiều loại vết loét khác nhau kể cả loét mao mạch và dây
thần kinh do đái tháo đường. Những vết loét được chiếu laser He-Ne ở bước sóng
632,8nm 3 lần trên tuần. Tác giả đã tìm thấy rằng 100% trong 8 vết loét đái tháo
đường đã được chữa lành trung bình trong vịng 16 tuần điều trị.
Theo N. Kazemi- Khoo [10], những vết loét ở chân do bệnh đái tháo đường
gây ra rất khó để chữa lành, là một vấn đề về sức khoẻ phổ biến nhất ở những bệnh
nhân mắc bệnh đái tháo đường. Liệu pháp laser nguồn thấp đã được thừa nhận là
phương pháp điều trị làm lành vết thương đầy hứa hẹn. Trong báo cáo này, 7 trường
hợp vết loét ở chân do bệnh đái tháo đường gây ra ở mức độ II và II được chữa trị
hoàn toàn bằng liệu pháp laser nguồn thấp. 7 bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường
Type II (4 nam giới có độ tuổi trung bình là 63 tuổi; 3 nữ giới có độ tuổi trung bình là
61,14 tuổi) có vết loét ở chân độ II và III được điều trị bằng liệu pháp laser nguồn
thấp.
Thời gian mắc bệnh trung bình là 10,5 năm và các vết loét xuất hiện trung
bình 6 tháng. Giá trị trung bình HbA1c là 8,14 mg/dl (khoảng 6 – 12,2), dòng máu ở
chân mức bình thường được đo bằng siêu âm chẩn đốn Doppler. Sử dụng liệu pháp
laser nguồn thấp thông qua chiếu cục bộ trên bề mặt vết loét với ánh sáng đỏ (660 nm,
nguồn 25mW; 0.6 – 1 J/cm2) và mép ngoài vết loét với laser hồng ngoại (980 nm, 200
mW; 4 – 6 J/cm2), cùng với việc chiếu laser nội tĩnh mạch với ánh sáng đỏ (650 nm,
nguồn 1,5 mW) từ 15 tới 20 phút, mặc khác châm cứu bằng laser với ánh sáng màu
hồng (1J/cm2). Lộ trình 1: 10 – 15 lần chiếu khác nhau ở mỗi ngày. Sau đó tiếp tục lộ
trình thứ 2 hàng tuần cho tới khi hồi phục hồn tồn.
Sau khoảng 19 lần chiếu (lộ trình 1 khoảng 15 lần chiếu, lộ trình 2 khoảng 10
lần chiếu. Sự hồi phục đạt được ở tất cả các trường hợp và khơng có sự tái phát hoặc
các vấn đề khác liên quan tới vết loét sau khoảng 6 tháng điều trị (giới hạn 2-10
tháng).

11



trị và đánh giá. Điều trị cách ngày, 15 đến 25 lần chiếu phụ thuộc vào mức độ nghiêm
trọng của vết thương và khả năng đáp ứng với điều trị. Cải thiện đáng kể kích thước
vết loét. Liệu pháp laser nội tĩnh mạch là một trong những phương pháp quan trọng và
đáng tin cậy để điều trị loét chân ở bệnh nhân đái tháo đường và tránh được thủ thuật
cắt cụt.
Andreas Schindl et al [12], nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của laser cơng
suất thấp lên vi tuần hồn máu dưới da ở bệnh nhân mắc bệnh mạch máu nhỏ do đái

12


tháo đường gây ra. Những bệnh nhân mắc bệnh mạch máu nhỏ do đái tháo đường gây
ra được lựa chọn ngẫu nhiên để chiếu laser HeNe 632.8 nm cường độ thấp 30 J/cm 2
hoặc chiếu giả trên bàn chân trước. Tuần hồn dịng máu dưới da được đo bằng phép
ghi hồng ngoại gần, nhờ vào sự ghi lại nhiệt độ trên những vùng bàn chân trước.
Chiếu laser công suất xuyên qua da, sự tăng nhiệt độ dưới da ở chân của những bệnh
nhân được ghi lại, nhưng ngược lại trong nhóm chiếu giả sự giảm nhiệt độ da xảy ra.
Đường chuẩn điều chỉnh nhiệt độ da sau 15 phút chiếu cao đáng kể so với chiếu giả
laser (P
laser (laser-treated side: L/T) và phần cịn lại khơng điều trị (laser – untreated side:
L/0). Nhóm 2, laser được chiếu qua chân trước nhưng không bật thiết bị (placebotreated side: P/T) và không chiếu (placeo-untreated side: P/0).
Theo dõi nhiệt độ được miêu tả thực hiện từ rất sớm (Schindl et al., 1998).
Không kết nối với phép ghi hồng ngoại bằng laser với máy tính nhỏ được dùng để ghi
lại nhiệt độ. Dụng cụ đo sự phát xạ IR (Infrared) từ da bệnh nhân với độ nhạy 0.1 0C.
Phân tích ảnh ghi nhiệt độ được thực hiện với phần mềm Pic-WinIris , version 2.22.
Hình ảnh nhiệt được ghi lại tại 0, 20 và 50 phút sau khi bắt đầu và tại 15 phút, sau khi
chiếu và phương pháp chiếu giả theo thứ tự. Người tham gia nghiên cứu không biết
được ghi lại nhiệt độ.
Sóng liên tục He-Ne (bước sóng 632.8nm, cơng suất 30mW) được sử dụng
cho chiếu. Chùm tia (đường kính 5mm) phân kỳ bởi dụng cụ quét, và thời gian chiếu
được điều chỉnh để mật độ năng lượng là 30J/cm2 tại bề mặt da. Bắt đầu kiểm tra với
thông số chiếu xạ như trên (quan sát nhiệt độ khi chiếu trong khoảng 50 phút). Sau 30
phút ở vị trí lật ngửa, mắt bệnh nhân được che bởi kính mắt chọn bước sóng và ghi lại
nhiệt độ khi bắt đầu chiếu và chiếu giả. Nhiệt độ xung quanh được giữ ở 24 0C trong
suốt thời gian thực hiện. Trong trường hợp chiếu giả, vị trí laser giống như chiếu thật
nhưng khơng bật.
Đường chuẩn trong 2 nhóm bệnh nhân được đưa ra trong tần số hồn tồn có
thể thay đổi được, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn cho phân bố bình thường. Ảnh
hưởng của laser được đánh giá bằng cách so sánh nhiệt độ da 15 phút sau khi kết thúc
quá trình chiếu xạ laser lên bàn chân trước với chiếu giả lên cùng vị trí bằng phân tích
14


đồng biến (Analysis of covariance- ANCOVA) dùng đường chuẩn đo lường tương
ứng. Ảnh hưởng lên cơ thể được đánh giá tương tự bởi so sánh dữ liệu từ không chiếu
laser và không chiếu laser (giả). Giá trị p
Kết thúc
27.91
2.39
26.43
15 phút sau
27.36
3.69
26.34
khi kết thúc
Bắt đầu
26.67
3.27
27.33
20 phút
27.14
3.15
27.18
Kết thúc
27.65
2.96
26.87
15 phút sau
27.87
2.86
26.77
khi kết thúc
Bảng 1.4: Sự thay đổi nhiệt độ da trong bệnh nhân

2.83
2.97

xảy ra trong bệnh nhân của nghiên cứu dường như trong thời gian ngắn sự giãn mạch
máu đem lại ảnh hưởng trong thời gian dài laser công suất thấp trên sự phát triển
màng trong tế bào đã được đề cập đến trong những nghiên cứu khác. Giải thích đáp
ứng lại theo chiếu xạ ánh sáng là phóng thích cytokines và tăng nhân tố trong tuần
hoàn đáp ứng lại sự giãn mạch máu lên cơ thể và thông tin của mao mạch mới. Giả
thuyết này ủng hộ những tìm ra của Funk et al. (1992, 1993), người đã nghiên cứu
thuyết phục mức tăng cytokines như IL-1α, IL-2, IFN-γ và TNF-α sau khi chiếu
leutocyte tới 19J/cm2 laser He-Ne.
Có nhiều bằng chứng đến từ Dyson và đồng nghiệp, chứng minh sự tiết ra
những yếu tố phát triển bởi chiếu xạ laser bạch huyết cầu. Thêm vào đó sự xuất hiện
trên bề mặt tế bào U-937 và tế bào HL-60 tại liều trên 5.8J/cm 2+. Cytokines được giải
thích là thành phần chính đáp ứng lại vết thương cho tính thuyết phục của bề mặt
màng trong tế bào alkaline phosphate , khử phosphorylates thành adenosine, nơi sản
xuất có tính thuyết phục sự giãn mạch và chống cháy. Trong cơng bố của Bounma và
đồng nghiệp, khơng có sự thay đổi bài tiết của IL-6 và IL-8 được quan sát chiếu laser
(904nm, liều 0.3- 9 J/cm2.
Cơ cấu dưới tế bào và phân tử tiếp tục được nghiên cứu. Dù sao đi nữa ảnh
hưởng nhiệt lớn hơn có thể được tìm ra. Sự can thiệp xâm lấn hoặc khơng xâm lấn cảu
bước sóng nhìn thấy và hồng ngoại với thành phần ty thể của chuỗi hô hấp là một
phần của sự truyền tín hiệu. Những nghiên cứu gần đây chứng minh sự thay đổi của
laser đem lại sự phát triển tế bào trong loài phản ứng lại Oxygen, đề nghị rằng quang
năng có thể quan trọng. Protein tyrosine kinases (PTKs) bao gồm tín hiệu truyền tín
hiệu, đem lại sự hơ hấp của neutrophils có thể hủy bỏ bởi chất ức chế PTK.
Tóm lại, trong nghiên cứu hiện tại giải thích thuyết phục sự tăng trên cơ thể
tuần hồn da trong bệnh nhân trải qua đau chân trong bệnh nhân đái tháo đường mắc
mạch máu nhỏ. Từ kết quả đó, trong ánh sáng chắc chắn tác động lên bệnh nhân đái
tháo đường, có một số cản trờ, và sai để giảm khả năng cắt cụt bởi vì bệnh mạch máu
trong bệnh nhân đái tháo đường, laser cơng suất thấp có thể góp phần cải thiện tình
trạng. Kết quả bao gồm trong mơ hình động vật và thử nghiệm bước đầu. Nghiên cứu
xa hơn sẽ thêm vào cơ sở và có kết quả thuyết phục của laser công suất thấp trong

bằng LLLT có điểm đau trung bình giảm thêm -1.0 ± 0.4 so với -0.0 ± 0.4 của nhóm
chiếu giả (P=0.07). Mặc dù có sự giảm đau nhưng với kết quả trên chưa chứng tỏ
được hiệu quả của LLLT trên điểm đau bệnh lý thần kinh, đáp ứng da giao cảm, kiểm
tra định lượng cảm giác.
Bệnh lý thần kinh do đái tháo đường là biến chứng phổ biến nhất. Bệnh lý này
hoành hành và có tỷ lệ tử vong lớn nhất ở những bệnh nhân đái tháo đường. 30 bệnh
nhân nam và nữ mắc bệnh đau thần kinh do đái tháo đường, các nghiên cứu về sự lan
truyền thần kinh cho nhiều kết quả khác nhau. Độ tuổi trong khoảng từ 45 đến 60,
trung bình là 52.1 ± SD 4.7 năm. Các bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên thành 02
nhóm, mỗi nhóm 15 người. Nhóm điều trị bằng laser và nhóm chịu sự điều trị giả
(nhóm đối chứng). Nhóm được điều trị bằng laser hồng ngoại gần He-Ne bước sóng
850 nm, cường độ 5.7 J/cm2, chiếu vào vị trí ở thắt lưng xương cùng và bề mặt bàn
chân 15 phút ở mỗi vị trí trong một lần chiếu. Chiếu 3 lần/ tuần trong 4 tuần.
Cường độ đau thần kinh vận động hai bên xương mác, tốc độ và biên độ lan
truyền thần kinh cảm giác bắp chân, vi tuần hoàn dưới da ở chân được đo trước và sau
khi điều trị ở cả hai nhóm. Sự đau đớn giảm đáng kể (P

18


Đối với NCV, trong nhóm điều trị bằng laser, sự lan truyền thần kinh mác và
bắp chân gia tăng đáng kể (lần lượt P=0.001 và 0.0001); khơng có sự thay đổi đáng kể
trong nhóm đối chứng (lần lượt là P=0.09 và 0.07). So sánh kết quả sau điều trị của
hai nhóm, sự khác biệt khơng đáng kể cho MCV ở xương mác (P=0.01), nhưng sự
khác biệt đáng kể cho SCV ở bắp chân trong nhóm chiếu Laser (P=0.0001).

Đối với biên độ trung bình của hoạt động thần kinh mác và bắp chân, khả năng
gia tăng đáng kể trong nhmm chiếu laser (lần lượt P=0.002 và 0.0001), khơng có sự
thay đổi đáng kể ở nhóm chứng. Đo sau điều trị, sự khác biệt biên độ thần kinh mác
không đáng kể giữa 2 nhóm, có sự khác biệt biên độ thần kinh bắp chân xảy ra đáng
kể ở nhóm chiếu laser (P=0.0001).

Đối với vi tuần hồn. Khơng có khác biệt đáng kể có ý nghĩa thống kê về sự
truyền máu dưới da (P>0.05) giữa 2 nhóm đo trước khi điều trị ở gót chân, ngón chân
cái và ngón chân út. Ở nhóm chiếu laser, vi tuần hồn ở 3 vị trí trên gia tăng đáng kể
(P=0.001). Ở nhóm chứng khơng có sự thay đổi đáng kể. So sánh kết quả đo sau khi
điều trị giữa 2 nhóm sự thay đổi đáng kể (P=0.001) ở nhóm chiếu Laser.

19


Mức độ đau ở cả hai nhóm giảm sau 4 tuần điều trị với ý nghĩa thống kê ở
nhóm chiếu laser (P=0.0001).
Từ quan điểm sinh lý bệnh học, DPN không chỉ bắt nguồn từ tổn thương thần
kinh ngoại biên, phổ biến nhất của nguồn gốc vi mạch, mà cơ chế sửa chữa cũng tìm
ra yếu tố phát triển thần kinh, yếu tố phát triển như insulin. Vì vậy, điều trị DPN có

20


canxi trong tế bào chất; tương tác với cytochromes, kích thích hoạt động phản ứng
oxy hố khử trong chuỗi hơ hấp tế bào và kết quả hoạt động tế bào; gia tăng sự phân
chia và phát triển của tế bào; hoạt động của protein và tổng hợp cytokine; Kích thích
sự sản xuất ATP- gia tăng hoạt động gián phân của tế bào; hồi phục thành mạch máu
(nhằm làm tăng sự lưu thông máu và giảm sự cao huyết áp) bằng quang phân phức
hợp như NO.
Sự lan truyền cảm giác ở bắp chân đáp ứng hơn sự lan truyền vận động ở
xương mác có thể do: laser gây ra hiệu ứng của nó ở những sợi thần kinh nhỏ ngoại
biên phản xạ trên biên độ và SCV bắp chân; SCV bắp chân được đo thơng qua 1 vị trí
kích thích và ghi lại trong khi MCV mác được đo thông qua 2 vị trí kích thích và ghi
lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thái Hồng Quang. Bệnh đái tháo đường (tái bản lần thứ hai, có sửa chữa và bổ
sung). Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2001.
[2] Đỗ Trung Quân. Bệnh đái tháo đường (tái bản lần thứ hai, có sửa chữa và bổ
sung). Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2001.
[3] Nguyễn Thị Bay. Bệnh học và điều trị nội khoa. Nhà xuất bản Y học, Tp. HCM,
2010.
[4] Emmanuel Campana, Sarah Tapawan, Romeo Quini. Laser therapy for
diabetics. Conference: 29 th Annual Conference of the American- Society for Laser
Medcine and Surgery Location: National Harbor,MD Date: APR 01-05,2009.
[5] S. Irani et al. Effect of Low Level Laser Irradiation on In Vitro Function of
Pancreatic Islets. Transplantation Proceedings, 41, 4313-4315 (2009)
[6] J.S. Kawalec et al. A rewiew of lasers in healing diabetic ulcers. The Foot 14
(2004) 68-71
[7] Schindl A et al. Low intensity laser irradiation improves skin circulation in
patients with diabetic microangiopathy. Diabet Care 1998;21(4):580-4

đường, đó là: Ấn Độ (33 triệu), Trung Quốc (23 triệu), Pakistan (9 triệu), Nhật Bản (7
triệu). Việt nam có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường cao, tại các thành phố lớn khoảng 6%
dân số, tỷ lệ này trên tồn quốc là 4.4%. Nếu chỉ tính Tp. Hồ Chí Minh có 8 triệu dân
thì khoảng 480 ngàn người bị mắc bệnh tiểu đường. Đây là con số không nhỏ, nó kêu
gọi sự quan tâm của tất cả mọi người.
Triệu chứng bệnh tiểu đường âm thầm, gây suy giảm nhanh sức khỏe cũng
như khả năng lao động bởi các biến chứng nguy hiểm của bệnh trên nhiều cơ quan,
làm ảnh hưởng đế chất lượng của cuộc sống, hiệu quả lao động và tuổi thọ của bệnh
nhân. Một điều đáng lo là 50% người bệnh tiểu đường khơng biết mình bị bệnh. Đây
là một nguy cơ cho tình trạng sức khỏe của cộng đồng.
Theo các chuyên gia nội tiết cho biết:
• Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm 90% bệnh tiểu đường.
• Hiện chưa có phương pháp nào điều trị dứt điểm căn bệnh này.
Cho nên, hướng nghiên cứu tập trung vào việc điều trị hạ đường huyết lúc đói
và sau 2 giờ ăn về mức gần sinh lý là chính.
Hiện nay, có các phương thức sau đây điều trị bệnh tiểu đường loại 2:
a) Điều trị bằng tân dược theo phương thức uống và được thực hiện theo quy
trình sau:
• Đơn trị liệu, gồm:
- Bulfonylurea;
- Biguanid;
- Ức chế α-glucosidase.
Đường huyết khơng kiểm sốt.
• Trị liệu kết hợp:
- Sulfonylurea + biguanid
- Sulfonylurea + ức chế α-glucosidase
Phương thức điều trị tuy đơn giản, song sẽ có phản ứng phụ và lờn thuốc.
b) Điều trị bằng tân dược theo phương thức tiêm Insulin
Trước khi tiêm insulin, bệnh nhân phải đo đường huyết, bác sỹ sẽ lựa chọn
loại insulin, ống tiêm,…nói chung tương đối phức tạp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status