CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - Pdf 72

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
1.1. Tổng quan về Báo cáo tài chính
1.1.1. Khái niệm Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở
và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng
tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà
cho vay, cơ quan thuế và cơ quan chức năng…).
Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị. Theo đó, báo cáo
tài chính chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở
hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp. Nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày thực trạng tài chính và
khả năng sinh lời của doanh nghiệp cho những người quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà
đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…).
1.1.2. Hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam qua một số thời kỳ
- Giai đoạn 1: Giai đoạn quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp (trước năm 1986)
Trong giai đoạn này, thông tin trên Báo cáo tài chính thể hiện các chỉ tiêu thực hiện
thu – chi, để tổ chức sản xuất theo kế hoạch đề ra trong giới hạn Ngân sách nhà nước phân
bổ.
Hệ thống báo cáo kế toán trong giai đoạn này đã đáp ứng tốt yêu cầu quản lý tập
trung và phục vụ tốt cho công tác kiểm soát, chỉ đạo của cơ quan chức năng Nhà nước.
Tuy nhiên, hệ thống báo cáo kế toán như trên ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm.
Số lượng bảng biểu quá nhiều, cùng với các chỉ tiêu kinh tế phức tạp đòi hỏi cả người lập
và đọc báo cáo phải có trình độ nhất định trong khi công tác đào tạo cán bộ kế toán chưa
thực sự tương xứng với yêu cầu trên. Hơn nữa, kỳ lập báo cáo lại ngắn và liên tục (tháng,
quý, 6 tháng, năm). Với đội ngũ cán bộ ít, trình độ có hạn, các báo cáo được lập trong điều
kiện này chỉ mang tính đối phó, thiếu chính xác, không đảm bảo độ trung thực mà thông
tin cần có. Do đó, ta thấy công tác lập báo cáo trong giai đoạn này là không khoa học.

Từ năm 1995 đến nay, giai đoạn này được đánh dấu bởi những bước chuyển đổi
kinh tế mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự chỉ
đạo của nhà nước. Xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ đặt đất nước ta vào thế không ngừng thay
đổi các chính sách kinh tế để hội nhập với quốc tế. Đứng trước xu thế đó, hệ thống kế toán
nói chung và hệ thống Báo cáo kế toán phải từng bước thay đổi cho phù hợp với tình hình
phát triển chung của đất nước và phải được thay đổi đồng bộ, triệt để cả về nội dung lẫn
hình thức để phục vụ tốt nhu cầu quản lý trong nền kinh tế thị trường, phù hợp với các
nguyên tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
Trong giai đoạn này, hệ thống Báo cáo kế toán được sửa đổi, bổ sung nhiều lần,
song nhìn chung, hệ thống Báo cáo kế toán được quy định thống nhất và ngày càng phù
hợp với thông lệ quốc tế với 4 biểu mẫu kế toán báo cáo phải lập là:
• Bảng cân đối kế toán
• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
• Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Riêng Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, từ năm 2003 mới bắt buộc phải lập, nộp. Ngoài
ra, tùy thuộc vào yêu cầu thông tin kế toán của bản thân doanh nghiệp mà có thể nộp thêm
một số báo cáo nội bộ khác.
Từ năm 2000, để cập nhật hơn nữa những nhu cầu của nền kinh tế đang đổi mới,
phát triển, Bộ tài chính vẫn không ngừng nghiên cứu, cải tiến nâng cao vai trò cung cấp
thông tin cho các Báo cáo tài chính, 26 Chuẩn mực kế toán được ban hành, cùng với các
thông tư hướng dẫn kèm theo.
So với giai đoạn trước đây, hệ thống Báo cáo tài chính hiện nay là một bước đột
phá căn bản, nó không chỉ khắc phục được những nhược điểm của hệ thống báo cáo trước
đó mà còn được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc và Chuẩn mực kế toán quốc tế phục
vụ thiết thực hơn cho các cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều đối tượng khác. Nó phản ánh
đầy đủ hơn các sự kiện kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp nên tạo được niềm tin từ phía người sử dụng và thực sự phát huy vai trò
quan trọng trong công tác quản lý tài chính, kế toán.
Nền kinh tế còn nhiều biến đổi, trong tương lai, hệ thống Báo cáo tài chính cũng

1.1.3.2. Vai trò của Báo cáo tài chính
Trước năm 1986, Nhà nước thực hiện quản lý nền kinh tế theo cơ chế tập trung bao
cấp, các đơn vị chỉ duy nhất thực hiện điều hành tổ chức sản xuất kinh doanh theo đúng kế
hoạch nhận được mà không xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị mình. Do vậy, thông
tin trên các Báo cáo tài chính chỉ dùng để nhà nước kiểm tra công tác thực hiện kế hoạch
và Chế độ Kế toán thống kê của xí nghiệp. Báo cáo tài chính phục vụ cho một đối tượng
duy nhất, đó là Nhà nước. Chính vì vậy, đối tựong sử dụng Báo cáo tài chính và nhu cầu
thông tin kinh tế từ Báo cáo tài chính không đa dạng, phong phú, chưa thực sự hữu ích cho
quá trình kinh doanh của bản thân doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Sau đại hội VI năm 1986, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế sang cơ chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, các doanh
nghiệp trong nền kinh tế trở thành những thực thể kinh doanh hàng hóa độc lập, tự tìm
kiếm các đối tác kinh doanh, tự chủ về mặt tài chính, tự quyết định phương hướng, xây
dựng kế hoạch và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo nhu cầu thị trường trong
khuôn khổ luật pháp Nhà nước quy định. Do đó, trong mối ràng buộc giữa lợi ích kinh tế
và quan hệ pháp lý giữa các đối tượng tham gia kinh doanh trên thị trường, hoạt động của
một doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tới rất nhiều đối tượng khác có quan hệ với họ, nên
nhu cầu cung cấp thông tin kinh tế dễ hiểu, đáng tin cậy, hợp pháp từ hệ thống Báo cáo tài
chính là một yêu cầu tất yếu đối với những đối tượng quan tâm.
Vai trò cung cấp thông tin của các Báo cáo tài chính là tương đương nhau. Các Báo
cáo tài chính được lập có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Các bộ phận cấu thành của các
báo cáo phản ánh theo các khía cạnh khác nhau của cùng một số các chỉ tiêu, sự kiện kinh
tế. Mỗi Báo cáo tài chính riêng biệt cung cấp cho người đọc một khía cạnh hữu ích khác
nhau nhưng không có loại báo cáo nào chỉ phục vụ cho một mục đích riêng biệt hoặc cung
cấp mọi thông tin cần thiết có thể đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng. Khi xem xét, tìm kiếm
thông tin đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các Báo cáo tài chính. Đó chính là mối liên hệ hệ
thống của các Báo cáo tài chính.
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống Báo cáo tài chính được lập nhằm giúp những
người ra quyết định đánh giá chính xác thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh
nghiệp, lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu trên cơ sở đánh giá khả năng tạo ra các

thủ luật pháp của doanh nghiệp.
Người lao động trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến quy mô, khả năng hoạt
động của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại và trong tương lai để có cơ sở đảm bảo mức
sống của họ.
Nói tóm lại, tất cả các đối tượng quan tâm đến doanh nghiệp, những người có
quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến doanh nghiệp, mặt này hay mặt khác đều cần thông
tin liên quan đến những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp đó.
Thông tin từ Báo cáo tài chính qua phân tích Báo cáo tài chính đáp ứng được một cách tốt
nhất những yêu cầu trên. Qua đánh giá thường xuyên tình hình tài chính dựa trên các Báo
cáo tài chính, các nhà quản trị doanh nghiệp và những đối tượng khác có thể nắm rõ thực
trạng của doanh nghiệp, thấy được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến tình hình của doanh nghiệp. Từ đó, họ có thể có những quyết định tối ưu và đề
ra những biện pháp hữu hiệu nhằm ổn định và tăng cường, phát huy khả năng hoạt động
của doanh nghiệp. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, lập và phân tích Báo cáo tài chính là
công việc nên được thực hiện một cách cẩn thận sau mỗi chu kỳ hoạt động của doanh
nghiệp.
1.2. Nguyên tắc và nội dung lập Báo cáo tài chính
1.2.1. Những vấn đề cơ bản về thủ tục và nguyên tắc lập Báo cáo tài chính
Các Báo cáo tài chính được lập nhằm mục tiêu cung cấp thông tin tài chính hữu ích
cho các đối tượng quan tâm đến tình hình kinh tế, tài chính của một doanh nghiệp đề ra các
quyết định kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều am hiểu quy trình ghi nhận
dữ liệu và xử lý thông tin kế toán. Vì vậy, để đảm bảo tính hữu ích và dễ hiểu của thông tin
kế toán trên Báo cáo tài chính, Nhà nước đã đưa ra những thủ tục và nguyên tắc nhất định
cần phải tuân thủ trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính.
Các yêu cầu lập và trình bày Báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày Báo cáo tài chính, việc lập và
trình bày Báo cáo tài chính phải tuân thủ yêu cầu trình bày một cách trung thực và hợp lý
tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Cụ
thể, khi lập và trình bày các Báo cáo tài chính doanh nghiệp cần đáp ứng các yêu cầu:
- Trung thực, hợp lý.

Nếu Báo cáo tài chính không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục thì sự kiện này
cần được nêu rõ cùng với cơ sở dùng để lập Báo cáo tài chính và lý do khiến cho doanh
nghiệp không được coi là hoạt động liên tục.
Nguyên tắc cơ sở dồn tích
Doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo cơ sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các
thông tin liên quan đến các luồng tiền.
Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm
phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế
toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan. Các khoản chi phí được ghi nhận
vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi
phí. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho phép ghi nhận trên Bảng cân
đối kế toán những khoản mục không thoả mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả.
Nguyên tắc nhất quán
Nguyên tắc này yêu cầu việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài
chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể về
bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tài
chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao
dịch và các sự kiện; hoặc một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc
trình bày. Khi có thay đổi, thì doanh nghiệp phải phân loại lại các thông tin đảm bảo tính
so sánh của thông tin qua các thời kỳ và phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi
đó trong phần VIII của Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp
Theo nguyên tắc này, từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt
trong báo cáo tài chính. Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ
mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng trong Báo cáo
tài chính hoặc trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bày hoặc trình bày thiếu chính
xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến
quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, có những khoản mục không được coi là trọng yếu để có thể được trình

ra, tùy thuộc yêu cầu của mỗi doanh nghiệp mà lượng Báo cáo kế toán có thể tăng lên.
Báo cáo tài chính của tất cả các loại hình doanh nghiệp phải được lập cho từng kỳ
kế toán năm. Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước thì phải lập thêm Báo cáo tài chính
giữa niên độ vào cuối mỗi quý của năm tài chính (không bao gồm quý IV). Các doanh
nghiệp có thể lập theo kỳ kế toán khác theo yêu cầu của pháp luật, của công ty mẹ hoặc
của chủ sở hữu. Báo cáo tài chính phải được người lập, kế toán trưởng và đại diện pháp
luật của đơn vị ký, đóng dấu của đơn vị. Người ký Báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm
về nội dung của báo cáo. Giám đốc hoặc người đứng đầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm
về lập, trình bày Báo cáo tài chính.
Kỳ kế toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn sau khi
thông báo cho cơ quan Thuế. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp được phép thay đổi ngày
kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập Báo cáo tài chính cho một niên độ kế toán có thể
dài hơn hoặc ngắn hơn một năm dương lịch nhưng không được vượt quá 15 tháng. Khi đó,
doanh nghiệp phải nêu rõ trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính, phần VIII. Những
thông tin khác về:
- Lý do phải thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
- Các thông tin so sánh kỳ này, kỳ trước và phải được điều chỉnh cho phù hợp với
kỳ báo cáo của niên độ báo cáo kỳ này.
Thời hạn nộp Báo cáo tài chính được quy định tại điều 31 Luật kế toán và điều 20
Nghị định kế toán đối với các loại hình doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Đối với doanh nghiệp Nhà nước
Đơn vị kế toán phải nộp Báo cáo tài chính chậm nhất 30 ngày kể từ ngày kết thúc
kỳ báo cáo (đối với Báo cáo tài chính năm), 20 ngày (đối với Báo cáo tài chính quý). Tổng
công ty Nhà nước chậm nhất là 90 ngày (Báo cáo tài chính năm), 45 ngày (Báo cáo tài
chính quý).
Đơn vị kế toán trực thuộc tổng công ty Nhà nước phải nộp báo cáo năm, quý cho
tổng công ty theo thời hạn do tổng công ty quy định.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác
Đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh phải nộp Báo cáo tài
chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.

• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mẫu số B02 – DN.
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, mẫu số B03 – DN.
• Bản thuyết minh Báo cáo tài chính, mẫu số B09 – DN.
Trong quá trình kinh doanh nếu thấy cần thiết, các doanh nghiệp có thể bổ sung, sửa
đổi hoặc chi tiết các chỉ tiêu cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nhưng phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản.
Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính, yêu cầu chỉ đạo, điều hành,
các doanh nghiệp có thể quy định thêm các báo cáo chi tiết khác. Đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ vẫn tuân thủ các quy định chung còn những quy định, hướng dẫn cụ thể được
trình bày tại Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ.
 Bảng cân đối kế toán: (Phụ lục 01: Bảng cân đối kế toán theo mẫu B01- DN của Quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính)
Bảng cân đối kế toán là một Báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản
của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất
định. Theo quy định, thời điểm này là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo. Số liệu trên Bảng
cân đối kế toán cho biết toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản và
nguồn hình thành tài sản đó.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản và
sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân đối kế toán được chia làm 2
phần: Tài sản và Nguồn vốn, có thể kết cấu theo kiểu 2 bên (Tài sản bên trái, Nguồn vốn
bên phải) hoặc kết cấu một bên (Tài sản phía trên, Nguồn vốn bên dưới).
Xét theo thời gian luân chuyển của tài sản, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được
chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn, được trình bày thành 2 phần trong
phần tài sản trên Bảng cân đối kế toán.
Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến
cuối kỳ báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về
số tài sản đang quản lý và sử dụng đối với nhà nước, cấp trên, các nhà đầu tư, các cổ đông,
ngân hàng, các tổ chức tín dụng, khách hàng, các đơn vị kinh tế khác, công nhân viên,…
Nguồn vốn được chia thành 2 loại: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính, Bảng cân đối kế toán còn phản ánh các chỉ tiêu

số liệu đã được trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các

Trích đoạn Nội dung phân tích
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status