PHÂN TÍCH CÁC HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NHNN
VÀ PTNT CHI NHÁNH ĐÔNG ANH
2.1. GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NHNo & PTNT CHI NHÁNH ĐÔNG
ANH
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của NHNo & PTNT Chi nhánh Đông Anh
Từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “ Để đạt
được sự ổn định về chính trị, để nền kinh tế có thể phát triển đi lên ngang tầm các
quốc gia độc lập có nền kinh tế phát triển trên thế giới thì phải giành và kiểm soát
được hệ thống Ngân hàng – Tài chính”. Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đã được thành lập ngày 06/05/1951.
Thực hiện chủ trương của Đảng, năm 1959 trên địa bàn Đông Anh Ngân
hàng Nhà nước Chi điếm Đông Anh được thành lập. Hoạt động của Ngân hàng lúc
bấy giờ thực chất là thay Ngân sách Nhà nước cấp phát vốn tiền mặt cho đơn vị
theo kế hoạch, hoạt động tín dụng mang tính bao cấp, đồng vốn cho vay không tính
đến hiệu quả kinh tế. Như vậy trong thời kì này, Ngân hàng Đông Anh chưa phải là
một Ngân hàng Thương Mại theo đúng nghĩa của nó: là một tổ chức tài chính trung
gian chuyên hoạt động về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh
toán cho nền kinh tế.
Đến khi Đảng và Nhà nước thực hiện bước chuyển mình, từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
(1986). Theo quyết định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 thì hệ thống Ngân hàng là
một cấp chuyển sang hệ thống Ngân hàng hai cấp. Ngân hàng cấp một là Ngân
hàng Nhà nước với chức năng điều hành quản lí vĩ mô. Ngân hàng cấp hai là Ngân
hàng thương mại với chức năng kinh doanh tiền tệ. Với sự tách bạch này thì hệ
thống ngân hàng thương mại thực sự ra đời. Sau đó với quyết định số 53/HĐBT –
NHNN Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước chi điếm Đông Anh đổi tên thành Chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đông Anh (NHNo &
PTNT Đông Anh) thuộc NHNo & PTNT Thành phố Hà Nội. Năm 1996 có sự thay
đổi về cơ chế quản lí và cấp điều hành, NHNo & PTNT Đông Anh tách ra khỏi
NHNo & PTNT Hà Nội. Và từ đó đến nay, NHNo & PTNT Chi nhánh Đông Anh
các phòng chức năng phối kết hợp chặt chẽ với nhau tạo điều kiện thuận lợi cho
việc quản lí, điều hành và đã tạo cho NHNo&PTNT Đông Anh một mô hình hoạt
động khá hiệu quả.
2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Chi nhánh
Đông Anh
Trong mấy năm gần đây tình hình kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh tiếp
tục phát triển ổn định, đạt mức tăng trưởng khá. Tháng 11/2006 Việt Nam chính
thức là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO), kéo theo đó
thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng được mở rộng hơn, đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân ngày càng nâng cao, bộ mặt nông thôn đổi mới từng ngày.
Từ đó đến nay, tốc độ đô thị hóa, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề truyền thống được mở rộng và phát triển mạnh. Đạt được thành tựu đó không
thể không nhắc đến sự nỗ lực và đóng góp không nhỏ của hệ thống NHTM trong
khu vực, đặc biệt phải kể đến là NHNo & PTNT chi nhánh Đông Anh. Hoạt động
của NHNo & PTNT chi nhánh Đông Anh năm 2007 đã đạt được một số kết quả
nhất định như sau:
Nguồn vốn huy động
CÁC PHÓ GIÁM
ĐỐC
Các phòng
giao dịch
Nguồn vốn huy động năm 2007 đạt 1510 tỷ VND đạt 102/100 so với kế
hoạch, trong đó :
- Nguồn vốn nội tệ đạt : 1408 tỷ VNĐ
- Nguồn vốn ngoại tệ quy đổi đạt :102 tỷ VNĐ
Trong đó, vốn huy động từ dân cư tại chi nhánh là 835 tỷ VNĐ tăng so với
năm 2006 là 192 tỷ đồng, tốc độ tăng 29.86 %.
Kết quả tài chính năm 2007
Lợi nhuận đạt : 24,2 tỷ VNĐ, tăng 6.5% so với năm 2006 và đạt 96% so với
kế hoạch.
QHQT ngày 07/06/2001 về quy trình kĩ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế trong
hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam và đến ngày 01/01/2006 thực hiện theo quyết
định số 1998/QĐ – NHNo – QHQT ngày 15/12/2005 về quy trình kĩ thuật nghiệp
vụ thanh toán quốc tế trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam.
2.2.1. Thanh toán chuyển tiền
Đây là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Chi nhánh. Mặc dù Đông
Anh là địa bàn hoạt động ngoại thương không mấy thuận lợi song hoạt động thanh
toán này của Chi nhánh đã có những bước đầu phát triển khá khả quan.
2.2.1.1. Quy trình nghiệp vụ thanh toán Chuyển tiền
* Thanh toán chuyển tiền đi
Trong quan hệ thanh toán XNK, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu có thể thỏa
thuận điều kiện thanh toán bằng phương thức chuyển tiền TTR. Khi khách hàng
mang chứng từ tới Ngân hàng xin làm thủ tục thanh toán chuyển tiền, Ngân hàng
tiếp nhận bộ hồ sơ liên quan đến việc chuyển tiền bao gồm các chứng từ: Hợp
đồng ngoại thương, Lệnh chi ngoại tệ, Giấy đề nghị mua ngoại tệ, Bộ chứng từ gửi
hàng của người xuất khẩu và Bộ hồ sơ pháp lí (đối với khách hàng giao dịch lần
đầu với Ngân hàng) bao gồm : Giấy đăng kí mã số kinh doanh xuất nhập khẩu, mã
số thuế, quyết định bổ nhiệm Giám đốc và Kế toán trưởng, Biên bản họp Hội đồng
thành viên sáng lập và điều lệ hoạt động của công ty (nếu có).
Căn cứ vào bộ hồ sơ xuất trình thanh toán viên sẽ kiểm tra tính đầy đủ, xác
thực và phù hợp của các chứng từ theo yêu cầu của chế độ quản lí ngoại hối và thể
lệ thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
đồng thời thanh toán viên cũng sẽ kiểm tra và xác nhận số dư tài khoản của khách
hàng. Nếu hồ sơ phù hợp thì thanh toán viên tiến hành lập điện MT 103 trong hệ
thống SWIFT nội bộ và in làm 03 bản, trong đó : 01 bản lưu hồ sơ chuyển tiền, 01
bản chuyển bộ phận kế toán ngoại tệ hạch toán, 01 bản trả cho khách hàng.
Sau khi kiểm tra xong, thanh toán viên trình lãnh đạo Phòng và Ban giám
đốc duyệt. Khi ban giám đốc đã phê duyệt, lãnh đạo Phòng gửi điện về Sở đầu
mối NHNo & PTNT Việt Nam và điện được chuyển tiếp ra nước ngoài cho người
thụ hưởng.
(Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT)
Qua số liệu bảng 1.1 ta thấy doanh số chuyển tiền năm 2006 là 1,846
nghìn USD giảm mạnh so với năm 2005 là 3,245 nghìn USD, đạt 36,3% (tức giảm
63,7%) so với năm 2005, trong khi đó số món chuyển tiền đi lại tăng 1,24 lần.
Nguyên nhân là do chỉ số giá tiêu dùng năm 2006 tiếp tục tăng, làm sức cạnh tranh
của nhiều hàng hóa, dịch vụ, nhiều mặt hàng thiết yếu như: lương thực thực phẩm,
sắt thép, vật liệu xây dựng, xăng dầu và một số nguyên vật liệu tăng cao, đã ảnh
hưởng đến giá thành sản phẩm, hạn chế việc mở rộng sản xuất cũng như là nhập
khẩu các mặt hàng của các DN. Do vậy mà doanh số cho những món tiền chuyển
đi trong năm 2006 của khách hàng là nhỏ hơn năm 2005 đã làm cho tổng doanh số
chuyển tiền đi năm 2006 bị giảm so với năm 2005. Đến năm 2007 thì số món
chuyển tiền đi đã tăng rất nhanh, cụ thể là 88 món, gấp 1,87 lần so với năm 2006
và doanh số đạt 7,792 nghìn USD tức tăng 322% so với năm 2006 và tăng 53% so
với năm 2005. Có được kết quả này là do các doanh nghiệp thường xuyên hoạt
động thanh toán chuyển tiền qua NHNo & PTNT chi nhánh Đông Anh đã tạo dựng
được uy tín của mình với các đối tác nước ngoài do đó họ có thêm nhiều những
hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán là TTR.
Song song với nhân tố khách quan trên là Chi nhánh đã tiến hành nhiều
chính sách tiếp thị, thu hút khách hàng và tạo dựng được uy tín trên địa bàn nên
ngoài các khách hàng truyền thống còn có các khách hàng mới khác đến yêu cầu
thanh toán chuyển tiền.
* Thanh toán chuyển tiền đến
Hoạt động Chuyển tiền đến tại Chi nhánh chủ yếu là Chuyển tiền cá nhân
(trong đó chuyển tiền Western Union chiếm tỷ trọng khá lớn), chi kiều hối và một
số ít là chuyển tiền thanh toán L/C hàng xuất khẩu. Doanh số cho những món
chuyển tiền đến thường là nhỏ.
Bảng 1.2 : Doanh số thanh toán chuyển tiền đến
Đơn vị: Quy 1000 USD
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Năm 2006
Khi nhận được chứng từ nhờ thu (Nhờ thu kèm chứng từ) hoặc hối phiếu đòi
tiền (Nhờ thu trơn) do Ngân hàng nước ngoài gửi đến, thanh toán viên phải nhập sổ
theo dõi và tiến hành kiểm tra nội dung lệnh nhờ thu của Ngân hàng chuyển chứng
từ nhờ thu. Lệnh nhờ thu phải đảm bảo cung cấp chỉ dẫn một cách chính xác, đầy
đủ và toàn diện như tên và địa chỉ của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, chỉ dẫn và
hướng dẫn thanh toán, xử lí đối với hàng hóa phải rõ ràng (trong trường hợp nhà
nhập khẩu chậm hay không thanh toán).
Ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm trên bề mặt bộ chứng từ, không có trách
nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp, nội dung của bất kỳ chứng từ nào có liên
quan đến chứng từ nhờ thu.
Bước 2 : Kiểm tra chứng từ
Căn cứ vào chứng từ nhận được, Chi nhánh NHNo & PTNT Đông Anh tiến
hành lập công văn thông báo cho khách hàng biết. Trong thông báo phải nêu rõ các
nội dung của nhờ thu như : miêu tả hàng hóa, số tiền, thời hạn thanh toán, loại và
số lượng từng loại chứng từ. Thanh toán viên lập 02 giấy báo nhờ thu hàng nhập :
01 bản gửi khách hàng, 01 bản lưu hồ sơ nhờ thu sau đó chuyển giấy báo cùng toàn
bộ chứng từ nhờ thu đến Phụ trách phòng xem xét trình lãnh đạo kí duyệt. Trong
giấy báo nhờ thu hàng nhập phải đề nghị nhà nhập khẩu cho biết ý kiến về việc
thanh toán, chấp nhận thanh toán đối với nhờ thu trên.
Bước 3 : Giao chứng từ nhờ thu và thanh toán/ chấp nhận thanh toán
Căn cứ vào ý kiến của khách hàng tức nhà nhập khẩu về việc đồng ý thanh
toán hoặc ký chấp nhận thanh toán, Ngân hàng sẽ giao chứng từ hàng hóa để nhà
nhập khẩu đi nhận hàng. Đồng thời Ngân hàng lập điện MT 202 để thanh toán hoặc
MT 412 để thông báo chấp nhận thanh toán của nhà nhập khẩu cho Ngân hàng
chuyển chứng từ nhờ thu.
* Thanh toán Nhờ thu hàng xuất khẩu
Sau khi giao hàng xong, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ hàng hóa gửi tới
Ngân hàng. Khi nhận được bộ chứng từ do khách hàng gửi đến kèm chỉ dẫn thanh
toán, thanh toán viên kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ. Sau đó, thanh
toán viên tiến hành đăng ký số tham chiếu, vào sổ theo dõi và kiểm tra chi tiết trên
so với 2005
Năm 2007
so với 2006
Số món Nhờ thu đến 08 10 14 1,25 lần 1,4 lần
Doanh số Nhờ thu đến 251,2 293,34 745,624 16,8% 154,2%