Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, với chủ trương “ Việt Nam sẵn sàng làm
bạn với các nước ”, Việt Nam đang từng bước hoà nhập, phát triển kinh tế gắn liền
với nền kinh tế khu vực và thế giới. Cụ thể là Việt Nam đã trở thành thành viên chính
thức của khối ASEAN từ tháng 7/1995 và là thành viên chính thức của tổ chức thương
mại thế giới từ tháng 11/2006, là một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập.
Xu thế toàn cầu hoá đã giúp cho quan hệ thương mại và hợp tác quốc tế giữa
Việt Nam với thế giới ngày càng phát triển, điều đó đòi hỏi các hoạt động TTQT cũng
phải được hoàn thiện và phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nhằm
đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng mở rộng, đa dạng và phức tạp.
Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam thì việc mở rộng và nâng cao chất
lượng TTQT cũng luôn là mục tiêu được quan tâm hàng đầu. Thôn g qua việc phát
triển nghiệp vụ này, các NHTM ở Việt Nam đã có thêm nhiều cơ hội tham gia và
khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế, đồng thời mở rộng kinh doanh, tăng
thu nhập và phát triển ổn định trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Trong quá trình học tập tại trường, được sự hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình của các
thầy cô giáo, em đã tiếp thu được những kiến thức cơ bản về NHTM. Khi đến thực tập
tại SGD NHNo&PTNT Việt Nam, em nhận thấy hoạt động TTQT đã được SGD xem
là một trong những hoạt động quan trọng trong quá trình kinh doanh của mình. Và
trong những năm gần đây hoạt động này ngày càng được mở rộng, đóng góp một
phần không nhỏ vào sự phát triển của SGD. Tuy nhiên hiện hoạt động TTQT của
SGD vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục, cùng với nó là sự cạnh tranh
gay gắt của các ngân hàng trong và ngoài nước. Bởi vậy việc nghiên cứu để hoàn
thiện và phát triển hoạt động TTQT tại SGD NHNo&PTNT Việt Nam là vô cùng cần
thiết.
Xuất phát từ lý do trên, em đã chọn đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động
thanh toán quốc tế tại SGD NHNo&PTNT Việt Nam ” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
Bố cục của luận văn gồm 3 phần: phần mở đầu, kết luận và nội dung được chia
làm 3 chương.
và thực hiện nhiệm vụ chiết khấu là chủ yếu.
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh dịch vụ tiền tệ. NHTM không
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưu thông và phân
phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát
triển kinh tế. Vai trò quan trọng của NHTM trong nền kinh tế được thể hiện qua các
chức năng của nó như:
- Chức năng tạo tiền
- Chức năng thanh toán
- Chức năng tín dụng
- Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM
- Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM
- Nghiệp vụ tín dụng
- Dịch vụ tài chính của NHTM
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
1
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
- Các nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM
1.2.HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động
mậu dịch hay phi mậu dịch giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức hay cá
nhân nước khác hoặc giữa một quốc gia với các tổ chức quốc tế thông qua quan hệ
giữa các ngân hàng của các nước có liên quan.
TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế
tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt động TTQT thì
hoạt động kinh tế đối ngoại khó có thể tồn tại và phát triển được. Nếu hoạt động
TTQT được nhanh chóng, an toàn và chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu
thông hàng hoá - tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả.
Về giác độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chất
lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt
động của các doanh nghiệp.
1.2.2.2 TTQT với ngân hàng thương mại
Trong thương mại quốc tế, các nhà xuất nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho
nhau phải thông qua NHTM với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý
rộng khắp toàn cầu. Khi thay mặt khách hang thực hiện hoạt động TTQT, các ngân
hàng đã trở thành cầu nối trung gian giữa hai bên mua bán.
Với vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng tiến hành thu nhận, chi trả tiền,
hàng hoá theo yêu cầu của khách hang, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao
dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kĩ thuật nghiệp vụ
TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch
mua bán với nước ngoài.
Mặt khác, trong quá trình thực hiện TTQT, khách hàng không đủ năng lực về
vốn, ngân hàng sẽ thực hiện tài trợ tài chính cho các nhà xuất nhập khẩu một cách chủ
động và tích cực. Nói chung, ngân hàng là người cung cấp hoàn hảo các loại hình dịch
vụ kĩ thuật và tài chính nhằm hỗ trợ cho khách hàng thực hiện hoạt động thương mại
quốc tế.
Hoạt động thương mại quốc tế luôn cần đến sự tham gia, hỗ trợ về kỹ thuật,
nghiệp vụ và tài chính của ngân hàng. Ngân hàng cung cấp các phương án lựa chọn
phương thức TTQT, tài trợ xuất nhập khẩu, đảm bảo an toàn và quyền lợi cho cả bên
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
3
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
mua bán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng quan hệ với các
hàng
4
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
+ Điều kiện đảm bảo ngoại hối theo “rổ tiền”: Ngày nay theo cơ chế thả nổi tỷ
gía, nên rất khó kiếm được một đồng tiền ổn định. Vì vậy người ta thường đưa ra điều
kiện đảm bảo tỷ giá theo “rổ tiền”. Khi áp dụng cách này hai bên phải thống nhất với
nhau chọn những đồng tiền nào đưa vào “rổ”.
- Điều kiện thời gian thanh toán:
Điều kiện thời gian thanh toán có thể thoả thuận là một trong 3 thời gian sau: trả
trước, trả ngay và trả sau.
+ Trả trước: Là việc bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần
tiền hàng sau khi hai bên kí kết hợp đồng hoặc sau khi bên nhập khẩu chấp nhận đơn
đặt hang của bên nhập khẩu.
+ Trả ngay: Là việc người nhập khẩu trả tiền hàng sau khi người xuất khẩu hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc sau khi người
nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định.
+ Trả sau: là việc người nhập khẩu trả tiền hàng cho người xuất khẩu sau một
thời gian nhất định.
- Điều kiện về phương thức thanh toán:
Đây là điều kiện quan trọng trong hoạt động TTQT. Phương thức thanh toán là
cách người mua trả tiền cho người bán sau khi đã giao hàng, có nhiều phương thức
thanh toán khác nhau. Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà người mua và người bán có thể
thoả thuận để xác định phương thức thanh toán cho phù hợp.
1.2.4 Các phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế
Để tiến hành các nghiệp vụ TTQT được thuận tiện, có hiệu quả, người ta sử
dụng các điều kiện thanh toán thích hợp. phương tiện thanh toán là công cụ mà người
ta sử dụng để trả tiền trong quan hệ mua bán với nhau. Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của mối quan hệ thương mại, quan hệ thanh toán, có thể lựa chọn và sử dụng
một trong những phương tiện thanh toán như: séc, hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ thanh
toán.
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền)
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác
(người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định.
Có hai phương thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng thư ( mail transfer, M/T) và
chuyển tiền bằng điện báo (telegraphic transfer, T/T). Hình thức chuyển tiền bằng
điện có lợi cho người xuất khẩu vì nhận tiền nhanh chóng, không có lợi cho người
nhập khẩu vì chi phí cao.
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
6
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
*Quy trình nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền (sơ đồ 01)
Thanh toán chuyển tiền là hình thức thanh toán trực tiếp giưa người chuyển
tiền và người nhận tiền. NH chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để
được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc về trách nhiệm đối với cả người mua lẫn
người bán.
Trong quan hệ mua bán, TTQT, phương thức này chỉ được chọn làm phương
tiện thanh toán đố với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu , cung ứng dịch vụ có quan hệ
thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng
vốn của người bán nếu bên mua cố tình kéo dài việc thanh toán.
1.2.5.2 Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment)
*Định nghĩa
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán khi người bán hoàn
thành xong nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ thì người bán uỷ thác cho NH
của mình thu số tiền hàng ở người mua trên cơ sở hối phiếu do người bán lập ra gửi
NH.
Trong mối quan hệ này, NH ở hai bên nước nhà xuất khẩu và nước nhà nhập
khẩu, chỉ tham gia với tư cách là trung gian thu tiền hộ.
*Các bên tham gia phương thức nhờ thu
- Người bán là người hưởng lợi (principal)
hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối
phiếu thì NH mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.
*Quy trình thanh toán nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ ( Sơ đồ số 03 )
So với nhờ thu phiếu trơn, nhờ thu kèm chứng từ đảm bảo quyền lợi cho bên
bán hơn vì đã có sự rang buộc chặt chẽ giữa việc thanh toán tiền hàng và việc nhận
hàng của người mua. Còn về vai trò của NH thì không chỉ là trung gian thanh toán,
mà còn là người định đoạt việc nhận hàng của người mua.
Tuy nhiên, nhờ thu kèm chứng từ vẫn còn một số hạn chế: người bán thông qua
NH mới khống chế được quyền định đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống
chế được việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng
cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không nhận hàng hoá và trả tiền nếu tình hình
thị trường bất lợi với họ.
1.2.5.3 Phương thức tín dụng chứng từ ( Documentary of credit )
*Định nnghĩa
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
8
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
Phương thức tín dụng chứng từ ( Documentary letter of credit ) là sự thoả thuận,
trong đó NH mở thư tìn dụng ( NH bên nước người mua ) theo yêu cầu của người mua
hàng, sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác ( người hưởng lợi, người bán
hàng ) hoặc chấp nhận hối phiếu người bán đã ký phát khi người bán xuất trình cho
NH một số chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng.
Thư tín dụng ( Letter of credit – L/C) là một bản cam kết dùng trong thanh toán,
trong đó một NH ( NH phục vụ người nhập khẩu ) theo yêu cầu của người nhập khẩu
tiến hành mở và chuyển đến cho chi nhánh hay đại lý của NH này ở nước ngoài ( NH
phục vụ người xuất khẩu ) một L/C cho người hưởng lợi ( người xuất khẩu) cam kết
sẽ thanh toán một số tiền nhất định trong phạm vi thời hạn quy định, với điều kiện
người hưởng lợi phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với nội dung, điều kiện
trong thư tín dụng.
sau:
- Ưu điểm :
+ Đây là một phương thức thanh toán có quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo cho
các bên trực tiếp tham gia.
+ Đối với người xuất khẩu: Vì L/C là cam kết trả tiền của NH nên trong mọi
trường hợp khi người xuất khẩu đã thực hiện đầy đủ quy định trong L/C thì chắc chắn
nhận được tiền hàng hoá. Mặt khác, người xuất khẩu có thể sử dụng L/C như một
phương thức tài trợ khi dùng bộ hàng hoá chứng từ xuất khẩu để chiết khấu hoặc
chuyển nhượng quyền sở hữu L/C.
+ Đối với người nhập khẩu: Có thể nhận được hàng hoá theo đúng quy định đã
thoả thuận trong hợp đồng ngoại thương về số lượng, chất lượng, thời gian giao
hàng….
+ Đối với NH: Có thu nhập dưới hình thức thủ tục phí ( phí mở L/C, phí thông
báo…); đồng thời có điều kiện mở rộng các dịch vụ NH khác nhờ vào mối quan hệ
giữa NH với khách hàng.
- Nhược điểm:
+ Đây là phương thức thanh toán khá phức tạp, diễn ra nhiều công đoạn nên cần
nhiều thời gian, công sức.
+ Đối với người nhập khẩu:
•Người nhập khẩu trong nhiều trường hợp phải ký quỹ mở L/C nên bị ứ đọng
vốn.
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
10
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
•Do việc trả tiền trên L/C hoàn toàn dựa trên các chứng từ mà không dựa vào
thực tế hàng hoá, nên người nhập khẩu có thể gặp rủi ro nếu người xuất khẩu có hành
vi lừa dối, lừa đảo trong việc giao hàng.
•Do quy trình thanh toán L/C phức tạp nên NH phải thu phí cao hơn so với các
hình thức thanh toán khác nên người nhập khẩu sẽ chịu tốn kém hơn.
1.2.6.2 Nhóm các nhân tố chủ quan ( nhân tố bên trong NH )
* Mô hình tổ chức quản lý điều hành hoạt động TTQT của NHTM: một hệ thống
quản lý điều hành thống nhất từ trung ương đến chi nhánh theo một quy trình cụ thể,
gọn nhẹ, giao quyền chủ động cho chi nhánh sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian thanh
toán nhanh chóng và an toàn là tác nhân thu hút khách hàng đến với NH nhiều hơn vì
quyền lợi của họ được đảm bảo.
* Năng lực tài chính quả NHTM: Một NH có nguồn lớn, đặc biệt là nguồn vốn
ngoại tệ thì sẽ có ưu thế trong hoạt động TTQT. Khi có nguồn vốn lớn, NH có thể mở
rộng quy mô và số lượng các nghiệp vụ TTQT. Do đó sẽ thu hút được một số lượng
lớn khách hàng.
* Uy tín của NHTM ở trong nước và quốc tế: Đối với hoạt động TTQT, uy tín
của NH là khá quan trọng. khách hàng thường lựa trọn những NH có uy tín để giao
dịch trong quan hệ thương mại quốc tế.
* Mạng lưới đại lý, chi nhánh của NH ở nước ngoài: Một NH có mạng lưới NH
đại lý rộng khắp sẽ là điều kiện thuận lợi để các nghiệp vụ TTQT được tiến hành trôi
chảy và có hiệu quả cao và ngược lại nếu một NH bị hạn chế về mạng lưới NH đại lý
thì nghiệp vụ TTQT không phát triển được.
Ngoài ra, trình độ của nhân viên NH về nghiệp vụ TTQT, trình độ trang bị kỹ
thuật và công nghệ trong thanh toán, hoạt động marketing của NH cũng là những nhân
tố bên trong NH tác động đến quy mô của hoạt động TTQT của NHTM.
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
12
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI
SGD NHNo&PTNT VIỆT NAM
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGD NHNo&PTNT VIỆT NAM
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
SGD NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập theo quyết định 232/QĐ/HĐQT
– 02 ngày 13/05/1999 của chủ tịch hội đồng quản trị trên cơ sở sắp xếp cơ cấu lại Sở
- Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có thời hạn, tiền gưi thanh
toán của các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước
bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi,trái phiếu, kì phiếu, và thực hiện các hình thức
huy động vốn khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam
- Được vay vốn của các tổ chức tài chính tín dụng khác trong nước khi tổng giám
đốc của NHNo&PTNT Việt Nam cho phép
- Vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn theo quy định của NHNo&PTNT Việt
Nam
* Cho vay
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất , kinh doanh, dịch
vụ, đời sống cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
- Cho vay trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, đời sống cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
* Các hoạt động khác
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, chi trả kiều hối, phát hành bảo lãnh, tái bảo lãnh,
chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính
sách quản lý ngoại hối của chính phủ, ngân hang nhà nước và NHNo&PTNT Việt
Nam.
- Hoạt động thanh toán: thanh toán séc du lịch, thanh toán thẻ, thanh toán liên ngân
hàng, thanh toán điện tử, chuyên tiền ngoại tệ qua mạng SWIFT.
- Dịch vụ ngân quỹ: chi trả lương qua tài khoản, qua thẻ ATM, thu hộ, chi hộ, thực
hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Kinh doanh các nghiệp vụ ngân hang theo luật các tổ chức tín dụng: mua bán vàng
bạc, máy rút tiền tự động, dịch vụ thẻ, két sắt, nhận bảo quản, cất giữ các loại giấy tờ
có giá, thẻ thanh toán, nhận uỷ thác cho vay của các tổ chức tài chính, cá nhân trong
và ngoài nước mà NHNo&PTNT Việt Nam cho phép.
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
14
108 tỷ( 87%) so với năm 2007. Năm 2009 tổng nguồn vốn huy động đạt 10.990 tỷ
Nguyễn Thị Dung. Lớp KT11-02 Khoa tài chính – ngân
hàng
15