GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC
TẾ CỦA NHNN VÀ PTNT ĐÔNG HÀ NỘI
3.1. Định hướng phát triển hoạt động của NHNo&PTNT Đông Hà Nội
Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX do Tổng bí thư
Nông Đức Mạnh trình bày có nêu rõ: “Mục tiêu và phương, hướng tổng quát của 5
năm 2006 – 2010 là... đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng
tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,... mở rộng quan hệ
đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, sớm đưa nước ta thoát
khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo chiều hướng hiện đại”, “về quan hệ đối ngoại,
chúng ta phải thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,
hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”. Có thể nói
rằng, thời gian vừa qua quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước, các tổ chức
quốc tế được mở rộng, việc thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, đàm phán gia nhập tổ
chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phương,
song phương khác đã góp phần tạo nên bước phát triển mới rất quan trọng về kinh
tế đối ngoại, nhất là TTQT.
Năm 2007, Việt Nam với tư cách là thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO) các cam kết quốc tế đang dần được thực hiện trên các lĩnh vực. Kinh
tế trong nước sẽ tiếp cận những luồng gió mới với những cơ hội mới nhưng cũng
không ít thách thức. Bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân
hàng Việt Nam còn khá non trẻ nhưng cũng có những lợi thế để phát triển mạnh
dịch vụ này. Qua phân tích, chúng ta có thể thấy một số bất lợi cho hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập như:
- Môi trường kinh doanh ngân hàng còn chưa ổn định, còn nhiều rủi ro, hệ
thống pháp luật chưa hoàn thiện, cải cách khu vực kinh tế nhà nước còn chậm,
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp so với các nước
trong khu vực và trên thế giới.
tiếp cận được hoặc ít quan tâm vì lợi nhuận thấp... Điều đó tạo điều kiện cho việc
phát triển dịch vụ ngân hàng phục vụ dân cư.
Hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu của các nền kinh tế trong thời đại ngày
nay. Các NHTM quốc tế có bề dày kinh nghiệm hoạt ộng kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường hàng trăm năm là những đối thủ “đáng gờm” của các NHTM
Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. Muốn đứng vững và hợp tác, cạnh
tranh với các NHTM quốc tế nhất định các NHTM Nhà nước phải dự kiến và có
những giải pháp hợp lý vượt qua các thách thức giành thắng lợi và thực sự làm tròn
vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
trong quá trình hội nhập quốc tế.
Tại ĐH Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ KTXH 5
năm 2006- 2010 của cả nước cũng như nhiệm vụ chủ yếu của các ngành kinh tế
trong đó có ngân hàng. Có thể nói, chưa bao giờ khi bước vào một giai đoạn phát
triển mới ngành ngân hàng lại được nhìn nhận một cách đầy đủ và toàn diện những
chỉ đạo chiến lược, những chính sách, chủ trương và mục tiêu cụ thể của Đảng và
Nhà nước như hiện nay. Những định hướng chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta như
sau:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động NH với trọng tâm là
xây dựng lại 2 luật Ngân hàng.
- Đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tê và nâng cao hiệu quả của các
công cụ chính sách tiền tệ gắn với đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, tỷ giá theo
nguyên tắc thị trường.
- Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán làm nền tảng
cho việc phát triển dịch vụ mới và áp dụng các chuẩn mực quản trị ngân hàng hiện
đại.
- Xây dựng hệ thống thanh tra giám sát NH về thể chế, phương thức, mô hình
tổ chức và nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển hệ thống ngân hàng
Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế về thanh tra giám sát NH.
- Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại hệ thống NHTM và cổ phần hóa các
NHTMVN nhằm nâng cao năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh, mở rộng quy
- Ổn định bộ máy tổ chức
- Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đi đôi với việc đào tạo đội ngũ cán bộ
có trình độ tương xứng với công nghệ mới.
- Tăng cường nguồn vốn và sử dụng vốn theo hướng ổn định bền vững và
tiết kiệm, cơ cấu hợp lý.
Để góp phần vào mục tiêu chung của chi nhánh hoạt động TTQT cũng không
ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động, mở rộng hình thức, nhằm ngày càng
đạt được yêu cầu thoả mãn của khách hàng. Chi nhánh đã đặt ra những mục tiêu
hướng phát triển cho giai đoạn tiếp theo:
Cải tiến nâng cao năng lực điều hành cho hoạt động TTQT tại chi nhánh,
đảm bảo thực hiện tốt chiến lược đưa hoạt động TTQT thành một trong những hoạt
động trọng tâm của chi nhánh, tận dụng được ưu thế về địa điểm, đảm bảo hoạt
động TTQT và KDNT của chi nhánh được thông suốt, hiệu quả.
Đảm bảo thực hiện tốt, nhanh chóng, chính xác các dịch vụ TTQT và kinh
doanh ngoại tệ phục vụ khách hàng và phát triển hoạt động TTQT của khách hàng
truyền thống tại chi nhánh, nâng cao vị thế của chi nhánh trong đánh giá của khách
hàng.
Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ TTQT, các hình thức kinh doanh ngoại tệ
như nghiệp vụ hoán đổi(SWAP), mua bán kỳ hạn,...tìm kiếm nguồn cung ứng
ngoại tệ mới từ các tổ chức và doanh nghiệp.
Triển khai công tác tiếp thị khách hàng, tìm kiếm các khách hàng mới, đặc
biệt là các doanh nghiệp có doanh số xuất nhập khẩu lớn, đặc biệt với các doanh
nghiệp xuất khẩu nhằm giảm bớt sự mất cân đối giữa nghiệp vụ nhập khẩu và xuất
khẩu, thu hút nguồn ngoại tệ về chi nhánh. Kết hợp với các bộ phận khác để có
chính sách marketing đồng bộ thu hút nguồn khách hàng mới, có uy tín
Xây dựng chính sách ưu đãi cho các khách hàng có nguồn ngoại tệ lớn bán
cho ngân hàng như về lãi suất, phí dịch vụ,...
Phát triển số lượng bán đại lý thu đổi ngoại tệ, xây dựng các chính sách ưu
đãi đối với các đại lý có khả năng cung ứng ngoại tệ với số lượng lớn.
Nâng cao trình độ chuyên môn bằng việc thường xuyên tổ chức đào tạo