MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN TỚI.
3.1. Bối cảnh kinh tế - tài chính ở trong và ngoài nước.
3.1.1.Bối cảnh trong nước.
Trước sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá và tự do hoá kinh tế thế giới và
xu hướng đổi mới không thể đảo ngược của nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế
KHHTT sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có thể tạm thời dự
đoán về bối cảnh kinh tế tài chính nước ta trong thời gian tới sẽ biến đổi theo một
số xu hướng mới. Đó là:
- Đổi mới cơ chế và thể chế kinh tế theo cơ chế thị trường vẫn được tiếp tục
diễn ra với tốc độ mạnh hơn, nhanh hơn và triệt để hơn. Mức độ và phạm vi thị
trường hoá các quan hệ kinh tế tài chính sẽ được mở rộng và phát triển ở mức độ
cao hơn. Khu vực kinh tế - tài chính công sẽ bị thu hẹp về quy mô và tỷ trọng
nhưng chất lượng và hiệu quả sẽ cao hơn. Khu vực kinh tế - tài chính tư nhân sẽ
phát triển mạnh, có quy mô và tỷ trọng tăng cao và sẽ chiếm vị trí quan trọng. Sự
can thiệp trực tiếp mang tính hình thức của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh
của các chủ thể kinh tế sẽ giảm dần và được thay đổi về cơ bản từ phương thức
quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng các công cụ pháp luật, cơ chế, chính
sách vĩ mô. Sự độc lập và tự chủ của các đơn vị kinh tế được mở rộng. Nhiều tổ
chức nghề nghiệp hoạt động theo chế độ tự quản sẽ ra đời và phát triển, thay thế
cho các chức năng của một số cơ quan quản lý Nhà nước. Môi trường kinh tế tài
chính đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh sẽ trở nên bình đẳng, không có sự
phân biệt theo tính chất sở hữu và địa điểm ưu tiên.
- Hội nhập quốc tế về kinh tế sẽ diễn ra mạnh mẽ cả về bề rộng lẫn chiều sâu:
Cạnh tranh kinh tế - tài chính trên thị trường nội địa và quốc tế sẽ trở nên quyết liệt
hơn. Hệ quả là, các nguồn lực kinh tế sẽ được phân bổ và sử dụng có hiệu quả hơn
thông qua cơ chế thị trường nhưng sự khan hiếm và khó khăn về nguồn lực phân
tán, nhất là các nguồn vốn đối với nhiều chủ thể kinh tế, hoạt động không hiệu quả
sẽ là rất tất yếu và có thể dẫn đến bị phá sản. Sự giao lưu và thâm nhập của các
nguồn lực từ bên ngoài vào và từ trong nước chảy ra nước ngoài sẽ được tăng lên.
càng tăng, nhất là các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tín thác đầu tư.
- Xu hướng sáp nhập các tập đoàn tài chính diễn ra mạnh hơn, cạnh tranh về
thu hút vốn chiếm lĩnh thị phần trên thị trường dịch vụ tài chính sẽ trở nên khốc liệt
hơn. Các công cụ tài chính điện tử hoá sẽ đa dạng hơn, các công cụ thanh toán
ngân hàng sẽ dần dần được thay thế. Di chuyển các nguồn vốn tài chính quốc tế sẽ
nhanh hơn và sự biến động của nó ngày càng trở nên khó dự đoán hơn.
- Sự phục hồi kinh tế của các nước khu vực sau khủng hoảng kèm theo nó là
sức cạnh tranh và tiềm lực tài chính của các định chế tài chính trung gian được
nâng cao. Mức độ tự do hoá tài chính ở các nước trong khu vực được mở rộng hơn
và cơ chế giám sát tài chính tiền tệ được kiện toàn, có tính thống nhất khu vực cao
hơn. Các đồng bản tệ ở khu vực có sức mạnh và uy tín cao hơn, phần lớn đã trở
thành các đồng tiền có khả năng chuyển đổi tự do trên các tài khoản vốn và tài
chính.
Nói tóm lại, các xu thế biến đổi về kinh tế - tài chính trong nước và ở bên
ngoài trên đây có tác động rất lớn đến quá trình đổi mới tài chính tiền tệ ở nước ta
và tự do hoá tài chính trong nước phù hợp với thể chế và luật lệ quốc tế không chỉ
là cần thiết mà còn là một xu thế khách quan trong tiến trình chuyển đổi nền kinh
tế Việt Nam theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, đó là một
quá trình tự do hoá chủ động, có sự kiểm soát của Nhà nước XHCN.
3.2. Một số quan điểm cơ bản về tự do hoá tài chính.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc tự do hoá tài chính trong
quá trình phát triển và hội nhập của đất nước, từ thực trạng đổi mới thể chế tài
chính tiền tệ trong nước theo cơ chế thị trường, việc hoạch định chiến lược về
chính sách tài chính tiền tệ trong giai đoạn tới theo hướng tự do hoá cần phải quán
triệt một số quan điểm cơ bản sau đây:
3.2.1. Tự do hoá tài chính phải tiến hành theo lộ trình, bước đi chủ động, thận
trọng và hiệu quả, góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, phục vụ tích cực cho
sự phát triển kinh tế với tốc độ cao và vững chắc.
Trong thời gian tới, một trong những định hướng chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của đất nước là phát triển kinh tế với tốc độ cao và vững chắc, coi đó là
3.2.3. Tự do hoá tài chính phải nằm trong sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của
Nhà nước bằng pháp luật và thông qua một hệ thống hành lang an toàn, nhằm bảo
đảm an ninh tài chính tiền tệ quốc gia.
Nói đến cơ chế thị trường tự do, chỉ là sự tự do một cách tương đối, không
phải là không có giới hạn, mà là một sự tự do trong một khuôn khổ luật pháp do
Nhà nước quy định. Do đó, cơ chế thị trường tự do là đề cao, tôn trọng các yếu tố
cung - cầu, nhưng vẫn có sự điều tiết của Nhà nước với mục đích đảm bảo cho các
thể chế tài chính hoạt động tự do nhưng hướng tới đảm bảo một môi trường cạnh
tranh lành mạnh, ổn định, không gây các cú sốc lớn trên thị trường, ảnh hưởng đến
sự phát triển. Tuy nhiên, tự do hoá sẽ chứa đựng nhiều rủi ro, gây mất an toàn, do
đó, cần phải có một hệ thống hành lang an toàn để cảnh báo, ngăn chặn và đối phó
kịp thời với nhiều tình huống bất lợi, có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ.
Vì thế, để bảo đảm an ninh tài chính quốc gia trong tiến trình tự do hoá tài chính
cần phải tăng cường chính sách kinh tế vĩ mô, tăng cường tính công khai và minh
bạch và phải có một hành lang an toàn để thực hiện cảnh báo và phát hiện kịp thời
mọi tình huống bất lợi.
3.3. Định hướng giải pháp chính sách tự do hoá tài chính ở Việt Nam
trong các năm tới.
Xuất phát từ chỗ coi quá trình chuyển đổi nước ta đang được thực hiện theo
hai hướng cơ bản: chuyển đổi sang cơ chế thị trường và chuyển đổi phù hợp với xu
hướng hội nhập vào khu vực và quốc tế. Trong đó, tự do hoá tài chính là một xu
hướng lớn, chi phối hoạt động của cả 2 quá trình nói trên. Dưới đây tập trung vào
một số định hướng chính sách tự do hoá tài chính, đặc biệt nhấn mạnh đến tự do
hoá khu vực dịch vụ tài chính là một trong những trọng điểm của chiến lược tài
chính đến 2010.
3.3.1. Định hướng tự do hoá lãi suất.
Hiện nay, có ý kiến cho rằng, nói đến tự do hoá lãi suất là chủ yếu đề cập đến
tự do hoá lãi suất ngân hàng (lãi suất vay và cho vay). Nếu quan niệm như vậy thì
mới chỉ hiểu ở góc độ hẹp, mà cần phải hiểu tự do hoá lãi suất ở góc độ rộng hơn,
tức nói đến tự do hoá tất cả hoặc tất cả lãi suất trên thị trường tài chính (lãi suất
cũng cần phải khống chế mức chênh lệch giá mua vào, bán ra để loại trừ các biến
động lớn và tránh gây giả tạo trên thị trường, đặc biệt là hiện tượg "bong bóng" thị
trường.
Từ lập luận trên, có thể thực hiện tự do hoá lãi suất trên thị trường chứng
khoán với các bước đi như sau:
+ Giả sử thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập từ năm 2000, thì từ
năm 2000, cần áp dụng giới hạn phần trăm (%) trần các loại phí bảo lãnh, môi giới,
tư vấn đầu tư chứng khoán và mức chênh lệch giá mua và bán trong các hoạt động
kinh doanh chứng khoán để bảo vệ các công ty chứng khoán cạnh tranh lành mạnh
và tạo môi trường ổn định cho thị trường hoạt động, với các biến động lớn. Mức
giới hạn này nên áp dụng từ 5 đến 7 năm sau khi thị trường ra đời.
+ Sau 5 đến 7 năm hoạt động, thị trường đã có môi trường phát triển, các công
ty chứng khoán đã có nhiều kinh nghiệm cạnh tranh, các nhà đầu tư đã dần gắn với
các luật chơi của thị trường thì có thể áp dụng mức giới hạn nới lỏng hơn như: quy
định trần mức phí bảo lãnh, thực hiện mức hoa hồng môi giới theo giá thoả thuận
và quy định mức tối đa tư vấn đầu tư chứng khoán. Nhưng vẫn cần phải khống chế
chặt chẽ mức chênh lệch giá mua vào và giá bán ra để đảm bảo giá cả thị trường ổn
định, khống chế các hoạt động đầu cơ, mua, bán giả tạo trong khoảng 10 năm đầu
khi thị trường ra đời và phát triển.
+ Sau năm 2010, có thể thực hiện tự do hoá nhiều loại lãi suất trên thị trường
chứng khoán để tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty
chứng khoán trong nước vơí các công ty chứng khoán nước ngoài, từng bước thực
hiện hoà đồng lãi suất (giá cả) giữa các công ty kinh doanh chứng khoán, không
phân biệt các công ty trong nước hay nước ngoài.
- Về định hướng tự do hoá lãi suất trên thị trường dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ
kiểm toán: Hiện nay đang có dấu hiệu các doanh nghiệp bảo hiểm tra nước cạnh
tranh nhau không lành mạnh thông qua việc hạ mức phí và trả hoa hồng cao cho
các khách hàng của mình. Các công ty kiểm toán trong nước thì chỉ nhận hợp đồng
kiểm toán với mức phí thấp hơn nhiều các công ty kiểm toán nước ngoài. Điều này
làm cho các công ty kiểm toán trong nước khó có điều kiện nâng cao tiềm lực tài
theo một số hướng cơ bản sau đây:
+ Từng bước mở rộng và tiến tới xoá bỏ mọi cản trở đối với khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh trong việc tiếp cận vay vốn ngân hàng; triệt để xoá bỏ mọi sự
can thiệp của chính quyền vào hoạt động của các ngân hàng để yêu cầu các tổ chức
ngân hàng cho DNNN vay theo chỉ định. Thực hiện quyền tự quyết định lãi suất
huy động và cho vay của các ngân hàng theo cơ chế thị trường trên cơ sở tính toán
hiệu quả các dự án đầu tư và thời hạn vay vốn của dự án.
+ Từng bước giảm dần và tiến tới xoá bỏ việc cấp vốn tín dụng Nhà nước với
lãi suất ưu đãi tràn lan cho nhiều dự án đầu tư của khu vực Nhà nước. Thực hiện cơ
chế tín dụng Nhà nước hỗ trợ cho các dự án đầu tư phát triển không phân biệt tính
chất sở hữu, đặc biệt là cho các dự án đầu tư phát triển SXKD, phục vụ cho xuất
khẩu. Phấn đấu nâng tổng vốn đầu tư của Nhà nước thông qua cơ chế tín dụng Nhà
nước từ 20-25% lên khoảng 60-70% vào 2010 và chuyển dần theo lãi suất thị
trường, hạn chế tối đa việc cấp và cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và sẽ có chính
sách hỗ trợ khác sau đầu tư hoặc miễn giảm thuế.
+ Đối với một số ngành như nông nghiệp, một số ngành công nghiệp mũi
nhọn có nhiều khó khăn để phát triển mạnh hoạt động xuất nhập khẩu cần phải tiếp
tục hỗ trợ tín dụng với lãi suất ưu đãi. Riêng các khoản tín dụng ưu đãi trước đây