LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XÁU CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
2.1. Tổng quan về nợ xấu ở các Ngân hàng
2.1.1. Khái niệm nợ xấu
2.1.1.1. Qui định của Việt nam
*) Quan niệm về nợ xấu của ngân hàng trước năm 2000
Trước năm 2000, hệ thống NHTM Việt Nam chưa có quy định cụ thể về nợ
xấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn, nợ khó đòi phát sinh do các nguyên nhân
khách quan hoặc chủ quan trong hoạt động tín dụng của các NHTM.
Khi đó, nợ xấu trong thời kỳ này bao gồm các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi
và việc phân loại nợ xấu được xác định theo thời gian quá hạn bao gồm: nợ quá
hạn dưới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180
ngày đến 360 ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày, trong đó các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày được gọi là nợ khó đòi. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, các tổ chức tín dụng (TCTD) chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ
hạn trả nợ bị quá hạn, không được chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn.
Việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ cụ thể được căn cứ vào nguyên nhân khách
quan hoặc chủ quan dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi không thu hồi được.
*) Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 149/2001/QĐ-TTg.
Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM, tạo
cơ sở pháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý các khoản nợ tồn đọng phát sinh
trước thời điểm 31/12/2000 của các NHTM.
Mặc dù nội dung Quyết định 149/2001/QĐ-TTg không quy định cụ thể về nợ
xấu, nhưng theo Quyết định này có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn
đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và không có khả năng trả nợ, mặc dù
ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành nhưng vẫn không thu
hồi được nợ. Trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định này, theo đề nghị của
NHNN và các NHTM, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép đưa vào trong đề án xử
lý nợ tồn đọng đối với một số khoản nợ chưa quá hạn trước thời điểm 31/12/2000
nhưng NHTM có đủ căn cứ để xác định khả năng khó thu hồi nợ.
khả năng tài chính của TCTD.
Đồng thời, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà
nước cũng quy định: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ
dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”.
Các tiêu chí để phân loại nợ xấu cụ thể như sau:
Trích Điều 6, Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
* Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày
đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 ở trên; các khoản nợ được
miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng
tín dụng; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3.
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ 2; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở
lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã
quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ khác được phân loại
vào nhóm 5.
* Phân loại nợ theo phương pháp định tính:
Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là
không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD
đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả
năng tổn thất cao.
Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh
+ Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi
hoàn ít hơn dư nợ.
*) Theo định nghĩa Nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hợp quốc
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bản
một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc
các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm
trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày
nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán
đầy đủ”.
Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên
90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn
mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới.
Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
(IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời và được
khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005. Về cơ bản IAS 39
chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa
tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của
khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng
khoản vay (khách hàng). Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết,
nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó đang được Uỷ ban
Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại.
Ví dụ ở Nhật Bản, theo báo cáo của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) tại
cùng thời điểm 2003 nếu áp dụng cách đánh giá nợ xấu theo định nghĩa về “Khoản
vay, tại Luật Tái cơ cấu tài chính” là 35,3 ngàn tỷ Yên, nhưng theo định nghĩa
“Đánh giá khoản vay” tương tự IAS 39 thì nợ xấu lên tới 90,1 ngàn tỷ Yên.
*) Theo Basel II
Tháng 6 năm 2004, ủy ban Basel đã xây dựng Hiệp định mới về “Tiêu chuẩn
vốn quốc tế” - mà chúng ta vẫn gọi là Basel II, và được chỉnh sửa liên tục trong các
thời gian tiếp theo. Theo đó, các ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu của
nội bộ để đánh giá vấn đề rủi ro tín dụng, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối
khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi…
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính
được xác xuất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình tuyến tính,
mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp.
2.1.2. Nguyên nhân hình thành nên nợ xấu
2.1.2.1. Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ xấu
tại ngân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía ngân hàng.
- Do các cú sốc về kinh tế không thể lường trước
Mỗi nền kinh tế luôn có những đặc điểm riêng của mình và chịu sự tác động của
rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên ngoài như chính trị, xã hội và các yếu tố
nội tại. Khi các yếu tố này gặp các cú sốc bất lợi như thiên tai, khủng hoảng chính
trị hay sự sụp đổ của 1 vài yếu tố kinh tế thì nên kinh tế sẽ bị tác động trực tiếp dẫn
đến khủng hoàng. Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, mặc nhiên tình hình kinh
doanh của các doanh nghiệp hay thu nhập của các hộ tiêu dùng cũng sẽ khủng
hoảng. Vì vậy, khả năng hoàn trả các món nợ đã vay ngân hàng cũng sẽ giảm sút;
dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng
- Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật
Một sự thay đổi trong pháp luật sẽ gây ra tác động không nhỏ tới hoạt động của
doanh nghiệp. Ví dụ như một sự thay đổi về sách thuế có thể tác động làm cho lợi
nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc làm thua lỗ một dự án. Bên cạnh đó, phải kể
đến đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp lý. Sự chồng chéo này không những
gây ra sự khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh mà còn gây ra sự khó
khăn cho ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ xấu.
- Các nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức khách hàng
Với việc cung cấp các báo cáo tài chính và các văn bản pháp lý của doanh nghiệp
có sự sai khác so với thực tế, vì vậy làm cho các nhận định của cán bộ tín dụng đối
với tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không chính xác. Quá trình
này bắt đầu từ giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn cho tới quá trình quản lý khoản
vay, cán bộ tín dụng sẽ không phát hiện những bất thường hay là những dấu hiệu
Quản lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý như thế nào khi đã có nợ xấu phát
sinh mà nó bao gồm quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách
quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng
ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản Nợ xấu đã phát
sinh nhằm phù hợp đối với mục tiêu trong từng giai đoạn của mỗi ngân hàng.
2.2.2. Mục tiêu của quản lý nợ xấu
Mục tiêu của quản lý nợ xấu tại mỗi ngân hàng và các thời điểm khác nhau
là khác nhau. Tuy nhiên, theo một cách chung nhất thì mục tiêu của quản lý nợ xấu
trong bất kỳ hoàn cảnh nào và đối với bất kỳ ngân hàng nào thì đó chính là việc
phải xây dựng và thực thi được một qui chế, chính sách sàng lọc khách hàng phù
hợp với từng thời kỳ sao cho phải hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro không thể thu
hồi được của các khoản cho vay mà không ảnh hưởng tới mục tiêu lợi nhuận của
ngân hàng
2.2.3. Nội dung của quản lý nợ xấu
2.2.3.1. Xây dựng chiến lược và thực thi quản lý nợ xấu
Mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một chiến lược quản lý nợ xấu phù
hợp với chiến lược kinh doanh của mình trong từng thời kì, và phải linh hoạt có thể
điều chỉnh tuỳ theo diễn biến thị trường tín dụng. Chiến lược quản lý nợ xấu cũng
phải chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng, cũng như những cơ
hội và thách thức đối với ngân hàng để phát huy tối đa tiềm lực của ngân hàng.