MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. VỊ TRÍ CỦA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TRONG NỀN KINH TẾ:
Đối với nước ta, trước mắt cũng như về lâu dài, nông nghiệp và kinh tế nông
thôn luôn là một nghành kinh tế quan trọng. Đảng và Nhà Nước ta luôn quan tâm
sâu sắc đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Sự phát triển của nông nghiệp và
nông thôn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
của Quốc Gia; xuất phát từ các đặc trưng cơ bản sau:
Về mặt kinh tế: về cơ bản nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lac hậu.
Nông nghiệp nói chung vẫn chiếm 30 – 40% tổng thu nhập quốc dân (GDP). Vì
vậy nếu không nâng cao năng suất, hiệu quả nông nghiệp, không có nền sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển ổn định thì nền kinh tế sẻ không tăng
trưởng nhanh và bền vững được.
Về mặt chính trị xã hội: Địa bàn nông thôn Việt Nam rộng lớn, trước
hết đây là nơi tập trung hơn 70% và trên 60% lực lượng lao động xã hội lấy nghề
nông nghiệp làm nguồn gốc chính. Vì vậy, phát triển mạnh mẽ nông nghiệp và
nông thôn là biện pháp hữu hiệu nhất đảm bảo việc làm, tăng thu nhập cho nông
dân, thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo.
Để thúc đẩy mở rộng sản xuất thì nhu cầu về nguồn lực cho sản xuất là rất
lớn, nguồn vốn cung ứng hiệu quả, lao động có chất lượng, quản lý tốt…. Trong
các nguồn lực đó thì nguồn lực về vốn sản xuất không phải lúc nào cũng chiếm vai
trò qua trọng nhất.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam là một ngân
hàng nằm trong hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Ngân hàng thực
hiện chức năng huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả cho phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Ngân hàng là đơn vị cung ứng nguồn lực tài chính chủ yếu cho
các hộ nông dân.
1.2 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại
càng cao. Trong số các ngân hàng đứng đầu phải kể tới ngân hàng Medici ở Italia
và ngân hàng Hochsteteck ở Đức.
Những nghiệp vụ đầu tiên mà các ngân hàng Châu Âu thực hiện là lưu giữ bảo
quản các vật có giá như tái sản bằng vàng, bạc bởi vì trong giai đoạn này dân chúng
rất lo ngại về tình trạng mất mát tài sản do an ninh hoặc do chiến tranh. Những nhà
buôn thường cảm thấy an toàn hơn khi để tài sản của họ tại ngân hàng hơn là mang
theo bên mình trong những chuyến đi biển. Ở Anh thời kì vua Henry III và Charles
I chính phủ thực hiện chính sách tịch thu các tài sản bằng vàng, bạc và kết quả là
công chúng tiến hành gửi tài sản của họ tại các cửa hàng thợ vàng và được chứng
nhận bằng các chứng chỉ của cửa hàng. Sau đó, các chứng chỉ này được lưu thông
như tiền bởi vì sử dụng chứng chỉ trong thực tế thuận tiện hơn và ít rủi ro hơn việc
sử dụng vàng trực tiếp. Khách hàng thường mang tài sản bằng vàng bạc, đồ trang
sức tới các chuyên gia để xác nhận giá trị của nó, chứng minh nó không phải là đồ
giả - một nghiệp vụ mà ngày nay các ngân hàng vẫn thực hiện. Khi các thuộc địa
được thiết lập ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, hoạt động ngân hàng ở Châu Âu được
chuyển sang Châu Mỹ. Đầu tiên những người đi giao dịch chủ yếu với các ngân
hàng có trụ sở chính tại nước của họ. Sang thế kỷ 19, chính quyền bang ở Hoa kỳ
bắt đầu cho phép thành lập các công ty ngân hàng. Rất nhiều các công ty như vậy
ban đầu chỉ là một bộ phận của các doanh nghiệp thương mại mà trong đó dịch vụ
ngân hàng hoàn toàn là thứ yếu so với dịch vụ bán hàng. Sự phát triển của tổ chức
ngân hàng lớn chuyên nghiệp tập trung ở một và trung tâm thương mại hàng đầu,
đặc biệt là NewYork đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp phát triển một cách
nhanh chóng. (nguồn từ internet)
Khi nghiên cứu về ngân hàng thương mại, các nhà kinh tế học đều thống nhất
với nhau về vị trí, chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế. Nhưng
khi định nghĩa thế nào là ngân hàng thương mại thì họ lại không thống nhất. Ở Mỹ
nếu đứng trên quản lý pháp luật “Ngân hàng được định nghĩa như một công ty là
thành viên của công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang”, còn đứng trên giác độ chức
năng hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thì “ngân hàng thương mại là loại
hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ đa dạng nhất -đặc biệt là
Vai trò đại lý: Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát
hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thường được thực hiện tại phòng ủy thác)
Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ
góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội khác.
Vai trò góp phần mở rộng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, dịch chuyển cơ
cấu kinh tế.
1.2.3 Các hoạt động cơ bản của một ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Hoạt động tạo lập vốn
Muốn thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình trước tiên các ngân hàng
phải có vốn. Nguồn vốn của ngân hàng rất đa dạng và phong phú có thể kể ra một
số nguồn như sau:
Nguồn tiền gửi: Bao gồm tiền gửi thanh toán (tiết kiệm không kỳ hạn), tiền
gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm được chia thành thiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn. Đây là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng
theo đúng nghĩa của nó. Trong các loại tiền gửi thì tiền gửi thanh toán là nguồn vốn
có chi phí thấp hơn cả, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn càng dài thì chi phí càng cao,
tuy nhiên đây là nguồn vốn ổn định cần thiết để ngân hàng có thể mở rộng cho vay
trung và dài hạn .
Nguồn vốn đi vay: Có người cho rằng NHTM là một tổ chức “đi vay để cho
vay”, điều này rõ ràng không phản ánh chính xác nguồn gốc ra đời cũng như bản
chất hoạt động của NHTM. Ngân hàng chỉ đi vay khi có những tình huống phát
sinh đặc biệt như để đảm bảo khả năng thanh toán, để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc
theo quy định, để đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng. Tuy nhiên, không thể phủ
nhận đây là nguồn vốn rất quan trọng của ngân hàng. Tùy vào trường hợp cụ thể
mà NHTM có thể vay của ngân NHTƯ, vay tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
hay vay của dân cư, của tổ chức kinh tế thông qua việc phát hành kỳ phiếu hoặc trái
phiếu.
Vốn tự có và quỹ của ngân hàng: Chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
song đây lại là bộ phận hết sức quan trọng. Nó là cơ sở để khởi động các hoạt động
của ngân hàng, đồng thời là tấm đệm giúp ngân hàng tránh khỏi nguy cơ khủng
dạng hóa nghiệp vụ kinh doanh. Hơn nữa, các chứng khoán có độ an toàn và tính
lỏng cao cũng sẽ giúp đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng được tốt hơn.
1.2.4 CÁC KHÁI NIÊM CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG:
Để hiểu rõ hơn nhưng phần tích trong chuyên đề, ta đi vào làm rõ một số
khái niệm có cơ bản sau:
- Tín Dụng ngân hàng: Khó có thể đưa ra được một định nghĩa rõ ràng về
tín dụng. Vì vậy, tùy thuộc theo mức độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội
dung thuật ngữ này.
Tín dụng(Credit) xuất phát từ chỗ Latin là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,
trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu
như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân doanh nghiệp và
các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền), cho thuê (bất động sản và động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc có hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẻ hoàn trả
đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác là người vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc (lãi được xem là giá phải trả
cho việc sử dụng lượng giá trị mà bên đi vay được chuyển giao sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định).
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện khi đến hạn thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng, khế ước vay tiền.
lưu động cho các thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất,
công lao động… liên quan đến quá trình sản xuất nông nghiệp.
- Cho vay tiêu dùng: là lọai cho vay để đáp ứng các nhu cầu mua sắm, tiêu
dùng và cho vay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trạm xá, điện, nước sạch, trường
học, giao thông nông thôn… phục vụ sản xuất, sinh hoạt trong một khu vực, cụm
dân cư.
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cho vay các ngân hàng thương
mại, công ty tài chính, quỷ tín dụng và các định chế tài chính khác.
*) Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm.
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
*) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm nơi khách hàng:
- Cho vay bảo đảm bàng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản
bảo đảm thế chấp, cầm cố bằng tài sản của khách hàng; bảo lảnh thế chấp, cầm cố
tài sản của bên thứ ba; cho vay bảo đảm hình thành từ nguồn vốn vay.
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: do các tổ chức tín dụng chủ
động lựa chọn trên cơ sở các phương án vay vốn hiệu quả, khả thi và độ tín nhiệm,
uy tín trong qua hệ tín dụng của khách hàng; tổ chức tín dụng nhà nước cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của chính phủ; cho vay cá nhân, hộ
gia đình nghèo có bảo lảnh tín chấp của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội.
*) Căn cứ vào khả năng hoàn trả:
- Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thảo thuận hay các kỳ hạn trả nợ
cụ thể trên hợp đồng tín dụng.
- Cho vay không kỳ hạn: Ngân hàng có thể yêu cầu người vay vốn trả nợ
bất kỳ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, đã thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng.
*) Căn cứ và xuất xứ của tín dụng: