CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA NHTM - Pdf 63

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA NHTM
1.1 Khái quát về NHTM.
1.1.1: Lịch sử ra đời của NHTM
NHTM là một trong năm loại hình ngân hàng trung gian mà các nhà nghiên
cứu đã tổng kết được, đó là: NHTM, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng đầu tư,
Ngân hàng phát triển, các tổ chức tín dụng và hợp tác. Và đây cũng là loại hình
chiếm lĩnh một vị trí đặc biệt trong nền kinh tế. Tuy ở mỗi quốc gia có các quan
điểm khác nhau về khái niệm NHTM nhưng nhìn chung họ đều thống nhất với
nhau: NHTM là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua
việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Theo quan điểm của các nhà
ngân hàng nước ta về NHTM được ghi trong luật các tổ chức tín dụng ban hành
tháng 5 năm 1990 như sau: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán .”
Theo các nhà nghiên cứu thì mầm mống sơ khai của ngân hàng có từ thời
trung cổ mà tiền thân của nó là những hiệu kim hoàn. Thời đó những người giầu
thường mang tiền bạc tới những tiệm kim hoàn và gửi ở đó để đảm bảo an toàn cho
tài sản của họ. Họ sẽ được nhận một chứng thư xác nhận quyền sở hữu về những
tài sản đi gửi nhưng đổi lại họ phải trả một mức phí cho hiệu kim hoàn đó. Lúc
đầu, những ông chủ đúc vàng dự trữ 100% để chi trả cho khách hàng. Sau một thời
gian dài họ nhận thấy rằng luôn luôn có một lượng tiền vàng tồn ở trong kho họ
giữ vì bên cạnh những người rút tiền thì cũng có những người khác đem tiền vào
gửi. Mặt khác, không phải ai cũng có tiền nhàn rỗi để gửi vào mà có rất nhiều
người đang cần vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Từ đó, các chủ hiệu kim
hoàn nghĩ ra một kiểu kinh doanh mới là chỉ giữ lại một số lượng nhất định để đáp
ứng yêu cầu rút tiền của khách hàng, phần còn lại họ sẽ cho người cần vốn vay.
Dần dần thì hoạt động cho vay ngày càng phát triển, vì vậy thay vì thu phí giữ tiền,
họ lại trả cho những người gửi một số tiền nhất định nào đó. Hoạt động này ngày
càng phát triển và được coi là nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng, và các tiệm

theo sắc lệnh 15 ngày 6/5/1951 của chủ tịch nước. Mặc dù được ra đời muộn hơn
rất nhều so với sự ra đời của các ngân hàng trên thế giới nhưng mô hình tổ chức
của nó thì vẫn theo mô hình cũ, lạc hậu, đó là mô hình ngân hàng một cấp. Chỉ đến
khi nền kinh tế nước ta được xác định là nền kinh tế thị trường theo định hướng
chủ nghĩa xã hội thì mô hình tổ chức của ngân hàng mới được thay đổi. Sự thay đổi
đó được đánh dấu ở Nghị định 53 ra ngày 26/3/1988, theo đó hệ thống Ngân hàng
Việt Nam là hệ thống ngân hàng hai cấp: Cấp NHTW đảm nhiệm chức năng độc
quyền phát hành tiền; quản lý nhà nước về tiền tệ và tín dụng; và là cơ quan quản
lý dự trữ ngoại hối của nhà nước. Cấp thứ hai là các NHTM trực thuộc NHTW có
chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng trực tiếp
đối với nền kinh tế. Pháp lệnh NHNN 5/1990 đã đánh dấu một bước ngoặt quan
trọng trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Từ đây hệ thống NHTM
Việt Nam bước sang một trang sử mới.
1.1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1 NHTM là nơi thu hút tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế, không chỉ có riêng ngân hàng làm nhiệm vụ thu hút
lượng tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu vốn, nhưng NHTM vẫn
là tổ chức thực hiện công việc này hiệu quả nhất. Và đây được coi là chức năng cơ
bản nhất của ngân hàng, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng
khác. Khi thực hiện các chức năng làm trung gian tín dụng NHTM giống như chiếc
cầu để nối giữa những người có vốn mà chưa có ý tưởng kinh doanh và những
người có ý tưởng kinh doanh nhưng chưa có vốn. Hay nói cụ thể hơn là ngân hàng
“đi vay ” để “cho vay”. Ngân hàng thực được việc này dựa trên cơ sở ngân hàng là
một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ và tín dụng, có khả năng nhận biết khả
năng cung và cầu vốn trên thị trường, và đặc biệt là có uy tín khá cao. Dựa vào uy
tín của ngân hàng mà những người có tiền đem vào đó để gửi, họ vừa đạt được
mục đích là đảm bảo an toàn cho tài sản của mình mà lại vừa có thu nhập. Trên cơ
sở đó ngân hàng đã tập hợp được khối tiền nhàn rỗi và cho những người cần vốn
vay. Như vậy NHTM đã giúp góp phần tạo được lợi ích cho tất cả các bên. Đối với
người vay tiền sẽ thoả mãn được vốn để kinh doanh một cách nhanh nhất, chi phí

trong quá trình kinh doanh. Không chỉ các doanh nghiệp có lợi mà qua đó các chi
nhánh NHTM hoạt động ở nước ngoài vừa thu được phí tư vấn và vừa nâng cao
được uy tín. Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò này sẽ được đề cao hơn nữa.
1.1.2.3 Vai trò trung gian thanh toán .
Vai trò này thực hiện được thì phải dựa trên cơ sở là Ngân hàng làm thủ quỹ
cho xã hội. Theo đó thì các NHTM mở tài khoản tiền gửi, thực hiện quản lý tài
khoản và tiến hành thu, chi theo lệnh của khách hàng. Nếu càng có nhiều đơn vị, cá
nhân mở tài khoản ở ngân hàng thì việc thu chi sẽ càng được thực hiện nhiều ngay
trên tài khoản và lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ giảm. Việc giảm lượng tiền mặt
trong lưu thông đem lại lợi ích cho nhà nước mà người dân cũng được hưởng ích
lợi đó. Mặt khác khi việc thanh toán qua ngân hàng tăng lên sẽ làm cho tốc độ luân
chuyển vốn và hàng hoá tăng lên; vốn nhàn rỗi sẽ được tập trung nhiều hơn ở ngân
hàng để đầu tư cho nền kinh tế; tăng cường được sự quản lý của nhà nước đối với
các chủ thể kinh tế ... Phương thức TTKDTM ra đời không chỉ khắc phục được
nhược điểm của phương thức thanh toán bằng tiền mặt mà còn có ý nghĩa to lớn
khác. Chính vì thế mà phương thức thanh toán qua ngân hàng là xu hướng phổ biến
hiện nay. Nó cũng được coi là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội,
văn minh của đất nước. Người ta thấy rằng càng ở những nước có nền kinh tế phát
triển thì tỷ trọng TTKDTM càng lớn
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yéu của NHTM.
1.1.3.1 Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ và vốn.
Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng. Từ sau cuộc
suy thoái kinh tế thế giới 1929-1930, phần lớn các NHTM trên thế giới đều chú
trọng đến việc quản lý tài sản Có. Tuy nhiên, tới năm 1960 người ta đã giành sự
quan tâm đến việc quản lý tài sản Nợ. Người ta nghiên cứu và chia bên tài sản Nợ
thành 3 nghiệp vụ như sau:
* Nghiệp vụ tiền gửi :
 Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn hay còn được gọi là tiền gửi thanh toán mà đặc tính
của nó là khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào. Đối với loại tiền gửi này mục đích

ưu đãi cho loại hình tiền gửi này là ngoài việc được hưởng lãi, khách hàng còn
được hỗ trợ thêm tiền nếu có nhu cầu.
Xét trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì bộ phận tiền gửi chiếm một tỷ
trọng lớn. Bộ phận này có ý nghĩa rất quan trọng vì ngoài ưu thế là chi phí rẻ và
nguồn vốn tương đối ổn định thì tỉ trọng của nó còn thể hiện uy tín của ngân hàng.
Tất cả các ngân hàng đều quan tâm đến phát triển nghiệp vụ này.
*Nghiệp vụ đi vay

Phát hành GTCG
Để thu hút được tối đa nguồn vốn từ hình thức này các ngân hàng thường
đưa ra nhiều loại hình đó là: phát hành theo mệnh giá; phát hành theo hình thức
chiết khấu. Trong từng loại ngân hàng còn chia nhỏ ra theo kỳ hạn trả lãi khác
nhau để phù hợp với mọi đối tượng khách hàng
Cùng với nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ này cũng thuộc nghiệp vụ huy động
vốn của ngân hàng. Khi áp dụng hình thức phát hành GTCG để huy động vốn thì
ngân hàng sẽ có ba điểm thuận lợi. Thứ nhất là ngân hàng không phải duy trì
DTBB nếu chỉ phát hành GTCG có thời hạn dưới một năm. Thứ hai là ngân hàng
sẽ chủ động về khối lượng vốn huy động hơn là nhận tiền gửi. Thứ ba là khi phát
hành GTCG ngân hàng đã ấn định thời gian đáo hạn của nó cho nên ngân hàng
cũng giữ vị thế là người chủ động về thời gian huy động. Thông thường việc phát
hành GTCG là để phục vụ một mục đích đặt ra trước đó của ngân hàng. Nhận thấy
các ưu điểm trên nên càng ngày các ngân hàng càng chú trọng đến nghiệp vụ huy
động vốn loại này.
Vay từ NHTW
Đây là nguồn vốn thường xuyên nhưng hết sức cần thiết đối với các
NHTM. Nguồn vốn này đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM khi không
vay được từ các nguồn khác, đôi khi nó là phao cứu hộ khi các NHTM đang ở bên
bờ vực sụp đổ. Thông qua các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các GTCG, cho
vay lại theo hồ sơ tín dụng, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các
GTCG ngắn hạn khác ... NHTW thực hiện tái cấp vốn đối với các NHTM. Đây là

VTC của ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng nhưng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước hết nó quyết định đến sự
ra đời của một ngân hàng, tiếp nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động của ngân
hàng, là tiếng nói góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trong quá trình thu hút
tiền gửi, cung cấp tiền vay cũng như các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản Có
Nếu nghiệp vụ tài sản Nợ tạo nguồn vốn cho ngân hàng thì nghiệp vụ tài
sản Có là cách thức mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình. Để tạo được
nguồn vốn đã là khó nhưng phải sử dụng và quản lý nó làm sao có hiệu quả thì
càng khó hơn. Các nhà ngân hàng đã xác định được nghiệp vụ tài sản Có bao gồm
các nghiệp vụ cơ bản sau:
a Nghiệp vụ ngân quỹ
Đây chính là khoản dự trữ của ngân hàng để vừa đáp ứng nhu cầu thanh
khoản, tín dụng của ngân hàng và vừa đảm bảo được hoạt động kinh doanh tiền tệ
có hiệu quả. Nghiệp vụ này bao gồm các loại sau:
Tiền mặt tại quỹ: gồm tiền giấy và tiền làm loại được quản lý tại ngân
hàng lượng tiền mặt nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng
và thời gian kinh doanh. Loại này không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng
các ngân hàng bắt buộc phải duy trì vì nó đảm bảo nhu câu rút tiền, nhu cầu tín
dụng của khách hàng. Nếu tiền tồn quý không hợp lý sẽ mang lại tai hại cho ngân
hàng hoặc là không đáp ứng được khả năng thanh khoản, hoặc là dự trữ dư thừa sẽ
mất đi khả năng sinh lời của đồng tiền. Vì vậy, các ngân hàng phải xác định để
mức độ duy trì tiền mặt tồn quỹ là hợp lý.
Tiền gửi tại các ngân hàng khác.
Mục đích của hoạt động này là duy trì hoạt động thanh toán giữa các ngân
hàng, giao dịch ngoại tệ, mua bán chứng khoán. Ngoài ra thì ngân hàng gửi còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status