THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH TẠI VIỆT NAM - Pdf 73

THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VIỆC
ĐIỀU CHỈNH TẠI VIỆT NAM
2.1. Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
2.1.1. Cơ sở pháp lý của việc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam
Vấn đề thiết lập cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam mới được chính
thức đưa ra vào năm 1990 kể từ khi có Pháp lệnh Ngân hàng. Ngày 16/11/1999,
chính phủ đã ban hành Nghị định số 164/1999/NĐ-CP về quản lý cán cân thanh
toán quốc tế của Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng của bảng cán cân thanh toán.
Nghị định này qui định về việc lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán quốc
tế của Việt Nam. Nó cũng chính là cơ sở pháp lý trong việc phối hợp chặt chẽ giữa
các Bộ, Ngành liên quan đến việc cung cấp số liệu. Trên cơ sở Nghị định
164/1999/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ra Thông tư
05/2000/TT-NHNN ngày 28/3/2000 hướng dẫn thi hành một số điểm về lập cán
cân thanh toán quốc tế. Đồng thời, NHNN cũng ban hành các mẫu biểu báo cáo
cho các Bộ, các Ngành có liên quan nhằm thu thập được các thông tin theo đúng
yêu cầu của lập cán cân thanh toán.
2.1.2. Cơ cấu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Theo Nghị định 164, cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam hiện hành
được biên lập theo mẫu của IMF nhưng có điều chỉnh một số mục cho phù hợp với
thực tiễn Việt Nam. Cụ thể, cán cân thanh toán của Việt Nam bao gồm các hạng
mục chính sau:
 Cán cân vãng lai:
Cán cân vãng lai là tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa
người cư trú và người không cư trú về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của người
lao động, thu nhập từ đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu nhập từ đầu tư vào giấy tờ
có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nước ngoài, chuyển giao vãng lai một chiều và các
giao dịch khác theo quy định của pháp luật.
 Cán cân vốn và tài chính:
Cán cân vốn và tài chính là tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế
giữa người cư trú với người không cư trú về vốn từ nước ngoài vào Việt Nam và
chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài thuộc lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào

2.1.4. Trách nhiệm của các Bộ, Ngành trong việc biên lập cán cân thanh toán
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước là người chủ trì, là người lập cán cân
thanh toán quốc tế vì nó là cơ quan quản lý các Ngân hàng Thương mại, đóng vai
trò quan trọng trong việc thực thi chính sách ngoại hối nên có thể tiếp cận tốt nhất
các nguồn số liệu liên quan đến cán cân thanh toán. Điều này đã được ghi rõ trong
Pháp lệnh Ngân hàng và Nghị định 164/1999/NĐ-CP. Ngoài ra, trong Nghị định
164 đã qui định rất rõ trách nhiệm của các Bộ và các Ngành trong việc cung cấp
các thông tin, số liệu dự báo và số liệu thực tế về các giao dịch kinh tế giữa người
cư trú và người không cư trú và những số liệu có liên quan khác cho NHNN.Trách
nhiệm của các Bộ, các Ngành liên quan đã được NHNN cụ thể hoá thông qua trách
nhiệm cung cấp thông tin, số liệu theo các mẫu biểu quy định trong Thông tư
hướng dẫn 05/2000/TT-NHNN.
Cán cân thanh toán quốc tế có liên quan đến hoạt động kinh tế - tài chính của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nếu thiếu sự quan tâm hoặc phân tích không chuẩn
xác sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Do vậy,
theo dõi và phân tích cán cân thanh toán để từ đó đề xuất các chính sách, biện pháp
điều chỉnh là công việc thường xuyên, cần thiết và rất quan trọng. Theo Nghị định
164, việc lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam được
giao cho NHNN Việt Nam chủ trì phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
Tài chính, Bộ Thương mại, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan.
2.1.5. Tình hình thu thập số liệu cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam
Năm 1990, Việt Nam chính thức bắt đầu thiết lập cán cân thanh toán quốc tế.
Tuy nhiên, Việt Nam đã gặp phải một số khó khăn do sự chuyển đổi nền kinh tế từ
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Hầu hết các số liệu thu thập
trong thời kỳ kế hoạch hoá không phù hợp với mục đích của lập cán cân thanh
toán. Thực tế yêu cầu các nguồn số liệu phải theo tiêu chuẩn quốc tế như Thống kê
thương mại quốc tế (ITS), Hệ thống báo cáo giao dịch quốc tế, Bản điều tra doanh
nghiệp, thu nhập từ các hộ gia đình. Chính vì vậy, Việt Nam đã gặp không ít khó
khăn trong việc thu thập số liệu một cách đầy đủ.
Từ năm 1993 đến nay, NHNN Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong việc

2.2.1. Cán cân vãng lai
Từ năm 1990 trở lại đây, Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính vì vậy, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam ngày càng mở rộng và các
giao dịch kinh tế quốc tế đã tăng lên một cách nhanh chóng. Tuy cán cân vãng lai
của Việt Nam luôn bị thiếu hụt trong nhiều năm liền nhưng hiện nay mức thâm hụt
của nó có thể tài trợ được và đang có xu hướng được cải thiện.
Bảng 3: Tài khoản vãng lai của Việt Nam tính theo % GDP
(% GDP)
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
-3,17 -1,49 -0,08 -10,6 -7,34 -8,99 -9,92 -5,93 -3,84 4,53 2,96 1,56
Nguồn: rút ra từ phụ lục 1
Bảng 3 cho thấy rằng, từ năm 1990 thiếu hụt cán cân vãng lai của Việt Nam
(tính theo % GDP) giảm mạnh và đến năm 1992 thì gần như là cân bằng. Điều đó
là do nguồn tài trợ truyền thống từ Hội đồng hỗ trợ kinh tế chung (CMEA), đặc
biệt là từ Liên Xô cũ đã cạn kiệt. Từ năm 1993, Việt Nam nhận được các nguồn tài
trợ từ nhiều nước khác, kết quả là thiếu hụt cán cân vãng lai tăng vọt lên chiếm tới
10,6 % GDP. Ba năm tiếp theo thiếu hụt cán cân vãng lai dao động trong khoảng từ
7- 10 % GDP. Sở dĩ giai đoạn này có sự thâm hụt cán cân vãng lai lớn như vậy là
do đây là thời kỳ luồng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào Việt Nam tăng trưởng rất
nhanh, các chi tiêu của FDI vào nhập khẩu máy móc thiết bị cũng không ngừng
tăng lên. Trong những năm 1997-1998, thâm hụt cán cân vãng lai thu hẹp và trở
nên thặng dư vào năm 1999. Lý do là chính phủ đã nỗ lực kiểm soát hàng nhập
khẩu. Thêm nữa, khủng hoảng khu vực (và sự yếu kém về cơ cấu của nền kinh tế
Việt Nam) đã ảnh hưởng tiêu cực lên nguồn thu FDI của Việt Nam, cả số dự án
mới lẫn số chi tiêu của những dự án được cấp phép hoạt động đã giảm mạnh sau
năm 1998. Do đó, thiết bị và máy móc nhập khẩu có liên quan tới FDI cũng giảm.
Trong năm 1999, việc khôi phục các nền kinh tế khu vực dẫn đến việc tăng nhu
cầu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Cũng trong năm 1999, lần đầu tiên, với tỷ lệ
tăng trưởng của hàng nhập khẩu thấp, cán cân vãng lai đã chuyển sang trạng thái

-0,61
21,2
20,4
-1177
2985
4162
-8,94
20,6
64,2
-1190
4054
5244
-7,3
35,8
26,0
-2345
5198
7543
-11,24
28,2
43,8
1996 1997 1998 1999 2000 2001
Cán cân thương mại
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Cán cân thương mại/GDP (%)
Tốc độ tăng xuất khẩu (%)
Tốc độ tăng nhập khẩu (%)
-3143
7337

14919
1,14
6,9
9,1
Nguồn: rút ra từ phụ lục 1
Nhìn vào bảng 4, ta thấy rằng trong suốt những năm 1990-1992 thâm hụt
cán cân thương mại khá khiêm tốn, trung bình ở mức 50 triệu USD mỗi năm. Hàng
xuất khẩu thích ứng một cách nhanh chóng và tích cực theo những cải cách cơ chế
thị trường dẫn đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng trung bình 23,4% mỗi năm.
Con số này cao hơn rất nhiều mức tăng trưởng nhập khẩu hàng năm là 15,1% (do
giảm ở một số hàng hoá nhập khẩu chính như xi măng và phân bón từ Liên Xô cũ).
Kể từ năm 1993, thâm hụt thương mại đã tăng lên nhanh chóng do tốc độ
tăng hàng nhập khẩu tăng đột ngột lên tới 64,2% gấp hơn ba lần so với tốc độ tăng
xuất khẩu (20,6%). Thâm hụt thương mại đã lên tới mức báo động vào năm 1996
(chiếm 12,82% GDP). Tuy nhiên mức thâm hụt thương mại thấp hơn rất nhiều
trong hai năm 1997-1998 do chính phủ đã thực hiện một số biện pháp để làm giảm
nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu vào cuối năm 1996. Các biện pháp chính được áp
dụng bao gồm: nâng cao tiền đặt cọc khi mở L/C đối với nhập khẩu hàng tiêu
dùng; cấm tạm thời đối với nhập khẩu một số hàng hoá; yêu cầu giấy phép nhập
khẩu của các xí nghiệp liên doanh; thực hiện thay thế nhập khẩu đối với một số sản
phẩm như xi măng và giấy bằng cách đánh thuế cao đối với các sản phẩm nhập
khẩu cùng loại (sử dụng hàng rào thuế quan). Như vậy là trong giai đoạn 1997-
1998, mặc dù thiếu hụt thương mại giảm nhưng nó không phải kết quả của tăng
xuất khẩu mà là giảm nhập khẩu.
Trong năm 1999, lần đầu tiên sau một thập kỷ luôn thâm hụt, cán cân thương
mại đã trở nên thặng dư do tăng trưởng xuất khẩu tăng liên tục (23,2%) trong khi
tỷ lệ tăng nhập khẩu vẫn giữ ở mức thấp (1,1%). Nhưng từ năm 2000 đến nay, mức
độ thặng dư thương mại đã giảm dần, cán cân thương mại có xu hướng xấu đi. Lý
do chủ yếu là hàng nhập khẩu được phục hồi rất mạnh mẽ, đó là nhờ một số nới
lỏng trong việc kiểm soát nhập khẩu (chẳng hạn như giảm thuế nhập khẩu một số

1998 9360,3 1,9 11499,6 -0,8 -2139,3
1999 11541,4 23,3 11742,1 2,1 -200,7
2000 14483,0 25,5 15636,5 33,2 -1153,5
2001 15029,0 3,8 16218,0 3,7 -1189,0
2002 16530,0 10 19300,0 19 -2770,0
2003 19880,0 20,3 24990,0 29,5 -5110,0
Ghi chú: Số liệu 1990-1993: đơn vị là triệu Rup-USD
Số liệu 1994-2003: đơn vị là triệu USD
Nguồn: Số liệu 1990-2001 (Niên giám thống kê 2002 – Tổng cục thống kê)
Số liệu 2002-2003 (Các thông số kinh tế vĩ mô của Việt Nam 2002, 2003)
Mặc dù theo số liệu thống kê của Tổng cục thông kê thì từ năm 1999 chưa
có năm nào cán cân thương mại của Việt Nam thặng dư song xu hướng xấu đi hay
tốt lên của cán cân thương mại cũng tương đương như số liệu của IMF. Từ năm
1990-1992, thâm hụt thương mại là nhỏ nhưng đến năm 1993 thì tăng vọt lên và
tiếp tục tăng ở các năm tiếp theo. Thâm hụt thương mại đã tăng đến mức báo động
vào năm 1996. Từ năm 1997 thì thâm hụt thương mại bắt đầu giảm mạnh, đạt mức
thấp nhất vào năm 1999 với mức thâm hụt là 200,7 triệu USD. Từ năm 2000 đến
nay thì tình hình cán cân thương mại có xu hướng xấu đi, mức thâm hụt thương
mại ngày càng tăng lên do nhập khẩu không ngừng tăng lên.
Để có thể đánh giá cụ thể hơn về tình hình xuất khẩu của Việt Nam chúng ta
sẽ phân tích sâu về thành phần xuất nhập khẩu chủ yếu và những thị trường xuất
nhập khẩu chính của Việt Nam trong những năm qua.
 Thành phần xuất khẩu (xem bảng 6)
Thành phần của hàng xuất khẩu đã có những thay đổi khá ý nghĩa. Trong
những năm 1991-1993, những mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
giá trị xuất khẩu là dầu thô, thuỷ sản và nông sản. Từ năm 1994 đến nay, tuy dầu
thô và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhưng hai mặt hàng dệt may và giày dép đã
có những bước tiến ngoạn mục vượt mặt hàng gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu
chủ lực.
Từ năm 1991 đến nay, dầu thô luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status