Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành
phần:
Lực lượng doanh nghiệp Nhà nước hàng năm đóng góp khoảng 40% trong
cơ cấu GDP của nước ta, chiếm giữ khoảng 70% vốn và tài sản cố định của nền
kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước đang là lực lượng chủ yếu trong sản xuất công
nghiệp, trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng, tín dụng. Nhìn chung lực lượng doanh nghiệp Nhà nước đang là lực lượng
then chốt trong các ngành kinh tế quan trọng của đất nước, cá biệt có một số ngành
có vị trí độc quyền kinh doanh. Từ năm 1995 hàng năm doanh nghiệp Nhà nước
đóng góp từ 26 - 28% nguồn thu thuế trong nước, nếu tính cả các khoản thu thuế
và phí được thu thông qua doanh nghiệp Nhà nước thì đóng góp khoảng 60% các
nguồn thu thuế và phí của ngân sách Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước đang sử
dụng khoảng 15% lực lượng lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp. Mức
tăng trưởng hàng năm của doanh nghiệp Nhà nước xấp xỉ mức tăng trưởng chung
của nền kinh tế cũng xấp xỉ ngoài quốc doanh trong nước. Tóm lại, nếu chỉ xét về
quy mô, tài sản sự đóng góp vào GDP và tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế,
nguồn thu ngân sách Nhà nước thì doanh nghiệp Nhà nước vẫn có vị trí quan trọng
đối với nền kinh tế nước ta.
IV- Địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước
1- Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động có công ích, nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ
dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn
do doanh nghiệp quản lý.
Doanh nghiệp Nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên
lãnh thổ Việt Nam. Định nghĩa trên cho thế doanh nghiệp Nhà nước có những đặc
điểm cơ bản sau đây:
Một là, doanh nghiệp Nhà nước có tổ chức kinh tế được Nhà nước thành lập
để thực hiện những mục tiêu do Nhà nước giao.
hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Pháp luật còn quy định tiêu chuẩn để xếp hạng doanh nghiệp Nhà nước.
Theo quyết định số 185/TTg ngày 28/3/1996, doanh nghiệp Nhà nước được xếp
hạng đặc biệt, bao gồm:
- Các Tổng Công ty 91
- Các Tổng Công ty 90 có vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng trở lên.
- Các doanh nghiệp Nhà nước độc lập có các điều kiện sau đây: giữ vai trò
trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Có vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng trở lên, chức
danh Tổng giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm (Hiện nay có 24 doanh
nghiệp Nhà nước được công nhận là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt bao
gồm: 18 Tổng Công ty 91. Liên hiệp đường sắt, 4 ngân hàng thương mại quốc
doanh và Công ty thương mại dịch vụ Sài Gòn).
3- Quy chế pháp lý về thành lập và tổ chức doanh nghiệp Nhà nước
a- Thành lập:
Khác với thủ tục thành lập theo luật doanh nghiệp, việc thành lập doanh
nghiệp Nhà nước phải theo trình tự sau:
* Thứ nhất đề nghị và quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà nước.
Người đề nghị thành lập doanh nghiệp Nhà nước, theo quyết định cố 50/CP
ngày 26/8/1996 của Chính phủ bao gồm: Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh, Hội đồng quản trị
của Tổng Công ty Nhà nước là người đề nghị thành lập doanh nghiệp theo quy
định phát triển của ngành, địa phương hoặc tổng Công ty mình. Chủ tịch UBND
cấp huyện là người đề nghị thành lập doanh nghiệp công ích hoạt động trên địa bàn
cấp huyện. Người đề nghị thành lập doanh nghiệp Nhà nước không thể đồng thời
là người quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà nước.
Người đề nghị thành lập doanh nghiệp Nhà nước phải lập hồ sơ gửi đến
người có thẩm quyền quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà nước bao gồm:
- Tờ trình đề nghị thành lập doanh nghiệp
- Đề án thành lập doanh nghiệp
- Mức vốn điều lệ và ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính về nguồn và
nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng báo hàng ngày của Trung ương
và địa phương trong 3 số liên tiếp về những nội dung chính sau:
- Tên, trụ sở chính của doanh nghiệp, Họ và tên của chủ tịch các thành
viên hội đồng quản trị (nếu có), tổng giám đốc hoặc giám đốc.
- Tên cơ quan ra quyết định thành lập và ngày ra quyết định thành lập doanh
nghiệp. Ngày và số đăng ký kinh doanh
- Mức vốn điều lệ
- Số tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, số ĐT Telex, Fax.
- Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh hoặc hoạt động
- Thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh và thời hạn hoạt động
b Tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nước
Trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nhà nước do, nhiều
nguyên nhân khác nhau, một số doanh nghiệp đã tỏ ra hoạt động kém hiêu quả,
thậm chí thua lỗ kéo dài, không còn thể hiện được vai trò chỉ đạo trong nền kinh tế
quốc dân, trước tình hình đó, cùng với quy chế về thành lập doanh nghiệp Nhà
nước, pháp luật đã quy định các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nước
nhằm đảm bảo vai trò của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước trong sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân. Theo tinh thần của pháp luật hiện hành việc tổ chức lại
doanh nghiệp Nhà nước bao gồm các biện pháp sau:
- Sáp nhận doanh nghiệp Nhà nước
- Chia tách doanh nghiệp Nhà nước
- Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
- Giao bán, khoán kinh doanh cho thuê doanh nghiệp Nhà nước
Sáp nhập doanh nghiệp Nhà nước vào một doanh nghiệp Nhà nước khác áp
dụng trong trường hợp trên cùng một địa bàn có nhiều doanh nghiệp cùng loại mà
thực tế nhu cầu của thị trường không cần thiết nhiều doanh nghiệp như vậy, trong
trường hợp đó thì sáp nhập những doanh nghiệp yếu kém vào những doanh nghiệp
cùng loại, Việc sáp nhập doanh nghiệp do người có thẩm quyền thành lập doanh
nghiệp quyết định. Sau khi sáp nhập, các doanh nghiệp bị sáp nhập phải xoá tên
còn doanh nghiệp tiếp nhận sáp nhập giữ nguyên tư cách pháp nhân nhưng phaỉ