CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG CỦA DỰ ÁN PHÁT TRIỂN
NUÔI TÔM SÚ Ở XÃ ĐÔNG HẢI – TIỀN HẢI – THÁI BÌNH
2.1 Nhu cầu của cộng đồng
Hiện nay dân số của cả nước gần 80 triệu người, trong đó 77% dân số sống ở
nông thôn mà sản lượng thuỷ sản tiêu dùng hàng ngày của gia đình sống ở khu vực
nông thôn chủ yếu là do nuôi trồng và đánh bắt ở tự nhiên.
Theo số liệu điều tra của chuyên đề “ một số vấn đề về phát triển thị trường
thuỷ sản trong nước” có tới 79.9% người tiêu dùng rất thích ăn các món thủy sản
và chỉ có 20% người tiêu dùng cho biết họ không thích các món ăn thuỷ sản.
Thực phẩm ngoài các lợi ích như dễ tiêu hoá, lượng đạm cao, ngon miệng,
có lợi cho sức khoẻ…Các sản phẩm thuỷ sản được người tiêu dùng quan tâm là
vấn đề giá cả sản phẩm. Giá cả sản phẩm thuỷ sản rất phong phú, phù hợp với mọi
mức thu nhập khác nhau của nhiều tầng lớp xã hội.
Mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm của thuỷ sản cao hơn so với các loại thực
phẩm thịt khác vì trên 50% thuỷ sản đánh bắt từ môi trường tự nhiên. Đặc biệt
nhiều bệnh dịch của gia súc xảy ra ở Châu Âu, Châu á, Mỹ…diễn ra trong năm
2002 – 2003, ảnh hưởng đến sức khoẻ cũng như tính mạng của con người, bên
cạnh đó bệnh dịch của đối tượng thuỷ sản không gây nguy hiểm đến sức khoẻ cũng
như tính mạng của con người, điều này khiến cho tâm lý tiêu dùng khẩu phần ăn
hàng ngày của nhiều người muốn chuyển sang dùng thuỷ sản.
Tuy có diện tích tiềm năng có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhưng cũng
chỉ nuôi ở mức quảng canh do hệ thống thuỷ lợi kém, người dân còn thiếu những
kiến thức kinh nghiệm trong nuôi trồng thuỷ sản, việc xây dựng ao nuôi còn tuỳ
tiện, không đúng quy cách, vốn đầu tư còn hạn hẹp dẫn đến năng suất thấp.
Xã Đông Hải huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông bắc huyện
Tiền Hải, diện tích tự nhiên của toàn xã là 558,2766 ha trong đó 278.443 ha đất
nông nghiệp, diện tích ngập nước biển và nước lợ là 42.00, toàn xã có số dân là
3100 người với 607 hộ (bình quân 5 nhân khẩu/hộ), 780 lao động, thu nhập hàng
tháng bình quân theo nhân khẩu là 90.000 đồng và quy ra thóc 176 kg/người/năm,
có 27.9 % tổng số hộ thuộc diện nghèo đói, hàng năm có từ 100-200 lao động đi ra
các tỉnh ngoài tìm việc làm. Sức ép của thu nhập thấp và thất nghiệp trở nên trầm
động được vẫn còn hạn chế.
Dân ở đây còn rất nghèo, Thái Bình cũng là một tỉnh nghèo, điều kiện đầu tư
và học tập rất khó khăn, nguồn giống phải mua trôi nổi ở tỉnh ngoài, thiên nhiên
khắc nghiệt, điều kiện đất làm nông nghiệp rất hạn chế.
Hiện nay ngành nuôi trồng thuỷ sản nhất là mặn lợ chưa phát triển do nguồn
vốn rất hạn hẹp, kỹ thuật nuôi trong dân chưa cao, mặt khác tuy ở Thái Bình đã có
một số trại giống nhưng chưa thể đáp ứng đủ cho trong tỉnh, đa phần giống tôm sú
phải nhập từ tỉnh khác về với hệ thống kiểm dịch chưa đủ mạnh nên có nơi, có lúc
xảy ra tình trạng tôm giống bị bệnh hoặc chất lượng kém vẫn được đưa vào nuôi
nên làm giảm năng suất và giảm thu nhập của nông dân.
Do điều kiện kinh tế nên nhiều hộ cho ăn thức ăn có sẵn tại địa phương như
cá tươi, cám nên thỉnh thoảng xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường ao nuôi.
Hiện nay bao quanh khu vực này là đê biển nhưng yếu cần phải tu sửa lại.
Hệ thống kênh mương cấp nước và thoát nước thải chưa có, người dân nuôi trồng
thuỷ sản sống ở trong làng và ngoài ao nuôi dựng lều, lán để bảo vệ.
2.3. Những căn cứ xây dựng dự án nuôi tôm sú
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Địa hình
Khu vực nghiên cứu quy hoạch nuôi tôm xã Đông Hải thuộc vùng phía
Đông của xã, nằm dọc theo sông Trà Lý nằm trong tuyến bao có cao trình từ +1.60
đến 2,60 đê đã có nhưng nói chung còn thấp và nhỏ chưa chống được triều cường
khi gặp bão. Khu vực có cao trình từ <0,0>m đến <0,80>m. Đây là vùng trũng dọc
cửa sông Thái Bình. Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là: 54 ha
2.3.1.2.Khí hậu, thời tiết
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng có khí hậu chuyển tiếp giữa chế độ Bắc Bộ và
Bắc Trương Sơn
- Chế độ bức xạ và nắng :
Lượng bức xạ tổng cộng bình quân đạt 107 kcal/cm
2
. Số giờ nắng trong năm đạt
- Chế độ bốc hơi:
Lượng bốc hơi trong năm có 2 đỉnh vào tháng 7 và tháng 10. Lượng bốc hơi
toàn năm 1.274 mm. Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 7: 142 mm. Tháng
có lượng bốc hơi nhỏ nhất là tháng 2: 41 mm.
- Chế độ gió:
Hướng gió thịnh hành vào mùa đông là Tây Bắc và Đông Bắc, vào mùa hè
là Nam hay Tây Nam. Tốc độ gió trung bình: 2,2 m/s. Tốc độ gió bão mạnh nhất
đạt 40m/s ngày 15/5/1962.
- Chế độ mưa:
Đây là vùng có lượng mưa dưới mức trung bình của toàn tỉnh. Lượng mưa
trong năm đạt: 1.747 mm. Số ngày mưa: 126 ngày/ năm. Lượng mưa tập trung chủ
yếu vào các tháng 8, 9, 10. Với tổng lượng chiếm 60-70% lượng mưa cả năm.
Trong 9 tháng còn lại lượng mưa chỉ chiếm có 30-40%. Lượng mưa 1 ngày lớn
nhất giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 8.
X
1max
= 192 mm ngày 05/5/1973.
Lượng mưa 3 ngày lớn nhất giai đoạn tháng 4 đến tháng 8.
X
3max
= 33 mm từ ngày 08 ÷ 10 tháng 8 năm 1979.
Lượng mưa tính theo các tần suất, thời gian thống kê từ tháng 4 ÷ tháng 8.
Mưa 1 ngày lớn nhất: