ĐỀ XUẤT CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG NỘI VÙNG TẠI BƯU ĐIỆN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Pdf 73

ĐỀ XUẤT CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐIỆN
THOẠI DI ĐỘNG NỘI VÙNG TẠI BƯU ĐIỆN THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG.
I. Sự cần thiết phải đầu tư.
Hải Phòng là một trong ba thành phố lớn nhất Việt Nam, nằm ở đồng bằng Bắc Bộ,
phía Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình và phía
Đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Hải Phòng có chiều dài bờ biển hơn 62 dặm (khoảng 38,5 km).
Tổng diện tích của Hải Phòng là 1.515 km
2
với dân số là khoảng 1,7 triệu dân.
Hải Phòng gồm có 5 quận nội thành, 2 thị xã, 8 huyện (trong đó có 2 huyện đảo là
Cát Hải và Bạch Long Vĩ) và 149 xã và 56 phường .
Hải Phòng là đô thị trung tâm cấp quốc gia; là một trong những trung tâm công
nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch của cả nước và của vùng duyên hải Bắc Bộ; là thành
phố Cảng, cửa ngõ chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng
của miền Bắc và của cả nước; là trung tâm hành chính – chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học - kỹ thuật của Thành phố Hải Phòng trực thuộc Trung ương, có vị trí quan trọng về
mặt an ninh, quốc phòng.
Hải Phòng đã hình thành các khu kinh tế mới bao gồm:
 Khu công nghiệp phía bắc Thuỷ Nguyên.
 Khu kinh tế đặc biệt.
 Khu công nghiệp Đình Vũ.
 Khu công nghiệp Quán Toan - Cảng Vật cách.
 Khu du lịch nghỉ mát quốc tế và nội địa.
Với những tiềm năng sẵn có trong một số ngành như vận tải, sửa chữa và đóng tàu,
sản xuất xi măng, may mặc, du lịch… cơ sở hạ tầng tuy chưa phải là hiện đại nhưng có thể
nói đã có một nền tảng vững chắc với những kho tàng, bến bãi, hệ thống thông tin liên
lạc… đặc biệt hơn cả đó là Hải Phòng có khu vực cảng biển rộng lớn, một trong những
cảng có quy mô lớn của Việt Nam. Sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế, với vai trò
chủ đạo là doanh nghiệp nhà nước đã phần nào phát huy được những ưu điểm và hạn chế
dần những tồn tại. Tận dụng tối đa các nguồn vốn trong cũng như ngoài nước (Vốn vay,

với thu nhập của người lao động là một điều cần thiết. Bên cạnh đó Hải Phòng còn là nơi
tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Đây cũng là những
đối tượng có nhu cầu sử dụng điện thoại di động giá rẻ, là động lực để phát triển dịch vụ
điện thoại di động nội vùng giá rẻ tại Thành phố Hải Phòng.
Theo báo cáo điều tra thị trường của Công ty Viễn thông trực thuộc Bưu điện Thành
phố Hải Phòng ngày 8/3/2003 trên 300 khách hàng sử dụng dịch vụ điện thoại di động
VinaPhone thu được kết quả như sau:
Về nghề nghiệp của khách hàng sử dụng dịch vụ điện thoại di động VinaPhone:
Nghề nghiệp Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
Quản lý 60 20,00
Nhà kinh doanh 46 15,33
Công chức 92 30,67
Hưu trí 5 1,67
Sinh viên 3 1,00
Giáo viên 12 4,00
Y, bác sỹ 5 1,67
Công nhân sản
xuất
37 12,33
Làm xây dựng 14 4,67
Các công việc
khác
26 8,67
Tổng cộng 300 100
(Nguồn: Bưu điện Thành phố Hải Phòng)
Bảng 3.1: Thống kê khách hàng sử dụng dịch vụ di động Vinaphone
Về mục đích sử dụng điện thoại di động:
Đối tượng liên lạc Số lượng

Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Công Ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
(VNPT) sẽ tiếp tục triển khai phát triển tại Thành phố Hải Phòng. Như vậy thì VNPT sẽ là
chủ đầu tư trực tiếp và uỷ quyền cho Bưu điện Thành phố Hải Phòng làm chủ đầu tư của
dự án.
b) Huy động vốn.
Giống như dịch vụ di động nội vùng Cityphone đang cung cấp ở Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh thì nguồn vốn để triển khai dịch vụ di động nội vùng tại Hải Phòng được
đề xuất là nguồn vốn vay và tái đầu tư. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn này để đầu tư cho
dịch vụ di động nội vùng ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh rất tốt nên VNPT có thể
tiếp tục triển khai mô hình này tại Bưu điện Thành phố Hải Phòng.
c) Lựa chọn công nghệ.
Công nghệ của dịch vụ điện thoại di động nội vùng đang được VNPT triển khai là
công nghệ PHS/iPAS. Đây là công nghệ cung cấp dịch vụ di động được coi là công nghệ
sạch bảo vệ môi trường và sức khoẻ cho người sử dụng. Trên thế giới, Nhật Bản là một
trong những nước tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ PHS để cung cấp dịch vụ di
động cho người dùng. Hiện nay, công nghệ này được ứng dụng rộng rãi tại Trung Quốc,
Đài Loan,Thái Lan, Haiti, Ấn Độ… và số lượng thuê bao sử dụng dịch vụ từ công nghệ
này trên thế giới đã lên đến khoảng 20 triệu người. Đây cũng là loại hình dịch vụ di động
duy nhất được sử dụng trong các bệnh viện, các trung tâm công nghệ cao.
Với chi phí lắp đặt rẻ và những lợi ích của loại hình công nghệ này mang lại cho môi
trường và sức khoẻ con người thì dịch vụ di động nội vùng sử dụng công nghệ PHS / iPAS
được đề nghị sử dụng
2. Lập kế hoạch phát triển mạng lưới.
Mục đích của việc lập kế hoạch mạng lưới là cung cấp đúng loại thiết bị, đúng chỗ,
đúng lúc, với chi phí hợp lý để thoả mãn các nhu cầu mong đợi và đưa ra cấp dịch vụ có
thể chấp nhận được. Một mạng lưới được hợp thành bởi nhiều thiết bị khác nhau như là
các tổng đài, thiết bị truyền dẫn, các thiết bị ngoại vi và các toà nhà. Vì vậy, nhiều nhân tố
khác nhau phải được xem xét khi lập kế hoạch. Hơn nữa, các thành phần này có liên quan
chặt chẽ với nhau.
Việc lập kế hoạch nên được thực hiện một cách liên tục. Tuy nhiên, trong nhiều

thực hiện nhằm thoả mãn tốt hơn nhu cầu thị trường, chiếm lĩnh thị trường trước khi bước
vào cạnh tranh thực sự.
Xác định
nhu cầu
Lập kế hoạch mạng tối ưu
Kế hoạch thực hiện
Lập kế hoạch cơ bản
Xác định mục tiêu
Đánh giá thiết bị / chi phí
Mục tiêu quản lý
Trong bối cảnh chung của toàn ngành như vậy Bưu điện Thành phố Hải Phòng muốn
phát triển dịch vụ điện thoại di động nội vùng cũng phải tiến hành dự báo nhu cầu của
khách hàng về dịch vụ sao thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tối ưu hoá lợi nhuận
thu được.
Nhu cầu các dịch vụ Viễn thông bị tác động bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố đó có thể
được phân chia thành các yếu tố nội sinh và các yếu tố ngoại sinh, được thể hiện trong hình
sau:
Các yếu tố ngoại sinh Các yếu tố nội sinh
Hình 3.4: Các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông
Dự báo nhu cầu phải dựa vào và phân tích các yếu tố này để xác định nhu cầu tương
lai về số lượng khách hàng và mức độ sử dụng các dịch vụ.
Dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ di động nội vùng tại thành phố Hải Phòng phải tuân
theo quy trình dự báo các dịch vụ viễn thông nói chung. Nó bao gồm các bước sau:
- Thu thập dữ liệu.
Dữ liệu có thể được thu thập từ các nguồn dữ liệu (dữ liệu thứ cấp) hoặc điều tra thị
trường (dữ liệu sơ cấp). Những số liệu này sẽ được tổng hợp và phân loại theo dữ liệu
thoại và dữ liệu kinh tế xã hội.
Các nguồn khác nhau có thể cung cấp dữ liệu cho quá trình dự báo:
 Nguồn dữ liệu thoại:Tổng Công Ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
 Nguồn dữ liệu khác:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status