Đổi mới phương pháp dạy học văn.
Văn chương bao giờ cũng là sản phẩm của tâm hồn, của trái tim và
khối óc người sáng tác. Văn chương có sức tác động sâu sắc đến bạn đọc,
đến cuộc sống con người. Trong nhà trường, so với các môn học khác, môn
văn vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật lại có khả năng bồi dưỡng
và phát triển tư duy thẩm mĩ cho học sinh một cách hiệu quả nhất. Do
vậy,việc tìm ra phương pháp dạy học thích hợp là hết sức cần thiết.
Hơn nữa, trước yêu cầu mới của xã hội, trước “Sự tiến bộ kì diệu của
khoa học kĩ thuật, số liệu các tri thức cần lĩnh hội tăng lên một cách ghê
gớm, đòi hỏi chúng ta phải thay đổi căn bản cả nội dung giáo dưỡng lẫn
phương pháp dạy – học. Phương pháp dạy học phải nhằm phát triển tối đa sự
suy nghĩ độc lập của học sinh, kỹ năng đạt đến tối đa sự suy nghĩ độc lập
của học sinh, kỹ năng đạt đến và vận dụng tri thức”. (Viện sĩ A.A.Xmianôp
–Liên Xô cũ).
Đây không phải là vấn đề riêng của nước ta mà là vấn đề đang được
quan tâm ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn lực con người
phục vụ các mục tiêu kinh tế – xã hội
Tóm lại, từ những vấn đề trên đã đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải
đổi mới phương pháp dạy học văn.
I.1. Đổi mới phương pháp dạy học văn nói chung
“Đổi mới phương pháp dạy học văn chính là đổi mới việc đánh giá
mối quan hệ giữa ba thành tố: Giáo viên – học sinh – văn bản văn chương.
Đó là mối quan hệ biện chứng nhằm tạo thành cơ chế dạy học văn. Vì thế
nếu thiếu đi một thành tố nào thì cơ chế dạy – học lập tức bị phá vỡ và cách
dạy lại quay trở về lối cũ”. [14.164].
I.1.1. Phương pháp dạy học văn truyền thống
Trong cơ chế dạy học văn cũ, mối quan hệ giữa các thành tố của cơ
chế là mối quan hệ đơn phương: giáo viên – tác phẩm, giáo viên – học sinh
hay tác phẩm – học sinh.
Trong cơ chế này, giáo viên đóng vai trò chủ đạo. Giáo viên là người
khám phá cảm thụ tác phẩm rồi truyền thụ cho học sinh. Học sinh tiếp thu
đường, vừa là phương tiện”. [20.281]. Và dạy học văn là: “phải từ học sinh,
cho học sinh và bằng chính học sinh”.
Do đó trong dạy học văn không được giữ cách giảng dạy tái hiện,
giảng dạy thông tin tiếp thụ, giảng dạy đơn thuần bằng lời nói của giáo viên,
mà phải chuyển sang lối giảng dạy tái tạo, giảng dạy phát triển, tổ chức một
hệ thống thao tác hoạt động chiếm lĩnh tác phẩm của bản thân học sinh, để
học sinh được tự rung cảm, khám phá và tự phân tích. Mỗi giờ học phải trở
thành “một sự kích thích dài”, phải gây được “sự nổ vỡ lặng im trong tâm
tưởng, làm bùng cháy một cái gì đó để con người đi tới chính mình trong
tâm tưởng” (Nguyễn Viết Chữ).
Như vậy “phương pháp không còn là những phương thức tác động từ
bên ngoài mà là phương thức vật chất hoá hoạt động bên trong của học
sinh.” [20.282]
Quan điểm coi học sinh là chủ thể và là khởi đầu của sự sáng tạo chắc
chắn sẽ dẫn đến sự thay đổi phương pháp giảng dạy. Giáo viên phải vật chất
hoá hoạt động của mình bằng một hệ thống phương pháp giảng dạy thích
hợp như đọc diễn cảm, so sánh trong phân tích văn học, phân tích nêu vấn
đề, phương pháp gợi mở, phương pháp giảng bình.
Trong những năm vừa qua, quan điểm này đã được đưa vào trong nhà
trường, được công nhận và khẳng định tính đúng đắn của nó. Tuy nhiên cần
tránh sự vận dụng cứng nhắc, máy móc các phương pháp nêu ra.
Và vấn đề quan trọng đặt ra hiện nay là phải từ quan điểm đúng đắn về
cơ chế dạy học văn, sử dụng các phương thích hợp để đạt được mục đích
đưa học sinh lên vị trí chủ thể của quá trình nhận thức.
I.2. Đổi mới phương pháp dạy học truyện cổ tích thần kì nói riêng
Cần phải khẳng định ngay rằng sự đổi mới phương pháp dạy học
truyện cổ tích thần kì không nằm ngoài sự đổi mới phương pháp dạy học văn
nói chung (như vừa nêu). Việc làm của người viết ở đây là đi từ sự đổi mới
chung đến sự đổi mới cụ thể – đổi mới về phương pháp đối với truyện cổ
tích thần kỳ nói riêng- một vấn đề liên quan chặt chẽ đến đề tài của người
Để tạo nên một thế giới “như mơ ước”, ở đó người bất hạnh được
hưởng hạnh phúc tuyệt đỉnh, chính nghĩa tất yếu thắng gian tà, truyện cổ
tích đã phải nhờ đến các yếu tố thần kì: nhân vật thần kì (Tiên, Bụt), vật
thần kì (gậy thần, cây đàn thần), con vật thần kì (chim thần, ngựa thần) hay
sự biến hoá của chính nhân vật. Tính chất hoang đường và tưởng tượng
trong cổ tích không giống tưởng tượng trong thơ ca. Nó tạo nên tính chất kì
lạ, khác thường cho câu chuyện kể. Điều này đã làm nên “thế giới cổ tích”
với chất thơ bay bổng, với sức cuốn hút kì diệu của nó - khôngchỉ với trẻ
thơ mà với cả người lớn, đem lại cho con người hứng thú, niềm tin và ước
mơ.
Dạy truyện cổ tích thần kì điều quan trọng nhất là phải nhấn mạnh,
phải làm nổi bật vẻ đẹp của “thế giới cổ tích” huyền ảo tức phải khai thác
thật sâu vẻ đẹp của yếu tố thần kì trong truyện. Lựa chọn đề tài: “Vai trò và
tác dụng của yếu tố thần kì trong dạy học Tấm Cám nhằm phát huy
năng lực nhận thức và cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 THPT ”
chính là người viết đã đi từ yếu tố thi pháp nổi bật, đặc sắc nhất của truyện
để giảng dạy. Do đó phương hướng giảng dạy đề ra sẽ đi theo đúng đặc
trưng thi pháp của truyện cổ tích thần kì, tránh được những sai lầm đã từng
tồn tại trong dạy học những năm qua.
Trong giảng dạy truyện cổ tích thần kì còn phải quan tâm đến đặc
điểm thi pháp về nhân vật chính, về xung đột, về kết cấu, về không gian,
thời gian, về những “công thức” cố định.
Truyện cổ tích đã nảy sinh từ trong xã hội nguyên thuỷ nhưng nó phát
triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp, nên chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề
xã hội. Và loại xung đột xã hội có thể xem là đề tài đặc trưng của thể loại
truyện cổ tích so với thần thoại và sứ thi cổ đại mà mỗi giáo viên phải làm
rõ trong quá trình giảng dạy.
Dạy học truyện cổ tích thần kì theo thi pháp loại thể phải giúp học
sinh thấy được đặc điểm của kiểu nhân vật bất hạnh (người em út, người mồ
côi, xấu xí, người đi ở…), của kiểu nhân vật kì tài (có sức khoẻ phi thường,
từng được giảng dạy trong nhiều năm cho học sinh lớp 7 THCS. Như vậy,
đây là một câu chuyện quen thuộc và có sức hấp dẫn lớn đối với trẻ nhỏ.
Sau nhiều tranh cãi về truyện (nhất là phần kết thúc), đến năm 1995,
truyện không được đưa vào trong chương trình THCS với lý do: sợ đoạn trả
thù của Tấm ở cuối truyện có thể gây cho học sinh “chấn thương” về tình
cảm. Và cho rằng sẽ cho các em học truyện này ở những bậc cao hơn, khi
các em đủ lí trí để có thể nhìn nhận thấu đáo vấn đề.
Phải đến 8 năm sau, năm 2003, Tấm Cám mới lại được đưa vào
chương trình sách giáo khoa thí điểm dạy cho học sinh lớp 10 THPT.
II.2. Trong chương trình sách giáo khoa thí điểm năm 2003
Sau khi Tấm Cám bị lược khỏi chương trình Văn lớp 7 THCS, đã có
rất nhiều ý kiến lên tiếng về vấn đề này. Tựu chung lại là khẳng định giá trị
đích thực của truyện – coi Tấm Cám là một truyện cổ tích tiêu biểu nhất
của nước ta. Và hình ảnh cô Tấm hiền lành, xinh đẹp từ quả thị bước ra,
hình ảnh ông Bụt, con cá Bống, ngày hội ướm giày, chim vàng anh, cây
xoan đào, miếng trầu têm cánh phượng… là những hình ảnh đẹp, vừa thân
quen gần gũi, lại vừa thiêng liêng, đậm đà hồn dân tộc.
Vì vậy “lẽ nào bỏ đi một câu chuyện từ lâu đã trở thành niềm say mê,
thích thú, ước mơ đẹp đẽ của tuổi thơ? Lẽ nào lại bỏ đi một món ăn tinh
thần có thể bồi đắp nhiều mặt cho tâm hồn các em kể cả mặt thẩm mĩ – chỉ
vì một chi tiết trả thù cuối truyện. Chi tiết này đã có nhiều người lý giải và
cũng đơn giản thôi, không đến mức phải né tránh để không dạy truyện này
(trong thực tế, những năm qua chúng ta đã dạy và không có gì gay cấn lắm).
Nhiều người cho rằng không nên bỏ truyện này, bởi trong hành trang tinh
thần các em khi bước vào đời, mà thiếu truyện Tấm Cám thì đó là một điều
thật đáng tiếc” [18.40].
Chính giá trị đích thực bền vững của Tấm Cám đã giúp truyện được
đưa vào giảng dạy ở chương trình lớp 10THPT theo nguyên tắc xây dựng
chương trình như sau:
Bám sát mục tiêu đào tạo người lao động mới.
kết thúc: Sau khi Tấm được nhà vua nhận ra ở nhà bà lão bán nước và đón
về cung, Cám muốn biết vì sao “Chị dầm sương dãi nắng, đi vắng giờ lâu,
sao giờ lại trắng” và Tấm đã bày cách cho. “Cám sai đào một hố thật sâu và
xuống ngồi ở dưới, rồi gọi người đem nước sôi giội xuống hố. Cám chết
còng queo.
Nghe tin Cám chết, mụ dì ghẻ uất lên, ngã vật xuống đất chết theo
con”.
Sách Ngữ văn 10 – Tập 1 - SGK thí điểm khoa học xã hội và nhân văn
(Bộ 2) – Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên – NXB Giáo dục – 2003).
Bộ sách này lựa chọn theo bản kể của Nguyễn Đổng Chi (Kho tàng
truyện cổ tích Việt Nam, tập IV, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975)
nhưng lại cắt bỏ đoạn cuối, chỉ dừng lại ở chi tiết “rồi truyền cho quân hầu
đưa kiệu rước Tấm về cung…”.
Sự lựa chọn này được các tác giả biên soạn lý giải trong sách giáo
viên như sau:
Sách giáo viên (Bộ 1) hướng dẫn trong khi dạy giáo viên có thể giới
thiệu với học sinh bản kể có cách kết thúc là Tấm giết Cám, làm mắm cho
dì ghẻ… và cho rằng: Truyện Tấm Cám thể hiện quan niệm và mơ ước về
sự chiến thằng tuyệt đối của người Việt Nam. Vì vậy mà truyện có bản kể
trên. Sự trừng phạt của Tấm là thay mặt cái thiện, tiêu diệt cái ác, điều đó đã
từng làm không ít người hả hê. Nhưng hình thức trừng phạt ấy khiến cho
nhiều người cảm thấy rùng rợn, ấn tượng về cô Tấm hiền lành, đôn hậu trở
nên không đẹp. Vì vậy SGK không chọn bản kể trên.
Còn Sách giáo viên (Bộ 2) thì cho rằng: Truyện cổ tích thần kì có
không ít yếu tố cổ xưa được bảo lưu. Mô típ mụ phù thuỷ ăn nhầm phải thịt
con mình thường lặp đi lặp lại trong nhiều truyện cổ tích Châu Âu. Nhưng
trong truyền thống cảm nhận của dân gian, người ta không quan tâm đến
tính chất dã man của sự việc mà chỉ quan tâm đến mức độ của sự trừng phạt.
Vì vậy, mẹ con dì ghẻ phải chịu sự trừng phạt cao nhất. Và cho rằng: Tuy
nhiên, trong xã hội hiện đại, những quan niệm nhân đạo mới đã hình thành
hợp
Một trong ba nguyên tắc xây dựng chương trình SGK thí điểm ở
trường THPT năm 2003 là: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo
để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các
phương pháp.”
Liên môn, xuyên môn cũng như tích hợp đang là khuynh hướng chung
của khoa học và giáo dục thế giới ngày nay. Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tiếp
tục thực hiện tinh thần tích hợp đã được nói đến ở bậc học THCS. Đây là
một hướng đi đúng.
Học Ngữ văn trong nhà trường không thể tách rời ba bộ phận Văn,
Tiếng Việt và Làm văn vốn là những yếu tố hợp thành sinh động của chương
trình. Mỗi văn bản văn chương ưu tú cung cấp bao dữ kiện cho sự trau dồi
và hoàn thiện Tiếng Việt và là mẫu mực cho việc Làm văn. Ngược lại, kiến
thức về Tiếng Việt và Làm văn cũng giúp cho chúng ta am hiểu hơn về cái
kì diệu trong mỗi văn bản văn chương do các nhà văn sáng tạo nên.
Vì thế học Ngữ Văn theo tinh thần tích hợp là một yêu cầu quan trọng
đối với mỗi học sinh.
Học Ngữ văn phải hướng vào cuộc sống để tận dụng kiến thức và để
sống đúng, sống đẹp. Đó là quan điểm văn hoá và thực tiễn của việc học
Ngữ văn hiện nay.
Một điểm mới quan trọng khác là sách giáo khoa được viết ra để học
sinh tự học. Tự học là chiến lược của xã hội học tập ngày nay.
Theo quan điểm trên “Tấm Cám” được soạn ra theo hướng:
Có mục “Kết quả cần đạt” là những tiêu chí để học sinh tự định hướng
trong quá trình học tập cũng như tự đánh giá.
Có câu hỏi hướng dẫn “ Đọc – Hiểu” sau mỗi văn bản để gợi ý, dẫn
dắt học sinh tự mình chiếm lĩnh tác phẩm
Phần “Luyện tập” giúp học sinh vận dụng kiến thức để thông hiểu lí
luận và hình thành kĩ năng thực hành cần có.
- Những câu hỏi hay bài tập có đánh dấu (*) dành cho học sinh giỏi