MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, nền kinh
tế tri thức hình thành và phát triển mạnh tạo ra thời cơ và cả những thách
thức lớn đối với mỗi quốc gia. Vấn đề đặt ra cho giáo dục là phải đổi mới
chiến lược đào tạo con người, đặc biệt cần đổi mới PPDH theo hướng đào
tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo góp phần thúc đẩy công cuộc CNH,
HĐH của đất nước.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kì đổi mới, phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, đưa nước ta về cơ bản, trở thành một nước công
nghiệp vào năm 2020, sánh vai cựng cỏc cường quốc trong khu vực và trên
thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định: “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu” [11]. Để nâng cao chất lượng giáo dục, Đại hội Đảng lần thứ IX đã
khẳng định: “Tiếp tục phát triển chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới
phương pháp dạy học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lí giáo dục,
thực hiện chuẩn hóa - hiện đại hóa - xã hội hóa giáo dục” [10]. Luật Giáo
dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh” [18].
Đổi mới giáo dục bao gồm đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp,
đổi mới kiểm tra, đánh giá thì đổi mới phương pháp là khâu then chốt, là điểm
nhấn quan trọng nhất. Đổi mới PPDH là vấn đề sống còn của giáo dục Việt
Nam hiện nay. Muốn vậy, trước hết chúng ta phải đổi mới từ khâu quản lí,
trong đó có cụng tác quản lí việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường
1
phổ thông, ở cấp THCS là rất cần thiết. Vì môn Ngữ văn không chỉ cung cấp
tri thức mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách, bồi đắp tâm hồn cho học sinh.
Vẻ đẹp của thiên nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa cùng với sự tài hoa của
con người Việt Nam đã được ghi lại trong văn học - “Văn học là tấm gương
trưởng trường THCS huyện Phúc Thọ nhằm góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục ở các trường THCS trong huyện.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lí của Hiệu trưởng trong việc đổi mới PPDH môn
Ngữ văn ở trường THCS của huyện Phúc Thọ.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lí việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn trường THCS
huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lí việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn của Hiệu trưởng
trường THCS huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
4.2. Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
Đề tài được triển khai nghiên cứu ở các trường THCS huyện Phúc
Thọ, Hà Nội
4.3. Phạm vi về nghiệm thể điều tra khảo sát
08 cán bộ Phòng GD&ĐT, 23 CBQL và 100 GV các trường THCS
huyện Phúc Thọ.
4.4. Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Các số liệu khảo sát được thu thập giai đoạn 2006- 2009.
3
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất biện pháp quản lí việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn phù
hợp với chức năng quản lí, với đặc trưng môn học và điều kiện thực tế thì sẽ
góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn của GV và HS THCS
huyện Phúc Thọ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lí, quản lí giáo dục,
quản lí nhà trường, quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những tư tưởng, quan điểm giáo dục và quản lý giáo dục
trên thế giới.
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều
nhà triết học, giáo dục học phương Tây và phương Đông nghiên cứu, tổng kết.
Ta có thể thấy các tư tưởng và các công trình nghiên cứu quan trọng sau đây:
Platon (427-347 TCN), mặc dù còn hạn chế về bình đẳng giới trong
giáo dục, nhưng tư tưởng của ụng đó khẳng định được vai trò tất yếu của
giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục.
Xocrat (469- 475 TCN) nêu lên quan điểm: giáo dục là phải giúp con
người tìm thấy, tự khẳng định chính mình. Để nâng cao hiệu quả dạy học thì
cần phải có phương pháp giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định, tự phát
hiện tri thức mới phù hợp với chân lý.
Khổng Tử (551- 475 TCN) - nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn Trung
Hoa cổ đại- đã nêu lên quan điểm về phương pháp dạy học là: dựng cách gợi
mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, đồng thời đòi hỏi người học
phải tích cực suy nghĩ, phải luyện tập, phải hình thành nền nếp, thói quen
trong học tập. Trong dạy học, ông đề cao việc tự học, tự tu dưỡng, phát huy
tính tích cực sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá
biệt hoá đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn, phát
triển động cơ, hứng thú, ý chí của người học. Đến nay PPGD của Khổng Tử
vẫn là những bài học lớn cho mỗi cán bộ quản lý và giáo viên.
Cuối thế kỷ XIV, chủ nghĩa Tư bản bắt đầu xuất hiện, vấn đề lý luận
dạy học, QLDH đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm và lý luận dạy học đã
hình thành có hệ thống hơn. Tiêu biểu là nhà giáo dục học J.A. Cô-men-xki
(1592 - 1670), ụng đó đưa ra quan điểm: giáo dục phải thích ứng với tự
nhiên [6]. Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là
Hiền, Trần Quốc Thành, Trần Kiểm, Bùi Văn Quõn… Các công trình nghiên
cứu này chủ yếu đi sâu vào lí luận công tác QLGD. Ở phương diện quản lí
7
cụ thể môn học trong trường THCS trong đó có môn Ngữ văn, DH môn Ngữ
văn như: “Phương pháp dạy học văn” của tác giả Phan Trọng Luận; “Lớ luận
văn học” của tác giả Hà Minh Đức; “Dạy học văn ở trường phổ thụng” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương. Ngoài ra, còn có thể kể đến nhiều tác giả
như Phùng Văn Tửu, Đỗ Ngọc Thống, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Thanh
Hùng, Hà Nhật Thăng, Lê Đức Phỳc,… Các kết quả nghiên cứu, tổng kết của
các nhà khoa học giáo dục là những tri thức quý báu làm tiền đề cho việc
nghiên cứu lý luận giáo dục và xây dựng, phát triển nền giáo dục nước nhà.
Nghiên cứu về đổi mới PPDH cũn cú một số công trình ở trình độ thạc
sĩ như:
- “Những biện pháp quản lí của Hiệu trưởng nhằm đổi mới phương
pháp dạy học ở các trường THPT tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí
Minh” của tác giả Lê Thành Hiếu, năm 2006;
- “Những biện pháp dạy học môn Văn ở Trường THPT Trần Nguyờn
Hón, Thành phố Hải Phũng” của tác giả Đỗ Văn Tuấn, năm 2006;
Các công trình nghiên cứu KH trên đều tập trung vào một số nội dung
đổi mới PPDH và có ý nghĩa lí luận cũng như thực tiễn ở loại hình nhà trường
THPT và đặc thù của từng địa phương. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên
cứu toàn diện về quản lí việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở nhà trường THCS
trong bối cảnh thực hiện đổi mới GDPT trong hoàn cảnh hiện nay.
Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp
dạy học môn Ngữ văn của Hiệu trưởng trường THCS huyện Phúc Thọ” để
nghiên cứu nhằm thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất lượng ở cấp học này.
1.2. Một số vấn đề lí luận chung về quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà
trường, quản lí dạy học môn Ngữ văn
1.2.1. Khái niệm về quản lí và chức năng quản lí
1.2.1.1. Khái niệm quản lí
a) Chức năng kế hoạch hoá
Công tác kế hoạch là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, tức
hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm
cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những sự thay đổi có thể đoán
trước cũng như những thay đổi không chắc chắn trong tương lai. Mức độ xa
hay gần của tương lai sẽ tuỳ thuộc vào tầm thời gian của công tác kế hoạch,
công tác hoạch định. Càng xa, mức độ dự báo càng khó chính xác, do vậy
nhà quản lí cần phải thận trọng khi thực hiện chức năng lập kế hoạch.
b) Chức năng tổ chức
Công tác tổ chức là giai đoạn kế tiếp theo của công tác kế hoạch và là
bộ phận không thể thiếu của chức năng quản lí.
Tổ chức được hiểu như là một thực thể, một hệ thống của những nỗ
lực của hai hay nhiều người trên một lĩnh vực nhất định nhằm đi đến một
mục tiêu chung một cách có ý thức.
Công tác tổ chức là hoạt động hay các công việc nhằm tạo ra một cơ cấu
thích hợp với mục tiêu, nguồn lực và môi trường trong đó tổ chức vận động và
phát triển.
c) Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lí nhằm điều hành, tổ
chức nhân lực đã có của tổ chức vận hành đúng theo kế hoạch để thực hiện mục
tiêu quản lí.
10
Khái niệm chỉ đạo được sử dụng trong trường hợp nhà quản lớ khụng
trực tiếp quản lí công việc mà quản lí công việc qua những thành viên quản lí
bộ phận (nhà quản lí cấp dưới).
Như vậy có thể hiểu khái niệm chỉ đạo là biện pháp quản lớ giỏn tiếp
của nhà quản lí cấp trên (nhà lãnh đạo) tác động tới các đối tượng bị quản lí
thông qua đội ngũ CBQL thuộc cấp để đạt mục tiêu tổ chức.
d) Chức năng kiểm tra
Chức năng kiểm tra là phương thức hoạt động của nhà quản lí tác
Quản lí giáo dục theo nghĩa rộng là quản lí mọi hoạt động giáo dục
trong xã hội, quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ
máy nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống GDQD, của mọi tổ chức,
cá nhân trong xã hội. QLGD theo nghĩa hẹp là quản lí hệ thống giáo dục, là
quản lớ cỏc hoạt động giáo dục và đào tạo trong đơn vị hành chính, trong
nhà trường. Đó là tổng hợp các BP tác động của nhà QLGD lên đối tượng
nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra. Hoặc có người quan niệm rằng: QLGD là
những tác động có mục đích, có hệ thống, có tính KH lên đối tượng quản lí,
là quản lí quá trình dạy và học trong các cơ sở giáo dục.
Khái quát lại, Quản lí giáo dục là sự tác động có tổ chức, có mục đích
của chủ thể quản lí giáo dục tới đối tượng của quản lí giáo dục nhằm thực
hiện các mục tiêu giáo dục đặt ra [17].
1.2.3. Quản lí nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm nhà trường
Nhà trường trong hệ thống GDQD được thành lập theo quy hoạch, kế
hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trường học là
12
một bộ phận của hệ thống xã hội, ở đó tiến hành quá trình giáo dục và đào tạo, gọi
chung là “cơ sở giáo dục”. Có nhiều khái niệm khác nhau về nhà trường:
Theo M.I Kụn-đa-cốp: “Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã
hội, là nơi thực hiện các chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một
nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan
niệm xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào
tạo các công dân tương lai” [16].
Theo giáo trình “Giỏo dục học” tập 1, Nhà xuất bản ĐHSP: “Nhà
trường là một thiết chế nhà nước – xã hội có chức năng chuyên trách trong
việc chuyển giao kinh nghiệm xã hội cho thế hệ trẻ của một đất nước” [23].
Như vậy, qua các khái niệm trên ta có thể hiểu khái niệm nhà trường
như sau: Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cơ bản của hệ thống
GDQD, trong đó việc dạy học, giáo dục được tiến hành có mục đích, có tổ
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của
chương trình giáo dục phổ thông;
- Quản lí GV, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động
GV, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và tiếp nhận HS, vận động HS bỏ học đến trường, quản lí
HS theo quy định của Bộ GD&ĐT;
- Thực hiện kế hoạch PCGD THCS trong phạm vi cộng đồng;
- Huy động, quản lí, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.
Phối hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục;
- Quản lí sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị theo quy định
của Nhà nước;
- Tổ chức GV, nhân viên và HS tham gia hoạt động xã hội;
14
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định CLGD của cơ
quan có thẩm quyền kiểm định CLGD;
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.2.3.3. Quản lí nhà trường
Nhà trường là một đơn vị cơ bản cấu thành nên hệ thống GDQD. Việc
quản lí nhà trường là việc làm vô cùng quan trọng. Suy cho cùng, chất lượng
giáo dục phụ thuộc vào việc quản lí giáo dục ở phạm vi nhà trường.
Quản lí nhà trường là quản lí giáo dục ở quy mô nhà trường, là quá
trình tác động có tổ chức, có mục đích của các chủ thể quản lí nhà trường
tới các đối tượng nhà trường quản lí, nhằm thực hiện những mục tiêu của
nhà trường.
Quản lí nhà trường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
a) Quản lớ cỏc nguồn lực trong nhà trường: Nguồn lực của nhà
trường cũng như các tổ chức khác bao gồm nguồn nhân lực, nguồn lực tài
chính, nguồn lực vật chất và nguồn lực thông tin.
- Quản lí đội ngũ CBQL, GV, nhân viên trong nhà trường bao gồm
những việc sau: Bố trí và sử dụng CBQL, GV, nhân viên; bồi dưỡng và đào
Chất lượng là một phạm trù phản ánh tổng thể những tính chất, những
thuộc tính cơ bản của sự vật, làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác.
Chất lượng của một sản phẩm là sự phù hợp của sản phẩm ấy với mục tiêu
mà nhà sản xuất đề ra và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Chất lượng giáo dục là sự phù hợp của trình độ, của người được giáo
dục với các mục tiêu của quá trình giáo dục ở nhà trường nói riêng và mục
đích của xã hội nói chung.
16
Để quản lí tốt CLGD trong nhà trường, người Hiệu trưởng cần phải
thực hiện tốt các nhiệm vụ sau (Theo Báo cáo Chính phủ về giáo dục 2005):
- Đẩy mạnh đổi mới PPDH;
- Đưa tin học vào nhà trường và ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học;
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, GV, nhân viên;
- Triển khai hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục;
- Đánh giá chất lượng giáo dục.
1.2.4. Quản lí của Hiệu trưởng trường THCS trong việc đổi mới
PPDH môn Ngữ văn
1.2.4.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của người Hiệu trưởng trường THCS:
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường THCS được ghi tại
Điều 19, Điều lệ Trường Trung học năm 2007 [5] , bao gồm:
- Xây dựng tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường được
quy định ở Điều 20 của Điều lệ này;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lí GV, nhân viên; quản lí chuyên môn; phân công công tác,
kiểm tra, đánh giá, xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng,
kỉ luật đối với GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lí hồ sơ,
tuyển dụng GV, nhân viên;
- Quản lí HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét
duyệt kết quả đánh giá, xếp loại HS, kí xác nhận học bạ, kí xác nhận hoàn
Theo Từ điển Tiếng Việt, năm 2008: “Đổi mới là thay đổi hoặc làm
cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển” [24].
18
Đổi mới là cải cách cái lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt cũ và thêm
cái mới hợp với thời đại mới. Đó là con đường tiến hóa của nền văn minh. Đổi
mới không bao giờ là đủ cả, nó kéo dài theo chiều dài của lịch sử. Đó là kết
luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin về tính biện chứng của quá trình phát triển, về
tính phải tương thích giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở xã hội cũng
như sự đấu tranh thường xuyên giữa chúng để thúc đẩy tiến trình lịch sử đi lên.
Như vậy: Đổi mới là thay đổi, kế thừa cái cũ và tiếp thu những cái
mới một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh để đáp ứng yêu
cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới PPDH là thay đổi, kế thừa các PPDH truyền thống và tiếp
thu những PPDH mới một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay [22].
Đổi mới không phải thay cái cũ bằng cái mới. Nó là sự kế thừa, sử
dụng một cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống PPDH truyền thống hiện
còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kĩ năng, kinh
nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị
xã hội. Đổi mới PPDH theo hướng khắc phục các phương pháp đã lạc hậu,
truyền thụ một chiều, tăng cường sử dụng các phương tiện TBDH tạo điều
kiện cho người học hoạt động tích cực, độc lập và sáng tạo. Đổi mới PPDH
là tăng cường vận dụng những thành tựu mới của khoa học, kĩ thuật, CNTT
có khả năng ứng dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao CLDH. Đổi
mới PPDH phải được tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống, khoa học, đồng
bộ, khả thi. Đổi mới PPDH phải thực sự góp phần nâng cao CLDH [13].
Đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới PPDH nói riêng là quy luật phát
triển tất yếu của thời đại và mỗi quốc gia trên bước đường phát triển xã hội,
Đổi mới
thiết kế
kế
hoạch
bài học
Thiết kế kế hoạch bài học theo
kiểu truyền thống: Mối liên
hệ giữa các yếu tố cấu thành
của bài học (mục tiêu, nội
dung, phương pháp- phương
tiện và sản phẩm) chưa được
thể hiện rõ trong bản thiết kế
bài học.
Thiết kế kế hoạch bài học theo
hướng tích cực hoá hoạt động của
cả người dạy và người học, chú
trọng tới mối quan hệ giữa các yếu
tố: mục tiêu bài học, năng lực
người học và các điều kiện,
phương tiện hỗ trợ dạy học, các
quá trình dạy học, và chất lượng
đầu ra của người học.
Đổi mới
hình
thức
tổ chức
DH
Tổ chức DH theo hướng:
- Học toàn lớp, ít chú ý đến sự
phân hoá trong lớp
+ Bên cạnh tự luận, tăng cường
trắc nghiệm khách quan và các
loại hình thức đánh giá khác
+ Kết hợp việc đánh giá của người
dạy với việc tự đánh giá của
21
DH theo truyền thống DH theo định hướng đổi mới
giá.
+ Chú trọng kiến thức bỏ qua
thực hành vận dụng (đặc biệt
là vận dụng vào những tình
huống gắn với đời sống), chú
trọng kĩ năng viết, bỏ qua các
kĩ năng khác.
- Mức độ: nặng về tái hiện.
người học.
+ Chú trọng cả kiến thức và thực
hành vận dụng (đặc biệt là vận dụng
vào những tình huống gắn với đời
sống), phát triển cả 4 kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết.
- Mức độ: đánh giá các mức độ
nhận biết, thông hiểu và vận dụng
(gồm vận dụng tái tạo và vận
dụng sáng tạo).
1.3.3. Đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở nhà trường THCS
Đổi mới PPDH môn Ngữ văn là thay đổi, kế thừa các PPDH môn Ngữ
văn truyền thống và tiếp thu những PPDH môn Ngữ văn mới một cách linh
hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong
giai đoạn hiện nay [22].
tả thiên nhiên, do ảnh hưởng hội họa Trung Quốc, cho nên ngôn ngữ miêu tả
cũng phải “thi trung hữu họa”. Những bức tranh tả cảnh thiên nhiên: đường
nét chỉ là vài nét chấm phá đơn sơ; màu sắc hài hòa không chói chang, rực
rỡ… Quy phạm như thế, Văn học Trung đại bao giờ cũng lấy thiên nhiên
làm chuẩn mực để ca ngợi vẻ đẹp của con người. Tác dụng làm cho ngôn
ngữ bóng bẩy, câu chữ hàm súc thích hợp với thị hiếu của người xưa. Quy
trình tìm hiểu các tác phẩm Văn học Trung đại:
23
- Cho HS tiếp xúc với tác phẩm (tác giả, hoàn cảnh sỏng tỏc…)
- Đọc giải mã (diễn ra thành văn xuôi). Trong nhà trường chỉ chú ý
phân tích tác phẩm không chú ý giải mã tác phẩm. Ví dụ: Đoạn Vũ Nương
thề bồi; Chị em Thúy Kiều “Đầu lòng hai ả tố nga” > ả (tiếng địa phương
là chị- thân mật), tố nga (người con gái đẹp- trân trọng > hai người con gái
bình dị nhưng rất đáng trân trọng; “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” ->Vẻ thanh
tú, tao nhã như mai, tâm hồn trong trắng như tuyết; “Một hai nghiêng nước
nghiêng thành”…. -> vẻ đẹp làm cho thành xiêu, nước đổ; “Phong lưu rất
mực hồng quần”… -> thiếu nữ ngày xưa mặc quần hồng; “cập kờ”…->
13,14 tuổi đó cú người để ý; “tường đông ong bướm đi về mặc ai”…->
tường nhà hàng xóm bên cạnh - hàng xóm ai đi về, trêu chọc không để ý…
Khi dạy các tác phẩm truyện hiện đại cần lưu ý HS tiếp cận truyện từ
góc độ tình huống (hoàn cảnh, tình thế bất thường đặt con người phải đứng
trước sự lựa chọn hành động; biến thái tõm trạng…Vớ dụ: Về cách tiếp cận
một số truyện từ góc độ tình huống:
+ Truyện “Chiếc lá cuối cựng” (O.Hen ri): Tình huống chính là chiếc
lá cuối cùng vì: Chiếc lá vốn là một sinh vật của tự nhiên, nhân vật Giôn - xi
lại vận vào sinh mệnh của mình. Nghĩa là lỏ cũn thỡ người cũn, lỏ rụng thì
người chết. Từ đó dẫn đến hành động vẽ chiếc lá để cứu người của cụ Bơ -
men. Và chiếc lá cuối cùng trở thành kiệt tác.
+ Truyện “Làng” (Kim Lân): Tình huống chính là tin thất thiệt-
Làng Dầu theo Tây- khiến nhân vật ông Hai từ chỗ luôn tự hào, kiêu hãnh
học những tri thức phổ thông của nhân loại, góp phần hình thành nhân cách
con người. Đối với môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt bởi nó trực tiếp góp phần
25