MỤC LỤC
MỞ ÐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2. Nội dung quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý đổi mới phương pháp
dạy học ở các trường trung học cơ sở ở quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát giáo dục ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
ở các trường trung học cơ sở quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội
2.3. Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn ở các trường trung cơ sở quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội
Chương 3. YÊU CẦU, BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Yêu cầu quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ
văn ở các trường trung cơ sở quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội
3.2. Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở quận Hà Đông,
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phương pháp dạy học là một trong những thành tố quan trọng của quá
trình dạy học, có vai trò quyết định đối với chất lượng, hiệu quả quá trình dạy
học. Trong nhà trường hiện đại, phương pháp dạy học có sứ mạng tạo ra môi
trường, điều kiện và các cơ hội để người học hoạt động, nhận thức, trải
nghiệm, giao tiếp, làm việc hợp tác, cảm nhận và tư duy chủ động trước
những vấn đề học tập để đạt được hiệu quả nhất mục tiêu dạy học.
Hiện nay, trong xu thế đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH là đòi hỏi
khách quan, là một nội dung chủ yếu trong đổi mới “căn bản, toàn diện về
giáo dục” ở các nhà trường. Nghị quyết Đại hội XII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh
mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc
học” [8, tr.131]. “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học hình
thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo
đảm trung thực, khách quan” [9, tr.117].
Đổi mới PPDH không phải chỉ là hoạt động của giáo viên và học sinh,
mà hiệu quả của nó phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý. Các nhà quản
lý có vai trò quan trọng việc lập kế hoạch, triển khai thực thi, kiểm tra đánh
giá hoạt động đổi mới PPDH trong nhà trường. Những hoạt động chỉ từ phía
các nhà quản lý như: quản lý hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh, tổ
chức viết sáng kiến kinh nghiệm; quản lý sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học;
tổ chức các hội giảng, thi giáo viên giỏi, học sinh giỏi,… có ảnh hưởng trực
tiếp đến đổi mới PPDH trong nhà trường.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trung học cơ sở có vị trí quan
trọng, là cơ sở nền tảng vững chắc cho việc hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách học sinh cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ để học tiếp bậc học
cao hơn và hòa nhập xã hội hiện đại. Để đáp ứng mục tiêu giáo dục của trung
học cơ sở cần phải đổi mới toàn diện quá trình dạy học trong đó đổi mới
PPDH được xem là vấn đề cốt lõi.
4
Đổi mới PPDH và quản lý đổi mới PPDH đã thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, quản lý đổi mới
PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS quận Hà Đông chưa có công trình
nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể.
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên đây, chúng tôi chọn: “Quản lý
đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt
nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
về đổi mới PPDH và quản lý đổi mới PPDH.
Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Đình Kiểm, Đặng Thành Hưng,
Phan Trọng Luận, Hồ Ngọc Đại,… đã nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới
PPDH. Các công trình đã làm rõ sự cần thiết phải đổi mới PPDH trong xu thế
đổi mới giáo dục; làm rõ các mô hình lý thuyết về các PPDH cụ thể, đặc biệt
là các PPDH hiện đại và cách thức sử dụng các PPDH trong quá trình dạy học
nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
Tác giả Đặng Thành Hưng (2002), với cuốn sách: “Dạy học hiện đại –
Lý luận – Biện pháp – Kỹ thuật” đã đề cập đến nhiều vấn đề về lý luận dạy
học trong đó có phương pháp dạy học. Tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ
bản về lý thuyết của các phương pháp dạy học; làm rõ mô hình các phương
pháp dạy học truyền thống và hiện đại.
Tác giả Thái Duy Tuyên (2008) với cuốn sách: “PPDH truyền thống
và đổi mới” đã đề cập đến nhiều vấn đề về đổi mới PPDH trong các nhà
trường hiện nay, đề cập đến vấn đề tái hiện và sáng tạo trong dạy học, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh,… Đặc biệt, ở chương 16, tác giả
đã đi sâu nghiên cứu làm rõ vai trò của hiệu trưởng về đổi mới PPDH ở các
Cùng với các công trình nghiên cứu của các tác giả trên, còn nhiều luận
văn, luận án đề cập đến vấn đề quản lý đổi mới PPDH. Chẳng hạn như: Luận
6
văn với đề tài “Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm đổi mới
PPDH ở các trường THPT tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh”
của tác giả Lê Thành Hiếu, năm 2006; “Những biện pháp cải tiến quản lý hoạt
động dạy học của Hiệu trưởng trường tiểu học quận Tân Phú, Thành phố Hồ
Chí Minh trong giai đoạn phát triển hiện nay” của tác giả Trần Thị Nga, năm
2006; “Những biện pháp quản lý đổi mới hoạt động dạy học của Hiệu trưởng
các trường THCS huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” của tác giả Ngô Hoàng
Gia, năm 2007; “Biện pháp quản lý đổi mới PPDH của hiệu trưởng ở Trường
Trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy” của tác giả Nguyễn Văn Khởi
năm 2010, “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn của các
trường THCS thuộc Nam Từ Liêm, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Phương
Thảo năm 2015,…
Những công trình nghiên cứu trên của các tác giả đã đề cập PPDH qua
từng giai đoạn và thời kỳ phát triển đất nước. Tiếp nhận, củng cố và hoàn
thiện đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, trình độ giảng dạy
của GV và hiệu quả tiếp thu kiến thức của HS. Các công trình của các tác giả
trên, ít nhiều có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài; tuy nhiên chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn ở các THCS quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Đề tài “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các
trường trung học cơ sở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” đi sâu phân tích,
đánh giá các đặc điểm, nội dung quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các
trường THCS, thực trạng quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường
THCS và đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các
trường THCS quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
ở các trường THCS. Hiệu quả đổi mới PPDH nói chung, đổi mới PPDH môn
Ngữ văn ở các trường THCS quận Hà Đông, thành phố Hà Nội nói riêng phụ
thuộc vào nhiều yếu tố; trong đó phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý. Nếu
trong quá trình quản lý, các chủ thể thực hiện tốt các vấn đề như: nâng cao
8
nhận thức, ý thức trách nhiệm cho các chủ thể; kế hoạch hóa hoạt động đổi
mới phương pháp; quan tâm bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên; kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới phương pháp; thường xuyên sơ
tổng kết rút kinh nghiệm thì hiệu quả đổi mới PPDH sẽ được nâng cao.
6. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về giáo dục. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng
các cách tiếp cận: Hệ thống - Cấu trúc, Lịch sử - Lôgic và quan điểm thực tiễn
trong nghiên cứu khoa học giáo dục.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận
chuyên ngành, liên ngành và nghiên cứu các tài liệu kinh điển; các văn kiện
nghị quyết, chỉ thị, quy chế của Đảng các cấp; các văn bản pháp luật, chính
sách của Đảng, Nhà nước; phân tích các văn bản, báo cáo, tổng kết về giáo
dục THCS của Phòng Giáo dục - Đào tạo quận Hà Đông; các trường THCS
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề
nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát tiếp cận và xem xét hoạt động quản lý dạy học môn Ngữ văn
ở các trường THCS trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; khảo sát,
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Hiện nay còn có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học.
Tựu chung lại có thể hiểu phương pháp dạy học như sau:
Phương pháp dạy học là tổng hợp cách thức phối hợp, tác động qua lại
lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh; nhằm trang bị kiến thức; phát triển kỹ
năng, kỹ xảo và giáo dục nhân cách cho học sinh.
Môn Ngữ văn là môn học được tổ chức từ các bộ môn Văn học, Tiếng
Việt, Tập làm văn theo tư tưởng tích hợp. Tích hợp đây hiểu theo nghĩa là liên
kết tri thức để chúng thúc đẩy nhau tạo thành tri thức mới. Tích hợp ngôn ngữ
với văn tự (chữ viết), ngôn ngữ với bài văn (văn bản), ngôn ngữ với văn học,
ngôn ngữ với văn hoá, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, ngôn ngữ với lời nói.
Tích hợp các phương diện ấy mới nâng cao năng lực ngôn ngữ và văn học cho
học sinh. Hai tính chất của Ngữ văn: tính công cụ, tính nhân văn. Tính công
cụ thể hiện ở yêu cầu dạy cho học sinh năng lực sử dụng Ngữ văn như một
công cụ giao tiếp, bao gồm các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Nghe gồm năng
lực chú ý, nghe hiểu bài giảng, lời phát biểu, lời thảo luận... Nói gồm năng lực
phát biểu trên lớp, thảo luận, phỏng vấn, trả lời câu hỏi, kể chuyện thuyết
minh vấn đề… Đọc bao gồm đọc văn học và đọc các loại văn khác. Viết bao
gồm năng lực viết các văn bản nghị luận xã hội, nghị luận văn học, viết bản
tóm tắt, văn bản thuyết minh… Các tính chất khác của môn Ngữ văn: tính
tổng hợp, tính thực tiễn, tính tri thức, tính thẩm mĩ, tính xã hội. Ngữ văn là
một môn học trong chương trình giáo dục phổ thông.
Nội dung mang tính tích hợp Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn và các
môn học khác như môn Sử, Giáo dục công dân…. Ngoài ra phương pháp dạy
11
12
tưởng tượng, khả năng nhập vai, khả năng sống trong một thế giới khác, một
cuộc đời khác, một sự sống khác dù đó là con người hay con vật, cây cỏ. Hình
thành năng lực thẩm mỹ là sứ mạng đặc thù của môn Văn, trước hết là của
việc dạy văn chương. Dĩ nhiên trong quá trình giảng dạy và tùy từng cấp học
– phổ thông hay phân ban, THCS hay THPT – dạy Văn vẫn cung cấp những
kiến thức về lịch sử văn học, nhà văn và các thể loại, nhưng cũng giống như
việc không được biến dạy tiếng Việt thành dạy ngôn ngữ học tiếng Việt, trong
việc dạy Văn cũng không được biến dạy văn chương thành dạy khoa học về
văn chương, dạy về nghiên cứu văn học. Đây cũng chính là một nguyên nhân
giải thích vì sao môn Văn trong nhà trường hiện nay quá nặng và học sinh
không thích học. Dạy Văn trong nhà trường phổ thông chủ yếu là dạy tác
phẩm. Tác phẩm, văn bản là nguyên liệu chính để hình thành năng lực thẩm
mỹ ở học sinh. Tuy cũng là những loại hình nghệ thuật, nhưng sỡ dĩ văn học
được đưa vào giảng dạy ở nhà trường như một môn học chính chứ không phải
hội họa hay âm nhạc một phần vì do nó gắn với ngôn ngữ (tiếng Việt), một
phần vì nó là loại hình nghệ thuật vừa tiêu biểu vừa phổ biến, gần gũi, có thể
đại diện cho kiểu sáng tạo đặc biệt của con người – sáng tạo nghệ thuật. Bởi
vậy dạy Văn chủ yếu không phải là trang bị những tri thức về văn mà dùng
việc dạy Văn, trước hết là dạy tác phẩm văn chương, như một phương tiện,
một cách thức để đạt đến một mục đích lớn hơn là phát triển năng lực thẩm
mỹ của học sinh, hình thành ở học sinh một cách cảm, cách nghĩ mang đậm
tính sáng tạo, tính cá nhân và thiên về hướng nội. Ở đây văn chỉ là chất liệu,
là một trường hợp cụ thể. Nếu hiểu như vậy, từ cách dạy đến cách ra đề thi,
kiểm tra sẽ hoàn toàn khác và lúc đó chắc chắn việc dạy Văn sẽ khắc phục
được tình trạng nhàm chán khá phổ biến như hiện nay.
Thứ ba, bồi dưỡng tâm hồn và phát triển nhân cách cho học sinh. Tác
phẩm văn chương là kết quả của sự sáng tạo đặc sắc, chứa đựng các giá trị
nói, đọc, viết, mà chủ yếu là đọc (nghe) và viết (nói), cụ thể là đọc (nghe) văn
14
và làm văn (viết và nói). Hoạt động giảng của thầy là một phương tiện dạy
học, nhưng không phải là phương pháp cơ bản của việc dạy học Ngữ văn.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu:
Phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS là tổng hợp
cách thức phối hợp, tác động qua lại lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh
trong quá trình dạy học môn Ngữ văn; nhằm thực hiện tốt các mục tiêu dạy
học môn Ngữ văn ở bậc học THCS.
Đặc điểm phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS là
tổng hợp các cách thức biện pháp phối hợp giữa hoạt động của giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy và học môn Ngữ văn.
Cách thức dạy của giáo viên và cách thức học của học sinh quan hệ
chặt chẽ biện chứng. Chính sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học là một
trong những quy luật của quá trình dạy học. Nó phản ánh mối quan hệ gắn
kết, mối quan hệ giữa thầy với tư cách người tự tổ chức tự điều khiển, lãnh
đạo và trò với tư cách người tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, ta
có thể biểu diễn mối quan hệ thầy - trò trong quá trình dạy học theo sơ đồ sau:
15
Trong quá trình dạy học giáo viên không giới thiệu toàn bộ tri thức
ngay lập tức, mà thường chỉ giới thiệu những vấn đề cơ bản để học sinh nắm
vững. Sau đó củng cố và bổ sung mở rộng khối lượng tri thức. Quá trình dạy
học diễn ra “sự tương tác” trên lớp giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt
động học của học sinh. Như vậy, việc dạy và học mới mang lại kết quả, bổ
mới PPDH môn Ngữ văn ở THCS diễn ra lâu dài, là hoạt động sáng tạo hàng
ngày của cả giáo viên và học sinh.
Nội dung đổi mới PPDH môn Ngữ văn bao gồm:
Một là, đổi mới về cách dạy của giáo viên cần hướng đến làm thay đổi
tính chất hoạt động nhận thức của học sinh.
Hai là, đổi mới cách học của học sinh, bằng việc tăng cường hoạt động
tự học, tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động.
Ba là, tăng cường thực hành, tăng cường rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức để giải quyết những vấn đề của thực tế đời sống; tăng cường sử
dụng các PTKT hiện đại vào dạy học.
Bốn là, tăng cường mối quan hệ giữa trí tuệ và tâm hồn, giữa tư duy và
cảm xúc: dạy học phải tác động vào tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh.
Biện pháp đổi mới PPDH được thực hiện theo hai hướng cơ bản: cải
tiến, hoàn thiện các PPDH truyền thống và nghiên cứu, vận dụng các PPDH
tiên tiến, hiện đại vào thực tiễn quá trình dạy học.
1.1.3. Khái niệm quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
ở các trường trung học cơ sở
Quản lý là một hoạt động phổ biến trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Theo nghĩa chung nhất, quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức
của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng
và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ
hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.
17
Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động cơ bản trong toàn bộ các lĩnh vực
đời sống xã hội. Để hoạt động giáo dục có chất lượng và hiệu quả cần thiết
phải quản lý. Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể
trường THCS. Trong đó, chủ thể trực tiếp có vai trò quan trọng nhất là hiệu
trưởng, các phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ chuyên môn, giáo viên và học sinh.
Nội dung quản lý hoạt động đổi mới PPDH ở THCS bao gồm: quản lý
xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH; quản lý tổ chức thực hiện hoạt động đổi
mới PPDH; quản lý hoạt động đổi mới PPDH của tổ chuyên môn; kiểm tra
hoạt động đổi mới PPDH; kích thích tạo động lực trong đổi mới PPDH.
Phương pháp quản lý đổi mới PPDH bao gồm các phương pháp quản
lý: các phương pháp tâm lý - giáo dục; các phương pháp hành chính; các
phương pháp kích thích tạo động lực.
Các phương tiện quản lý đổi mới PPDH bao gồm: Chế định giáo dục đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn tài lực - vật lực dạy học,
hệ thống thông tin và môi trường dạy học... trong các trường THCS.
1.2. Nội dung quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở
các trường trung học cơ sở
1.2.1. Xây dựng ý thức, trách nhiệm của các chủ thể trong thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Nhận thức và thái độ, ý thức trách nhiệm của các chủ thể có vị trí quan
trọng trong đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS; do vậy, để quản
lý đổi mới PPDH ở THCS, trước hết các chủ thể quản lý phải quản lý về nhận
thức và thái độ, ý thức trách nhiệm của các chủ thể thực hiện đổi mới PPDH.
Trong thực hiện đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THCS,
giáo viên và học sinh là chủ thể trực tiếp thực hiện; do vậy, các chủ thể quản
lý cần quan tâm quản lý về nhận thức, thái độ của giáo viên và học sinh trong
đổi mới PPDH.
Với giáo viên, các chủ thể quản lý cần quản lý nhận thức của họ trên
những nội dung như: sự cần thiết đổi mới PPDH; nhận thức về lý thuyết và
19
cách thức tiến hành các PPDH; nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới PPDH
với các thành tố khác của quá trình dạy học. Các chủ thể quản lý cần tác động
hướng dẫn thực hiện của các cấp quản lý giáo dục và căn cứ vào điều kiện
thực tế của nhà trường về tổ chức bộ máy, về nguồn lực và các điều kiện
khác, để xây dựng kế hoạch hoạt động đổi PPDH. Kế hoạch phải mang tính
cụ thể, tức là xác định được mục tiêu cần đạt, dự kiến được nguồn lực để thực
hiện (nhân lực, tài lực, vật lực), phân bố thời gian hợp lý và quyết định những
biện pháp có tính khả thi để thực hiện.
1.2.3. Tổ chức, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Tổ chức hoạt động đổi mới PPDH môn Ngữ văn là quá trình phân phối
và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện
tốt các mục tiêu về đổi mới PPDH đã đề ra. Chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH
môn Ngữ văn là quá trình tác động cụ thể của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng
phụ trách môn xã hội, tổ trưởng tổ Xã hội tới các thành viên của nhà trường,
nhằm biến những nhiệm vụ chung về đổi mới PPDH của nhà trường thành
hoạt động thực tiễn của từng người.
Chức năng tổ chức, chỉ đạo có vai trò định hướng và hiện thực hóa mục
tiêu kế hoạch và tạo nên sức mạnh của tập thể, nếu việc phân phối và sắp xếp
các nguồn lực được tổ chức một cách khoa học và hợp lý. Do vậy, trong quản
lý đổi mới PPDH Ngữ văn ở các trường THCS các chủ thể quản lý cần phải
quản lý tốt việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH Ngữ văn.
Để quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH Ngữ văn, các chủ
thể cần quản lý các nội dung cụ thể như: sự phân quyền và phân nhiệm cho
phó hiệu trưởng và tổ chuyên môn; quản lý việc xây dựng và phát triển đội
ngũ nhân sự; quản lý những quy định về cơ chế hoạt động phối hợp giữa
chuyên môn với các đoàn thể trong nhà trường, cùng bảo đảm thực hiện mục
tiêu đã đề ra; quản lý sự phân bổ nguồn lực và quy định thời gian cho các bộ
phận nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định.
Trong quá trình hoạt động của nhà trường, các chủ thể quản lý cần phải
21
Quản lý đổi mới phương pháp học tập của học sinh, bao gồm: quản lý
động cơ, thái độ học tập, quản lý phương pháp học tập ở trường cũng như ở
nhà. Quản lý đổi mới phương pháp học tập của học sinh cần tạo điều kiện để
hình thành phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng tự học, bồi dưỡng thói
quen, ý chí tự học của học sinh thông qua cách tổ chức hoạt động trong giờ
học, từ đó hình thành, rèn luyện cho học sinh ý thức chủ động, sáng tạo trong
học tập cùng phương pháp tự nghiên cứu, phương pháp đọc sách, đọc tài
liệu,... khơi dậy lòng say mê học tập, làm bộc lộ và phát triển năng lực tiềm
tàng trong mỗi học sinh.
1.2.5. Kiểm tra, đánh giá đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ
văn
Kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH Ngữ văn là quá trình xem
xét thực tiễn, để phát hiện đánh giá thực trạng về đổi mới PPDH, khuyến
khích những nhân tố tích cực, phê phán những lệch lạc và đưa ra quyết định
điều chỉnh kịp thời, nhằm giúp các bộ phận và các cá nhân đạt được các mục
tiêu về đổi mới PPDH Ngữ văn đã đề ra. Kiểm tra, đánh giá có vai trò rất
quan trọng trong quản lý đổi mới PPDH Ngữ văn ở các trường THCS; do vậy
các chủ thể quản lý cần phải hết sức quan tâm đến nội dung này.
Kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH Ngữ văn được thực hiện
trên các nội dung: kiểm tra việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đổi mới
PPDH của môn Ngữ văn; kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn và
giáo viên trong đổi mới PPDH; kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng năng lực sử
dụng PPDH, kỹ thuật dạy học hiện đại của giáo viên và kiểm tra, đánh giá kết
quả đổi mới PPDH Ngữ văn.
Trong quá trình thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH
Ngữ văn ở THCS, các chủ thể quản lý cần phải xác định được chuẩn kiểm tra,
đo lường việc thực thi nhiệm vụ, so sánh, đối chiếu với mục tiêu đã đề ra và
đưa ra quyết định điều chỉnh cần thiết. Cần thường xuyên đánh giá, sơ kết
23
24
PPDH, bao gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học,
giáo dục; năng lực thiết kế kế hoạch dạy học, giáo dục; năng lực tổ chức thực
hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; năng lực giám sát, đánh giá kết quả hoạt
động dạy học, giáo dục; năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực
tiễn dạy học, giáo dục.
Đây là những năng lực cơ bản của người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn
đến đổi mới PPDH; trong đó, năng lực chuẩn bị giáo án, lên lớp, giảng bài, tổ
chức hoạt động trên lớp và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là
những năng lực quan trọng nhất.
* Phẩm chất và năng lực của học sinh
Phẩm chất và năng lực học sinh có ảnh hưởng quan trọng đến việc
quản lý PPDH Ngữ văn. Nếu học sinh chăm, ngoan, có động cơ và ý chí học
tập tốt, lại thông minh, sắc sảo và được lựa chọn cẩn thận về trình độ học vấn
như các trường chuyên, lớp chọn thì cách tổ chức, quản lý đổi mới PPDH
được diễn ra thuận lợi. Ngược lại, học sinh thiếu thái độ, động cơ học tập
tốt… thì sẽ rất khó khăn trong quản lý đổi mới PPDH Ngữ văn ở THCS.
Việc xác định phẩm chất và năng lực học sinh là một công việc phức
tạp, vì nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố: mặt sinh học, mặt xã hội, thành phần
dân cư, bản sắc văn hoá địa phương... Vì vậy, các chủ thể quản lý cần tiến
hành điều tra khảo sát khá cẩn thận để nắm vững đối tượng các lớp đầu cấp
học, đầu năm học, nhằm xây dựng kế hoạch dạy học được sát đúng.
1.3.2. Các yếu tố khách quan tác động đến quản lý đổi mới phương
pháp dạy học ở trường trung học cơ sở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Có nhiều yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình quản lý đổi mới
PPDH ngữ văn ở trường THCS. Sau đây là một số yếu tố cơ bản:
* Chính sách, chủ trương về đổi mới phương pháp dạy học
Nghị quyết của các đại hội Đảng toàn quốc đã định hướng cho việc đổi
Trong xu thế đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH là đòi hỏi khách quan ở
các nhà trường nói chung, các trường THCS nói riêng. Đổi mới PPDH ở các
trường trung học cơ sở là quá trình tác động làm thay đổi, chuyển biến PPDH
theo chiều hướng tiến bộ; khắc phục tình trạng lạc hậu về cách dạy và cách
học; đáp ứng với yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học ở các
trường THCS.
26