SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
Một số biện pháp dạy – học môn Ngữ văn ở trường THPT hiệu quả
Dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn với
GV hiện nay. Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả cao, tạo sự hứng
thú, say mê cho HS quả thực là cả một vấn đề lớn. Việc HS không
thích thú với môn văn cũng có nhiều lí do, tuy nhiên có một nguyên
nhân khá quan trọng đó là: Thầy cô giáo chưa thực sự tạo ra sự
cuốn hút HS bằng bài giảng của mình. Thầy cô chưa thực sự có
nhưng bước ngoặt đột phá trong việc đổi mới phương pháp, vẫn
nặng về phương pháp truyền thống thế nên việc dạy và học chưa
thực sự hiệu quả.
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
Tiết học môn Ngữ Văn của học sinh trường THPT Đồng Đậu
Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của HS,
hơn ai hết việc phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính
tích cực sáng tạo của người học, tạo niềm hứng thú say mê học tập ở các
em chính là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người GV đứng lớp.
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần
Học là... thảo luận. Khác với việc chỉ dừng lại ở dựng tiểu phẩm tham
dự các hội thi, sân khấu hóa tác phẩm văn học được thực hiện tại từng
lớp học và trở thành một phần của bài học. Sau phần diễn kịch hs các
nhóm sẽ cùng thảo luận về một số vấn đề trọng tâm của bài học. Với
cách thức này, tất cả học sinh đều phải đọc tác phẩm để nắm nội dung,
tìm những chi tiết đắt giá góp ý cho kịch bản.
Việc dựng lại những câu chuyện trong bối cảnh thực tại của hàng chục
năm trước trong cái nhìn mới mẻ của chính các em học sinh đã thổi
luồng gió mới vào tác phẩm văn học, khiến tác phẩm văn học không xa
rời thực tế cuộc sống hiện tại, không nhàm chán, đơn điệu mà có sức
hấp dẫn mới. Từ đó rút ra ý nghĩa của tác phẩm hay trích đoạn tác phẩm
để tất cả học sinh cùng nắm bắt và thấu hiểu.
Nhiều tác phẩm văn học ở các thể loại từ cổ tích (lớp 10), tự sự, văn
học hiện đại… có thể được lựa chọn đê sân khấu hóa cụ thể như: Lớp
10 “Tấm Cám”, “Trọng Thủy – Mị Châu”, văn học tự sự, hiện đại Lớp
11 như “Vào phủ chúa trịnh” và “Chí Phèo”, kịch: “ Vĩnh biệt Cửu
trùng Đài”, “Tình yêu và thù hận”, Lớp 12 “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt”, truyện : “Chiếc thuyền ngoài xa.”…. Những tác phẩm này được
các em hs chuyển sang dạng kịch, phân vai và diễn xuất. Ngoài đầu tư
cho diễn xuất, đa số các lớp tôi dạy đều đầu tư thêm trang phục, đạo cụ
để phần biểu diễn thêm sinh động và chân thật, truyền tải hết nội dung,
ý nghĩa của tác phẩm đến người xem.
Trong các năm qua thực tế giảng dạy, có nhiều nhóm học sinh của tôi đã
chọn Chí Phèo để sân khấu hóa. Nhưng điều làm tôi rất ngạc nhiên là
các em không bị lặp lại, “Chí Phèo” của năm trước khác biệt với “Chí
Phèo” của năm sau. Mỗi nhóm học sinh nhìn nhận theo một cách riêng,
mỗi nhóm chọn những điểm nhấn khác nhau. Bởi vậy, chính các em đã
là “đồng sáng tạo” với nhà văn”.
Trong năm học 2016-2017, khi giảng dạy tác phẩm Chí Phèo, bằng
cách Sân khấu hóa tác phẩm văn học, tôi nhận thấy các em rất hào hứng
xây dựng môi trường sống nhân ái ? Để xây dựng môi trường ấy em sẽ
làm gì ?
Như vậy, việc sân khấu hóa tác phẩm văn học là một sáng tạo
trong phương pháp dạy học văn mà tôi nghĩ không chỉ tạo được hứng
thú trong học tập mà còn đem đến hiệu quả trong việc tự học của hs.
Học văn bằng diễn kịch, bằng múa, bằng âm nhạc… giúp học sinh có
thêm nhiều cơ hội tiếp cận và cảm thụ văn bản theo nhiều cách khác
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
nhau. Cách học này khơi dậy lòng yêu thích môn Văn, phát huy khả
năng tổ chức, biên kịch, diễn xuất của học sinh.
Theo tôi, đổi mới đối với môn Văn trước hết phải thoát khỏi cách học
một chiều thầy cứ đọc và trò cứ chép, những bài làm văn của các em lại
được đi sao chép, cóp nhặt. Chỉ khi các em được trải nghiệm, được hóa
thân vào tác phẩm, nhân vật thì mới có thể khắc sâu vào tâm hồn, suy
nghĩ của các em, mới có thể yêu thích môn Văn. “10 giờ dạy học một
chiều không bằng 2 giờ các em tự tìm tòi, thể hiện. Chắc chắn những
bài học này, những bài văn này sẽ theo các em suốt cuộc đời”.
2. Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy
học tích cực.
a. Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp dạy học tích
cực.
sát, đôn đốc, nhắc nhở...Yêu cầu thực hiện :Mỗi thành viên trong nhóm
đều được tham gia bàn luận, được lắng nghe , tránh căng thẳng hoặc
người được nói quá nhiều, làm việc quá nhiều. Mọi thành viên đều tích
cực làm việc.Trình bày kết quả: Đại diện nhóm trình bày kết quả các
thành viên bổ sung thêm. Các nhóm khác nhận xét, bổ sung, hỏi thêm.
Gv đúc kết , bổ sung, nhấn mạnh, kết luận.
Thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục, nhiều gv đã sử dụng
phương pháp này. Song qua việc dự giờ đồng nghiệp , tôi thấy rằng
nhiều người có sử dụng phương pháp này chỉ mang tính hình thức, chưa
đem lại hiệu quả giáo dục. Có tình trạng thảo luận nhóm nhưng chỉ có
một, hai người trong mỗi nhóm là làm việc còn những thành viên khác
ngồi chơi hoặc không tích cựa. Khi nhận xét kết quả có tình trạng qua
loa, quá nhanh khiến học sinh trong lớp không nắm bắt được đâu là nội
dung đúng, sai, trọng tâm cần nắm... Chính vì vậy để phương pháp này
đem lại hiệu quả, góp phần khơi dậy sự hào hứng trong học tập theo tôi,
người gv cần chủ động tổ chức thảo luận nhóm một cách linh hoạt. Tùy
từng đơn vị kiến thức, quỹ thời gian trong bài học mà chọn phương
pháp thảo luận nhóm cho phù hợp.
Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy rằng khi dạy các bài Tiếng Việt,
Làm văn mà có phần thực hành hay chữa bài tập thì việc sử dụng
phương pháp này rất hiệu quả, tạo được sự hứng thú cho hs, tránh nhàm
chán, lớp trầm lắng. Đặc biệt tránh tình trạng day những bài này theo
cách truyền thống, bài thực hành, luyện tập nhưng chỉ là GV thực hành,
luyện tập là chính, còn các em thì lại xem thực hành, xem luyện tâp. Để
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
tượng) đang được xã hội quan tâm ( như: vệ sinh an toàn thực phẩm,
bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai…)
Tôi yêu cầu cả lớp thực hành làm bài tập. Sau đó cứ 2 bạn cùng bàn
là một nhóm. Trong nhóm đổi bài cho nhau và sửa bài cho nhau. Các
em ai cũng được đóng vai là thầy, là cô để sửa bài cho trò cho bạn của
mình. Tôi đưa ra các tiêu chí sửa cho các em: nhận xét, sửa chữa, chấm
điểm. Nhận xét, sửa lỗi về nội dung kiến thức: đúng chủ đề, đầy đủ, sâu
sắc. Nhận xét, sửa lỗi về nội dung kỹ năng: Đúng hình thức một đoạn
văn, có sử dụng tháo tác lập luận bình luận. Cách dùng từ, đặt câu, diễn
đạt rõ rang lưu loát. Lỗi chính tả… Qua thực tế bài dạy ở hai lớp 11A6
và 11A8 tôi thấy các em rất hào hứng và tích cực làm công việc của
mình. Các em còn thấy vui và hứng khởi vì mình không chỉ tham gia
vào quá trình học mà còn tham gia vò quá trình “dạy”.
Vận dụng linh hoạt, hiệu quả phương pháp hương pháp Đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. `Đây là phương
pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung
vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được.
Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều
quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau: Giáo viên nêu chủ đề, chia
nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm. Trong đó có
Đài(Trích Vũ Như Tô), tôi cũng yêu cầu các em làm bài tập: Chọn ít
nhất 8 lời thoại liền tiếp trong đoạn trích , nhập vai các nhân vật trình
bày cảnh đoạn đã chọn qua hình thức một màn kịch ngắn.
Ở cả hai bài trên, tôi đều kết hợp với phương pháp Đóng vai với
phương pháp Thảo luận nhóm, yêu cầu các em trong nhóm chuẩn bị
tích cực, chu đáo. Đến giờ học, khi yêu cầu thực hiện bài tập, các em tỏ
ra rất hào hứng, sôi nổi. Thật bất ngờ là có một nhóm cuối lớp có những
em tính cách rất trầm, ít thể hiện trước đám đông nhưng lần này bị phải
thể hiện vai diễn mà lại diễn rất đáng yêu, dù còn nhiều vụng về và chut
rụt rè nhưng rất thuộc lời thoại nhân vật mà mình diễn nên lại thành
công. Đó là nhóm của em Hải và em Hiếu lớp 11A5. Và tôi đã động
viên, khích lệ cho tinh thần học tập của nhóm này là mỗi em ghi được 8
điểm.
Khi dạy bài Tôi yêu em của Puskin, phần kết thúc bài học, tôi tích hợp
giáo dục kỹ năng sống cho hs bằng cách dùng phương pháp Đóng vai.
Câu hỏi như sau: Giả sử em là nhân vật trữ tình trong bài thơ, có một
tình yêu tha thiết, nồng nàn, mãnh liệt nhưng đó chỉ là một tình yêu đơn
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
phương từ phía em mà không được bạn nữ đáp lại. Vậy khi tình cảm
không được đáp lại như thế, em sẽ có thái độ ra sao và có cách ứng xử
như thế nào?
Như vậy, vào một “ vai giả định” như trên học sinh có điều kiện được
trình bày, bộc lộ những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử của bản thân.
- Theo em, để cứu lấy những con người như Chí Phèo thì xã hội cần
phải làm gì? Qua hình tượng nhân vật bất hủ Chí Phèo, theo em Nam
Cao muốn đề cập tới một vấn đề quan trọng nhất là gì? (Nhóm 1+2)
- Nếu được viết lại kết truyện Chí Phèo, em sẽ viết lại như thế nào?
(Nhóm 3+4)
- Nếu trong lớp ta có một “Chí Phèo” thì chúng ta có kỳ thị như làng
Vũ Đại kỳ thị Chí Phèo của Nam Cao không?( Nhóm 5+6)
Tôi nhận thấy với cách này, thay vì chỉ có 1-2 em được trình bày ý
kiến, suy nghĩ của mình mà tất cả các em buộc phải suy nghĩ, phải viết ý
kiến đó ra trong cùng một khoảng thời gian nhất định. Vừa tiết kiệm
thời gian vừa tạo điều kiện cho nhiều hs cùng hoạt động trong một bài
tập. Cũng tránh được sự nhàm chán và ỷ lại , lười suy nghĩ của các em.
Kĩ thuật “ Hỏi và trả lời”
Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã
học thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi. Kĩ thuật này có thể tiến
hành như sau: GV nêu chủ đề . GV (hoặc 1 HS) sẽ bắt đầu đặt một câu
hỏi về chủ đề và yêu cầu một HS khác trả lời câu hỏi đó. HS vừa trả lời
xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu cầu một
HS khác trả lời. HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho
các bạn cùng lớp,... Cứ như vậy cho đến khi GV quyết định dừng hoạt
động này lại.
Mục đích: Kích thích, dẫn dắt học sinh suy nghĩ , khám phá tri thức,
tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình dạy học. Kiểm tra ,
đánh giá kiến thức của các em và sự quan tâm, hứng thú của các em đối
với nội dung học tập. Thu thập, mở rộng thông tin kiến thức.
Yêu cầu câu hỏi: Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Phù hợp với thời gian
thực tế. Không ghép nghiều câu hỏi cùng thành một câu hỏi móc xích,
Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc...
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
của hs sinh, tôi nhận thấy rằng việc hệ thống kiến thức trong ôn tập hiệu
quả hơn rất nhiều so với cách truyền thống là gv tự hệ thống cho các em
hoặc gv cứ tự đặt câu hỏi và yêu cầu các em cứ trả lời. Thay vì gv hỏi
thì hs sẽ được hỏi, hs sẽ hào hứng và thích thú khi được tham gia vào
quá trình dạy học , giờ học cũng vì thể mà bớt đơn điệu, nhàm chán.
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
Kĩ thuật “Trình bày một phút”
Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt
những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài
trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng
như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các
em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.
Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau: Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết
học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng
nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan
trọng nhất mà chưa được giải đáp?...HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các
câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi HS trình
bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được
và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em
muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.
Kĩ thuật này tôi thường áp dụng ở phần tổng kết bài học nhằm kiểm
tra xem khả năng nắm bắt kiến thức mà các em thu hoạch được và khả
năng vận dụng cũng như kĩ năng diễn đạt khi trình bày một ý, một nội
Một số hình thức lồng ghép trò chơi trong dạy và học Ngữ văn ở
THPT:
Nguyên tắc: Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu
ý mối quan hệ giữa trò chơi với hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt,
hợp lí, đúng mức và đúng lúc để không xáo trộn nhiều không gian lớp
học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc; trò chơi phải
phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả các
tiết học, đôi khi gây phản cảm, phản tác dụng; trò chơi bao giờ cũng kết
thúc bằng thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹ nhàng cho vui
(dí dỏm, tế nhị).
Một số hình thức lồng ghép trò chơi: Xem trò chơi là một hình thức
tổ chức cho một đơn vị kiến thức nhỏ trong giờ học để triển khai ở các
bước khác nhau của bài giảng (phần tìm hiểu chung, tìm hiểu ngữ liệu,
phần đọc - hiểu văn bản, phần luyện tập, củng cố bài…). Tổ chức tiết
học thành một trò chơi lớn đối với một số tiết ôn tập hoặc khái quát.
Một số trò chơi có thể vận dụng lồng ghép trong dạy học Ngữ văn:
giáo viên có thể tự sáng tạo ra những trò chơi phù hợp với tiết học (trò
chơi phát động, trò chơi hoạt động, trò chơi luỵên trí, trò chơi chú ý và
quan sát, trò chơi huy động kiến thức, trò chơi vận dụng kiến thức…),
tự đặt tên trò chơi (theo nguyên tắc vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò
mò của các em. Ví dụ: Ô chữ, nhanh trí-nhanh tay, Bình thơ văn, Tiếp
sức, Hùng biện…
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
Đi guốc trong bụng.
(...)
GV cho hs làm bài tập bằng cách chơi trò chơi: Tiếp sức. Gọi một HS
xung phong giải thích một thành ngữ và đặt câu với thành ngữ đó. Nếu
trả lời đúng thì sẽ được chỉ định mời một hs khác tiếp tục công việc này.
Yêu cầu là người kế tiếp không chọn thành ngữ mà bạn trước đó đã
Giáo viên: Nguyễn Thị Hà
SKKN: Giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy Văn
Trạch
Trường THPT Nhơn
chọn. Như vậy, hs làm bài tập thực hành bớt nhàm chán và hào hứng
tham gia tích cực, sôi nổi, đem lại hiệu quả cho bài học.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
theo định hướng phát triển năng lực, việc áp dụng một số biện pháp dạy
– học hiệu quả trong giờ học Ngữ văn là rất cần thiết . Việc làm này sẽ
có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy của GV và học của HS. Nó sẽ góp
phần nâng cao hứng thú của HS trong mỗi giờ học Ngữ văn, góp phần
nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn. GV giảng dạy Ngữ văn ngoài
việc phải không ngừng tự học để nâng cao chuyên môn, bồi dưỡng kiến
thức lí luận, kiến thức từ thực tế đời sống, còn cần phải thường
xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu thêm về nghệ
thuật sư phạm, tìm tòi các biện pháp tự bồi dưỡng những phương pháp
dạy học tích cực. Với một tiết dạy học cụ thể đòi hỏi GV phải có sự
sáng tạo, lòng yêu nghề. Vận dụng linh hoạt trong từng tiết dạy để