ĐỀ TÀI
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ NGHE NHÌN
VÀO DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1- Sự cần thiết của vấn đề
Nhiều năm qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập đang
trở thành nhu cầu thiết yếu thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiếp tục với niềm đam mê được nghiên cứu ứng dụng các
phương pháp vào việc Đổi mới PPDH môn ngữ văn trong nhà trường, trong đề tài nghiên
cứu này, tôi muốn đề cập đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn ngữ văn
như thế nào cho hiệu quả. Đây cũng là những trăn trở của nhiều đồng nghiệp trong quá trình
dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu tiên tiến của thời đại. Trong quá trình nghiên cứu suy nghĩ
tìm tòi, tôi mạnh dạn tập hợp và đề xướng một số phương pháp ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học môn ngữ văn ở góc độ công nghệ nghe nhìn.
Tên đề tài của tôi là: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ NGHE NHÌN VÀO DẠY HỌC MÔN
NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT. Phạm vi đề tài này là: sử dụng công nghệ thông tin với vai trò
là phương tiện, thiết bị dạy học cho việc dạy học môn ngữ văn trong nhà trường THPT hiện
nay.
Tôi chọn đề tài này xuất phát từ những lý do sau.
- Một là, ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn là thực hiện định
hướng Đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở cấp THPT: “Tăng cường sử dụng các
phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ
thông tin”
- Hai là, thực tế hiện nay, việc trang thiết bị cho dạy học ứng dụng CNTT ở các
trường còn rất mỏng. Đối với các trường huyện, toàn trường chỉ có khoảng từ 01 đến 02
phòng học có trang bị đèn chiếu, máy chiếu để phục vụ cho các tiết dạy ứng dụng CNTT. Do
đó, số tiết dạy này chỉ có thể áp dụng cho các tiết thao giảng, hội giảng với định lượng từ 01
cảm thụ chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh. Mỗi bài, thậm chí mỗi đối tượng tiếp nhận có một
kiểu thiết kế khác nhau. Trong quá trình thiết kế, việc ứng dụng công nghệ nghe nhìn cũng
hết sức phong phú đa dạng thông qua việc chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ: như tranh vẽ,
máy cassette, máy chiếu…
- Cuối cùng, việc ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn được thực
hiện trong toàn bộ các khâu trong qúa trình dạy học, đó là một công nghệ đa phương tiện.
Người dạy và học có thể tiến hành ứng dụng trong dạy học, trong kiểm tra đánh giá, kỹ năng
cảm thụ văn bản văn học; có thể tiến hành dạy và học ở mọi lúc, mọi nơi.
2.2. Cơ sở thực tiễn
- Việc ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào các tiết học văn rất phù hợp với điều kiện
dạy học của giáo viên và học sinh hiện nay, nhất là đối với các trường huyện. Có thể thực
hiện bình thường ở tại lớp học, thực hiện cho tất cả các tiết đọc văn trong chương trình toàn
cấp: lớp 10,11,12.
- Phạm vi ứng dụng đa dạng, dưới nhiều hình thức: kiểm tra bài cũ, tìm hiểu bài mới,
kỹ năng trình bày một vấn đề, kỹ năng cảm thụ văn học, kỹ năng sáng tạo cho học sinh.
- Về cơ sở vật chất: các trang tiết bị vật chất cũng như làm các đồ dùng dạy học rất
đơn giản, ít tốn kém, nhà trường có thể thực hiện dễ dàng như: làm tranh (ép nhựa hoặc tranh
in lụa), máy ghi âm dùng đĩa hoặc USP.
- Nguồn tư liệu và tích lũy tư liệu: Tư liệu lấy chủ yếu từ thông tin trên mạng internet,
giáo viên lựa chọn và xử lý theo mục tiêu bài học. Việc tích lũy tư liệu cũng khá dễ dàng:
Phát động trong tổ, mỗi giáo viên trong mỗi học kỳ tìm kiếm và xử lý tư liệu cho 2-3 bài học.
Giới thiệu cho đồng nghiệp trong tổ để khai thác hiệu quả và đưa vào ứng dụng chung trong
các tiết dạy. Có nơi quản lý và bảo quản thiết bị dạy học.
- Đối với việc chuẩn bị:
Về phía giáo viên: Theo thiết kế bài giảng, lựa chọn và sắp xếp tranh, đồ dùng dạy
học, chuẩn bị máy ghi âm, ghi hình. Giáo viên chủ động trong việc chuẩn bị, giảm sự lệ
thuộc vào việc chuẩn bị phòng máy chiếu và tránh được những sự cố kỹ thuật do sử dụng
CNTT.
Về phía học sinh: Học sinh học theo công nghệ nghe nhìn sẽ có một tâm lý chuẩn bị
bài cũ linh hoạt và tự do hơn, không bị gò bó vào ngôn từ bài học. Đặc biệt với một số bài
luận cục bộ.
PHẦN II: NỘI DUNG
I- MÔ TẢ TÌNH TRẠNG SỰ VIỆC HIỆN TẠI
1- Ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn là nâng cao mối
quan hệ khắng khít giữa các loại hình nghệ thuật
Một văn bản có thể tồn tại dưới nhiều loại hình nghệ thuật. Bởi lẽ, bản thân văn học
cũng là một loại hình nghệ thuật và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với các loại hình nghệ
thuật khác: hội họa, âm nhạc, điện ảnh. Cũng vì thế, các nhà văn, nhà thơ cũng đồng thời có
tài năng trong âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh… Khi sử dụng công nghệ nhe nhìn, không phải chỉ
đơn thuần là tô điểm cho giờ học bằng nghệ thuật tạo hình và âm nhạc, bằng ghi âm và chiếu
phim để rồi đẩy nhiệm vụ văn học xuống bình diện thứ hai, mà phải thừa nhận rằng, thông
tin thị giác nâng cao gấp bội những khả năng của thông tin thính giác.
Vì thế, việc vận dụng các loại hình nghệ thuật kế cận trong phân tích tác phẩm văn
học, tức ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn, giúp chúng ta điều khiển
dòng liên tưởng, thúc đẩy việc hình thành những ấn tượng nhất định trong ý thức người đọc.
Ở đây, học sinh sẽ không có cảm giác rằng quan niệm đó là do người ta áp đặt cho mình,
quan niệm đó dường như tự nó hình thành lấy, và điều đó tạo cho hình tượng được hình
thành một tính chất riêng biệt cá nhân. Như vậy, các loại hình nghệ thuật kế cận có thể tăng
cường sự đồng thể nghiệm của người đọc trong khi phân tích tác phẩm.
thuyền ngoài xa.
- Chú ý, khi nhận xét phải lồng phân tích, phải tìm ra mối quan hệ giữa liên tưởng và
tượng tượng (lớp 10), giữa tư tưởng và quan niệm của học sinh với các hình tượng của nhà
thơ.
- Để đọc diễn cảm tốt cần: soạn bảng “phối âm cảm xúc” cho văn bản. Chẳng hạn:
trong từng khổ, từng đoạn thơ có thể thay đổi giọng điệu như: nhẹ nhàng trầm tư, lo lắng
ngạc nhiên, ngắt quãng, sôi nổi; chậm rãi, ai oán; thương tiếc, sầu não; niềm vui sảng khoái;
xúc động táo bạo…Đây là con đường dẫn đến nghệ thuật giao tiếp.
- Cùng với đọc diễn cảm là: kể chuyện sáng tạo, miêu tả miệng, xây dựng kịch bản
phim, sân khấu hóa văn bản…
- Khi có cảm hứng với các dòng thơ của nhà thơ, các nhạc sĩ đã phổ nhạc cho các dòng
thơ đó. Dùng âm nhạc để thể hiệc các tác phẩm thơ ca sẽ làm sáng tỏ và tăng cường một cách
tuyệt đẹp tính truyền cảm và cân đối của thơ ca. Thiên tài của nhà thơ kết hợp với cảm hứng
của nhạc sĩ và nghệ thuật điêu luyện của người biểu diễn sẽ tác động mạnh mẽ đến người
nghe. Đã có nhiều bản nhạc phổ nhạc cho thơ rất thành công (Tây tiến – Quang Dũng, Đây
thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Đàn ghi-ta của Lor-ca – Thanh Thảo…). Cũng cần nói thêm rằng,
không phải giáo viên dạy văn nào cũng có khả năng minh hoạ cho các bài thơ bằng âm nhạc
hay ngâm thơ. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ nghe nhìn sẽ lấp đi những “hạn chế” đó.
- Qua âm nhạc, học sinh còn có khả năng phân biệt những loại hình nghệ thuật dân gian
và hiện đại. Trong sự phát triển của xã hội nhiều năm trở lại đây, gần như học sinh không
phân biệt được đâu là dân ca, đâu là tân nhạc. Sự hoà nhập các dòng nhạc trong các sáng tác
của nhạc sĩ đã gần như “san bằng” khoảng cách của hai thể loại âm nhạc này. Việc cho học
sinh nghe và phân tích thể loại dân ca “chính gốc” giúp các em hiểu thêm đời sống tinh thần
phong phú, tinh tế của người bình dân xưa, cảm nhận vẻ đẹp văn hoá cổ truyền của người
Việt mà hiện nay đang Đảng ta đang ra sức khôi phục trước nguy cơ mai một của yếu tố
khách quan.
- Kịch bản sân khấu, phim là những loại hình nghệ thuật có những khả năng rất lớn để
thâm nhập vào cuộc sống và thế giới tinh thần của con người. Nó đem lại cho người xem
những hiểu biết từ thời đại này qua thời đại khác. Về mặt nguyên tắc các loại hình kết hợp cả
hai kỹ năng nghe - nhìn này có thể trùng hợp với tác phẩm văn học theo phương pháp màn
sinh, về cơ bản, sẽ đứng trước một nhiệm vụ có tính chất tâm lý học: trong diện mạo của nhà
văn, dựa vào các tập nhật ký, mà nhận ra những nét biểu hiện cuộc sống nội tâm của ông;
những chặng đường nghệ thuật của nhà văn.
Qua tham quan, tranh, hình vẽ, bản đồ, sơ đồ, ảnh chụp các loại, tất cả giúp cho quá khứ
trở thành sinh động, xuyên qua bộ mặt hiện tại mà nhận ra bằng tưởng tượng các đặc điểm
của thời đại mà ta đang đi vào.
Chân dung của nhà văn trong giờ học được trình bày theo một giải pháp mới, có ý nghĩa
phương pháp. Ở trường hợp này, việc phân tích bức tranh về mặt tâm lý học là sự tổng kết
việc phân tích của lớp; ở trường hợp khác, việc so sánh các chân dung sẽ dùng làm biện pháp
tích cực hóa thái độ của học sinh đối với tư liệu tiểu sử; ở trường hợp khác nữa, ta lại đề ra
cho học sinh phải tự mình lĩnh hội bức vẽ…
Trong nghiên cứ tiểu sử, điện ảnh và tham quan từ xa là những phương tiện trực quan
quan trọng nhất. Bộ phim sẽ được học sinh lĩnh hội sâu sắc hơn nếu như trước khi xem, được
nghe thấy kể chuyện, có đọc sách giáo khoa, đọc những sách thuộc loại tiểu sử. Trước khi
cho học sinh xem, giáo viên cho một số câu hỏi. Điều đó thúc đẩy các em, không chỉ đơn
thuần nhìn và nghe chăm chú mà còn buộc các em phải suy nghĩ khi theo dõi màn hình. Câu
hỏi đương nhiên là đa dạng. Có thể là:
- Có cái gì mới về cuộc sống và sáng tác của nhà văn mà em biết được qua bộ phim?
- Những cảnh nào trong phim em cho là có sức biểu hiện lớn nhất?
- Hãy đặt lời đề từ cho đoạn phim?
- Theo em, những trích đoạn được chọn để diễn xuất thành phim như thế có đạt không?
- Tình tiết nào trong phim thể hiện đầy đủ nhất tính cách nhà văn?
- Em tự rút ra bài học nhân cách gì cho mình từ cuộc đời tác giả?
II- MÔ TẢ NỘI DUNG GIẢI PHÁP MỚI
1- NÉT MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Ứng dụng phương pháp trực quan sinh động vào dạy học môn ngữ văn là một phương
pháp dạy học đã có từ rất lâu. Song trước đây, chỉ dừng lại ở một số tranh ảnh đơn thuần như
chân dung nhà văn. Còn hiện nay, nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất
cả các lĩnh vực, đo đó, CNTT đã góp phần hiện đại hoá phương tiện, thiết bị dạy học, góp
phần đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn. Chúng ta biết rằng, Bộ chỉ cung cấp cho
Cung oán ngâm khúc…)
+ Nghe đoạn văn, đoạn thơ sau và bình giảng đoạn văn, đoạn thơ đó.
+ Nghe đọc một đoạn văn nghị luận và xác định cách lập luận của đoạn văn? (so sánh,
phân tích, bác bỏ…)
b- Sử dụng công nghệ nghe nhìn trong việc cảm thụ tác phẩm văn chƣơng:
- Từ các phương tiện nghe nhìn, giáo viên, học sinh có thể tự trình diễn các hoạt động:
đọc diễn cảm đoạn văn, ngâm thơ, hát bài thơ
- Từ một bức tranh, một cảnh trong phim, giáo viên cho học sinh bình luận, phát biểu
cảm nhận của mình. Chẳng hạn, giới thiệu hai bức tranh biểu tượng trong tác phẩm Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu: Cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong buổi sớm mờ
sương; cảnh chiếc thuyền ngoài xa lênh đênh dưới những đám mây vần vũ, báo hiệu một cơn
bão. Từ đó, hãy nêu ý nghĩa nhan đề tác phẩm?
c- Sử dụng công nghệ nghe nhìn trong việc tự học:
+ Soạn giáo án điện tử lồng tiếng, giới thiệu trang Webside của nhà trường đối với
các bài: đọc thêm, giúp học sinh ôn tập kiến thức thi học kỳ, thi tốt nghiệp, đại học-cao
đẳng…
d- Cách thức sử dụng công nghệ nghe nhìn
- Ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn đòi hỏi người giáo viên phải
dành thời gian và tâm huyết để tìm tòi, nghiên cứu, tạo ra những cấu trúc, hình ảnh, cách sử
dụng sao cho phù hợp với thời gian tiết dạy, phù hợp với bài học, với giá trị thẩm mỹ của
phương tiện. Sử dụng công nghệ nghe nhìn đòi hỏi giáo viên phai không ngững sáng tạo, tìm
ra những cách thức mới, tránh sự lặp lại nhàm chán.
- Ứng dụng CNNN có thể bằng phương thức đơn: Một tranh, ảnh, đoạn phim…
- Ứng dụng CNNN có thể bằng phương thức kết hợp: Hệ thống theo bài học: Bộ tranh
Tấm Cám, Ramayana, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Đàn ghi-ta của lor-ca, sắp xếp tác giả
theo trình tự thời gian năm sinh; theo trình tự thời gian sáng tác tác phẩm…
PHẦN III: KẾT LUẬN
I- KHÁI QUÁT CÁC KẾT LUẬN CỤC BỘ
+ Việc chọn lọc thống kê phân loại: tiến hành trên 03 lớp: 12a4,12a19,12a20
3- Thống kê hiệu quả:
+ Sự hứng thú của học sinh: 100%.
+ Nâng cao khả năng cảm thụ của học sinh: 50%.
+ Khơi gợi khả năng sáng tạo ở học sinh: 20%.
+ Rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh: 30%.
+ Giúp học sinh nắm vững nội dung văn bản, cao hơn bình thường: 20%.
+ Nâng cao năng lực thẩm mỹ cho học sinh: tăng 15%.
III- LỢI ÍCH VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG
Với đề tài này, người dạy và người học đều có thể ứng dụng dễ dàng vào các tiết dạy
học môn ngữ văn trong nhà trường THPT. Tuy yếu tố môi trường, cơ sở vật chất, đối tượng
học sinh của mỗi trường, mỗi vùng không giống nhau, song với đề tài này, chúng tôi tin chắc
khả năng vận dụng của đề tài là rất cao. Giáo viên là người chủ động lựa chọn và thiết lập
các phương tiện, thiết bị dạy học từ việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách linh hoạt,
phù hợp với môi trường giáo dục hiện có của nhà trường
Lợi ích của việc Ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn thông qua
các phương tiện, thiết bị dạy học là nhiều năm chứ không phải chỉ trong năm học chúng ta
thực hiện. Và nếu chúng ta tích lũy trong nhiều năm, chúng ta sẽ tự trang bị cho môn học
những phương pháp dạy học và những phương tiện dạy học hết sức, không trông chờ vào
việc trang bị của các cấp trên.
Không một học sinh nào từ chối việc được nghe nhìn từ ứng dụng CNTT trong các
tiết học môn ngữ văn. Sự thích thú, háo hức của các em chính là lời đánh giá hiệu lực nhất về
hiệu quả của phương pháp dạy học này.
IV- ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Qua quá trình giảng dạy thực tế, với những kết quả đã đạt được về Ứng dụng công
nghệ nghe nhìn vào dạy học môn ngữ văn trong năm học vừa qua ở trường THPT số I Phù
Cát, chúng tôi xin được có một vài kiến nghị:
- Các thành viên trong tổ Ngữ văn trường THPT Phù Cát I hưởng ứng và cùng thực
hiện đề tài này.
Nhật ký trong tù – bản khắc bằng đá
Một số bài thơ trong Nhật ký trong tù NGƢỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÕNG SÔNG? – Hoàng Phủ Ngọc Tường sông hương núi ngự TRANH ĐÔNG HỒ
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU
Đây là câu thơ nào? ở đâu?
“Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa ”
CHINH PHỤ NGÂM KHÖC – ĐẶNG TRẦN CÔN
CUNG OÁN NGÂM KHÚC – NGUYỄN GIA THIỀU
VỢ CHỒNG A PHỦ - Tô Hoài
Diễn viên trong phim Vợ chồng A-phủ
VỢ NHẶT – Kim Lân NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU - 1945
Hoa mơ
hoa mơ hồng
Hoa ban Hoa ban thắp sáng núi rừng
Rừng xà nu