SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG
DÂN TỘC NỘI TRÚ
A/ PHẦN MỞ ĐẦU :
1. Bối cảnh của đề tài:
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật công nghệ phát triển ngày
càng nhanh và đang được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội của thế
giới nói chung và nước ta nói riêng. Đặc biệt đã và đang ứng dụng rộng rãi trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Một trong những phương hướng, nhiệm vụ, giải
pháp phát triển trong giai đoạn mới của nước ta là tiếp tục nâng cao chất lượng
toàn diện, đổi mới nội dung và phương pháp dạy và học, thực hiện “chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa” giáo dục. Cùng với xu hướng phát triển của đất nước,
ngành giáo dục đang đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học bằng ứng
dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
Văn là việc làm góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Có thể nói, việc ứng
dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy ngữ Văn nói riêng và dạy học nói
chung đã thu được nhiều kết quả và tạo nên sự chuyển biến trong dạy học, nhất
là mặt phương pháp.
Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi
mới phương pháp dạy học môn ngữ Văn ở trường Dân tộc Nội trú.”
3. Phạm vi và đối tượng của đề tài
Đề tài này được áp dụng trong giảng dạy môn ngữ Văn ở khối lớp 9
trường phổ thông Dân tộc Nội trú.
4. Mục đích của đề tài:
- Giúp người dạy và người học tiếp cận được với xu thế dạy- học hiện đại của
thế kỉ XXI.
- Giúp học sinh Dân tộc Nội trú tham gia tích cực trong học tập. Tạo cho học
sinh tính năng động, chủ động , tự tin trong học tập.
- Giúp học sinh không chỉ góp phần tích hợp nhuần nhuyễn giữa phân môn ngữ
Văn mà tạo cơ hội để môn ngữ Văn tích hợp được với các môn khác như Âm
Nhạc, Mĩ Thuật, Tin Học, Địa Lí… trong nhà trường.
- Giúp môn học hấp dẫn hơn, sinh động hơn, học sinh thêm yêu thích giờ học
văn. Nhằm phát triển tư duy độc lập, khả năng suy ngẫm của người học.
5. Sơ lược những điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu
- Điểm mới trong kết quả nghiên cứu là: Ứng dụng công nghệ thông tin, bản đồ
tư duy trong dạy và học.
- Vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy ngữ Văn rất thuận lợi vì nó cung
cấp một kho tàng kiến thức khổng lồ, cập nhật tin tức nhanh chóng, cung cấp tư
liệu về tác giả, tác phẩm chính xác, đầy đủ, những hình ảnh, thước phim sinh
động, hấp dẫn. Từ đó học sinh tích cực, hào hứng, trong tiết học và đặc biệt
người học đã phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập.
thông tin được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử- Tin
học- Viễn thông và tự động hoá” (NQ 49 của Chính phủ về phát triển công nghệ
thông tin của Việt Nam).
Thế mạnh của công nghệ thông tin là:
Kĩ thuật đồ hoạ được nâng cao tạo điều kiện mô phỏng nhiều quá trình,
hiện tượng trong tự nhiên và xã hội mà con người không thể hoặc không để xảy
ra trong nhà trường, không thể hoặc khó có thể được thể hiện nhờ những phương
tiện khác.
Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera … với
âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch
sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.
Trong môi trường công nghệ thông tin người học phát huy được tất cả các
kĩ năng về nhìn, nghe, nói, đọc, viết. Quá trình hợp tác, tư vấn, đối thoại trở nên
quan trọng. Giáo viên đóng vai trò là người cố vấn, giúp đỡ học sinh tự tìm kiếm
để nghiên cứu, tự biến đổi thông tin thành tri thức, kĩ năng. Học sinh thực sự
được chủ động, biết tự thích nghi, tự kiểm soát và tự điều chỉnh.
Sự hoà nhập giữa công nghệ thông tin và truyền thông hình thành những
mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức
khổng lồ, tạo điều kiện để mọi người có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế
bởi thời gian và không gian.
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh (hình, chữ, âm
thanh sống động) làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý,
học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, quy luật mới. Đây là một
công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới
phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin
và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học
sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
hình tổ chức dự giờ thao giảng, hội giảng, thi giáo viên dạy giỏi để học hỏi rút
kinh nghiệm.
- Để có tư liệu minh họa cho các tiết dạy, nhà trường đã kết nối Internet phòng
máy vi tính để tạo điều kiện cho giáo viên lên mạng tìm kiếm, sưu tầm những
hình ảnh, bài soạn hay, các phim tư liệu, các đoạn Clip về các nghệ sĩ ngâm thơ,
đọc thơ, các phần mềm cho việc giảng dạy.
- Sự hoà nhập giữa công nghệ thông tin và truyền thông hình thành những mạng
máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ,
tạo điều kiện để mọi người có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời
gian và không gian.
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh (hình, chữ, âm
thanh sống động) làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý,
học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, quy luật mới. Đây là một
công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới
phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin
và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học
sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
- Một số học sinh đã biết sử dụng công nghệ thông tin qua mạng, học tiếng Anh,
tìm kiếm, tra cứu tài liệu mạng, trao đổi thông tin,…
2. Khó khăn:
* Về phía học sinh:
- Năng lực tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu bài của học sinh còn nhiều hạn chế.
- Các em có chuẩn bị bài trước khi đến lớp, song sự chuẩn bị đôi khi còn đối
phó.
- Hầu hết các em là con em đồng bào dân tộc Khmer, sống ở các xã vùng sâu,
vùng xa ít giao tiếp. Vì vậy các em còn nhút nhát, khả năng diễn đạt và trình bày
một vấn đề còn khó khăn lúng túng. Một số em chưa thành thạo tiếng Việt nên
việc đọc, tìm hiểu, phân tích, cảm thụ tác phẩm còn khó khăn, phát âm sai do lỗi
phát âm địa phương.
minh hoạ trong khi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem những đoạn
băng ghi hình, bài hát,… sẽ sinh động hơn rất nhiều. Ví dụ như văn bản: (Phong
cách Hồ Chí Minh, Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, Bài thơ về tiểu đội xe
không kính, Những ngôi sao xa xôi, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, ….)
Nhưng hầu hết giáo viên không chú ý đến vấn đề này.
- Một số giáo viên còn lạm dụng công nghệ thông tin để thay phấn trắng, bảng
đen (chiếu chép) dẫn đến hiệu quả bài dạy chưa cao.
- Một số giáo viên chưa sử dụng thành thạo máy vi tính, chưa có kiến thức về
soạn giảng giáo án điện tử, bên cạnh đó việc thiết kế một giáo án điện tử mất rất
nhiều thời gian nên việc áp dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp
dạy học còn hạn chế.
Từ mục đích trên nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn cần rèn cho học
sinh những kiến thức, kĩ năng gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của
con người và cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy Văn, để học sinh
yêu thích giờ học Văn.
III. Giải pháp tình hình:
Thật ra, chúng ta đang sống giữa thời đại công nghệ và kĩ thuật số. Người
học của chúng ta bị bao vây bởi thế giới công nghệ. Nếu giáo viên dạy Văn hoàn
toàn không biết và không ứng dụng nó thì hoá ra chúng ta đang xa rời với thực
tại chung. Công nghệ thông tin không hề làm mất đi cảm xúc mà ngược lại còn
tác động làm cho cảm xúc được tăng thêm. Khi người học hứng thú với môn học
thì giáo viên mới thật sự có cảm xúc.
Ví dụ: Khi dạy về truyện “Những ngôi sao xa xôi”, giáo viên có thể đưa
học trò đến với hình ảnh, thước phim chiến tranh ác liệt trên Internet để học sinh
có thể quan sát, cảm nhận và thấy được cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân
tộc ta, tạo hứng thú để việc cảm thụ tác phẩm này được hiệu quả. Hoặc khi dạy
bài thơ “Mây và Sóng” của Ta- go chúng ta cho học sinh đến với những hình
Truyện Kiều, Truyện Lục Vân Tiên, Làng, Chiếc Lược ngà, Lặng lẽ Sa Pa,
Những ngôi sao xa xôi, Người con gái Nam Xương
Bên cạnh đó, theo tinh thần của chương trình văn học nước ngoài đổi mới,
giảng dạy tác phẩm gắn với thể loại, trước khi vào một tác phẩm cụ thể, giáo
viên sử dụng phần mềm mindmap để giới thiệu hạt nhân cơ bản của thể loại đó.
Hơn thế nữa, ở những tiết ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức, chúng ta
cũng có thể yêu cầu học sinh sử dụng sơ đồ bản đồ tư duy để tự làm việc. Phần
mềm này cũng rất phù hợp với việc giúp giáo viên giới thiệu những kiến thức
mở rộng, đào sâu trong quá trình phân tích, cảm thụ tác phẩm.
Ngoài ra, các phần mềm như photostory, webquest cũng được ứng dụng để
giảng dạy phần tác giả - tác phẩm.
Đồng thời giáo viên có thể cho học sinh nghe đọc thơ và xem một đoạn phim
tư liệu về tác giả từ máy tính.
Tổ chức ngoại khóa văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, giáo viên có
thể sử dụng phần mềm potatoes để làm trò chơi ô chữ.
Trên đây là những ưu điểm của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học văn, tuy nhiên trong quá trình ứng dụng có thể có những trục trặc về
mặt kĩ thuật. Nhiều giáo viên thời gian đầu khi sử dụng phần mềm powerpoint
để giảng dạy có tâm sự rằng thay vì đọc chép là chiếu chép. Với kinh nghiệm
của một người đã sử dụng, tôi thấy rằng, để khắc phục điều này, giáo viên phải
nắm thật kĩ nội dung bài dạy, không phải kiến thức nào cũng chiếu hết lên. Chỉ
chiếu lên những nội dung mang ý chính của bài. Kết hợp với việc giảng của giáo
viên, phải mở rộng ý ra, phát triển sâu hơn. Lúc đó cái tài của người giáo viên sẽ
hiển lộ. Vì công nghệ thông tin chỉ là phương tiện chứ không thể thay thế được
vai trò của người thầy. Đồng thời, để học sinh không thụ động trong quá trình
học, giáo viên cần giao nhiệm vụ, hoặc các chủ đề để học sinh làm việc
liệu có liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của tác giả nhằm cung cấp tư liệu trực
quan kích thích việc học tập của học sinh.
Tác giả: Nguyễn Du Tác giả: Viễn Phương
2- Tác phẩm:
Có thể chèn các hình ảnh minh họa về tác phẩm từ tranh tư liệu hoặc băng
hình, phim tư liệu liên quan đến tác phẩm nhằm giúp học sinh có ấn tượng rõ
hơn về tác phẩm.
Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh Hình ảnh Bác Hồ
Phần đọc tác phẩm, có thể vận dụng băng tư liệu, băng ngâm thơ, băng hình
minh họa…
Nhân vật Ro Bin Xơn Truyện Lục Vân Tiên
- Slide 4 đến các slide tiếp theo:
Là các nội dung tương ứng với từng phần trong nội dung bài dạy và tương
ứng với từng phần trong thiết kế giảng dạy của giáo án. Trong các slide này,
giáo viên có thể chèn các hình ảnh, câu hỏi, bài tập để học sinh thảo luận nhóm
rút ra nội dung được bài học.
Hình ảnh đầu súng trăng treo trong bài thơ Hình ảnh hàng tre trước lăng Bác
“ĐồngChí”
Học sinh nhìn vào các hình ảnh này để tóm tắt truyện ngắn “Chiếc Lược Ngà”
của Nguyễn Quang Sáng
t
t
r
r
e
e bằng sơ đồ mà không cần bảng phụ. Có thể củng cố bài bằng bài hát, băng hình
minh họa (nếu có).
Qua hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong trong truyện “Những
ngôi sao xa xôi” – Lê Minh Khuê, hãy nêu cảm nhận của em về cuộc sống và
chiến đấu của tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Sơ đồ tư duy truyện“Những ngôi sao xa xôi” Sơ đồ tư duy bài thơ“Ánh trăng”
của Lê Minh Khuê của Nguyễn Duy
- Slide ở phần dặn dò: Giáo viên có thể cho các hình ảnh sinh động, ngộ nghĩnh.
Ví dụ: Với bài tiếng Việt và Tập làm văn thì:
- Slide 1: Chào hỏi
- Slide 2 : Số thứ tự tiết theo phân phối chương trình, tên bài học.
- Giáo viên không quá lạm dụng công nghệ thông tin vào giờ dạy mà làm mất
chất văn thật sự của một giờ dạy ngữ Văn.
b. Yêu cầu với việc thiết kế các slide:
- Nền Slide thường sử dụng màu sáng nhạt, không nên sử dụng màu quá tương
phản với các đối tượng trình bày. Nên sử dụng nền trắng, màu chữ đen hoặc
xanh đậm, các đề mục lớn có thể sử dụng màu chữ đỏ tác động vào mắt học
sinh. Nếu sử dụng nền xanh thẫm thì phải dùng chữ màu trắng thì chữ mới rõ
khi chiếu các slide này qua máy Projector.
- Font chữ và màu chữ: Nên dùng một loại font chữ phổ biến, chân phương,
đồng thời sử dụng cách viết đậm, nghiêng, hoa, chữ thường một cách hợp lí. Cỡ
chữ thường từ 24 trở nên, phối hợp nhiều nhất là ba màu chữ để làm rõ các nội
dung trọng tâm khác nhau. Sử dụng các background (khung, nền) thống nhất
trong toàn bộ các slide.
Khai thác và sử dụng tiện ích Powerpoint là hết sức thuận lợi trong giảng dạy
ngữ Văn nhưng phải phù hợp với nội dung bài dạy và không nên quá lạm dụng.
Do đó, tránh tạo các kí hiệu với các hoạt hình quá sinh động, hoặc chèn các âm
thanh quá lạ chỉ có mỗi mục đích thu hút sự tò mò của học sinh.
Bước 3: Một số vấn đề cần lưu ý khi giảng dạy bằng giáo án điện tử:
- Việc chuẩn bị và kiểm tra trước giờ dạy là hết sức cần thiết vì giáo viên phải
lường trước mọi tình huống có thể xảy ra với máy móc: sự tương thích giữa máy
tính của giáo viên và máy tính của trường, sự tương thích giữa máy tính và
Projector.
- Việc trình chiếu qua các slide bài dạy để kiểm tra là rất quan trọng, đặc biệt là
các giáo án có sử dụng hình ảnh, âm thanh, các đoạn băng hình minh họa …
buộc giáo viên phải kiểm tra trước các hiệu ứng của các slide này.
- Nên sử dụng cả bảng đen trong giờ dạy để giáo viên ghi những nội dung chính
về bài học.
diễn đừng quá cầu kì phô diễn mà phải chú ý mục tiêu đặt ra từ bài học.
Tuy nhiên, không phải bài nào ta cũng dạy qua máy, cần có sự chọn, không
nên chạy theo phong trào mà không nghĩ đến tính hiệu quả. Khâu chuẩn bị bài
cũng phải chu đáo và luôn tìm tòi sáng tạo, phương pháp có thay đổi, có phong
phú bài dạy mới có kết quả tốt, và luôn tâm niệm một điều: “Máy móc chỉ là
phương tiện, chỉ có phương pháp giảng dạy làm sao đạt hiệu quả mới là cần
thiết”. Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã có câu nói: “Có cái hôm qua nó đúng
nhưng hôm nay nó đã lỗi thời vì sự vật không đứng yên” cho nên mỗi giáo viên
cũng phải luôn luôn làm mới kiến thức của mình
Để có một giờ dạy tốt dù bằng cách nào, phương pháp nào cũng rất cần cái
tâm và tài của người thầy
IV. Hiệu quả của sáng kiến:
Sau khi tôi áp dụng vào thực tế lớp học có thể thấy việc đổi mới phương
pháp giảng dạy môn ngữ Văn theo hướng vận dụng công nghệ thông tin và các
thiết bị dạy học hiện đại đã mang lại nhiều hiệu quả. Kết quả đạt được như sau:
Khối lớp 8:
Trước khi áp dụng
Năm học Loại giỏi Loại khá Loại trung bình Loại yếu
2009 - 2010
6 % 39 % 41 % 14 %
2010 - 2011 8 % 37,5 % 41,4 % 13,1 %
Sau khi áp dụng
2009 - 2010 9,6 % 45,2 % 35,7 % 9,5%
2010
Lo
ại khá
Lo
ại trung b
ình
Lo
ại yếu
2009 - 2010
8 % 29,6 % 48,9 % 13,5 %
2010 - 2011 9 % 25.4 % 54 % 11.6 %
Sau khi áp dụng
2009 - 2010 11,6 % 37,2 % 49,2 % 2 %
2010 - 2011 13,6 % 40,5 % 45,9 % 0 %
Học kì I
2011 - 2012
15.2 % 42,3 % 42,5 % 0 %
Qua kết quả trên chúng ta thấy các em tiến bộ rõ rệt trong học tập. Khi ứng
dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, bài học trở nên sinh động, thu hút sự
chú ý của học sinh, học sinh dễ tiếp thu bài. Hơn nữa bài học đã để lại dấu ấn
sâu sắc trong tâm trí học sinh. Từ đó học sinh trở nên năng động, sáng tạo hơn
chủ động phát huy cá tính sáng tạo của mình. Một lời khen ngợi, động viên,
khuyến khích kịp thời, đúng lúc là chất xúc tác rất mạnh giúp học sinh vui vẻ, tự
tin và phấn khích mạnh dạn phát biểu những vấn đề mà cá nhân các em suy
nghĩ.
* Ý nghĩa của sáng kiến, kinh nghiệm:
- Giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
- Giúp học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập và ngày càng yêu
thích môn Văn.
- Giúp người dạy và người học tiếp cận được với xu thế dạy- học hiện đại của
thế kỉ XXI.
- Giúp học sinh Dân tộc Nội trú tham gia tích cực trong học tập.
- Tạo cho học sinh tính năng động, chủ động, tự tin trong học tập.
- Nhằm phát triển tư duy độc lập, khả năng suy ngẫm của người học.
* Khả năng ứng dụng của sáng kiến:
Đề tài này có thể áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy môn ngữ Văn trong
các trường THCS nói chung và đối với học sinh trường Dân tộc Nội trú nói
riêng.
* Những kiến nghị, đề xuất:
- Về phía Ban giám hiệu
+ Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp tập huấn chuyên môn và mở
các chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin tại trường, để giáo viên có điều
kiện học hỏi các bạn đồng nghiệp, giúp giáo viên phát huy tối đa sức mạnh của
công nghệ thông tin vào giảng dạy bộ môn.
+ Tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như động viên, khích lệ tập thể giáo viên
của trường sưu tầm các nguồn kiến thức để làm tư liệu cho việc giảng dạy của
bộ môn.
- Về phía bản thân: Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn