XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN ĐỊA LÍ CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tháng 3/2012
1
Giáo viên: Bùi Văn Tiến-THPT Buôn Ma Thuột; Email: [email protected]
I/ MỞ ĐẦU
I.1- LÍ DO CHON ĐỀ TÀI:
Trong mấy thập niên trở lại đây việc đổi mới phương pháp dạy-học đã và đang
được nhiều ban ngành quan tâm và không ngừng được cải thiện. Hiện nay, để thực hiện
các cuộc vận động lớn của Bộ GD&ĐT, vào tháng 3-2008 Viện khoa học giáo dục Việt
Nam phối hợp với Vụ giáo dục trung học tổ chức hội thảo khoa học về cải tiến dạy học
địa lí ở trường phổ thông. Hội nghị đã nhất trí: “ Phương hướng đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm để nâng cao chất lượng dạy-học. Trong
đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, học sinh tích cực, chủ động, tìm
tòi, khám phá, khai thác kiến thức mới và rèn luyện các kỹ năng địa lí ” (Trích bản tổng
kết hội nghị )
Địa lí KT-XH là môn học có những đặc trưng riêng: đó là luôn luôn có sự biến
động, thay đổi. Bởi khác với các bộ môn khác, địa lí KT-XH luôn có mối quan hệ mật
thiết với thực tế xã hội, ngược lại, những đổi mới trong xã hội đều được địa lí KT-XH
quan tâm và phản ánh, bổ sung kịp thời.
Địa lí KT-XH Việt Nam không giống như địa lí KT-XH đại cương và địa lí KT-
XH nước ngoài vì nó tập trung vào việc phân tích những khái niệm chung mang tính
trừu tượng; Mặt khác nó còn phải xây dựng cho học sinh có được thái độ và xu hướng
hành vi đúng đắn của bản thân đối với đất nước và thế giới.
Xuất phát từ thực tế như trên thì bài tập nhận thức (BTNT) như là một trong
những công cụ mạnh mẽ nhất để học sinh có thể tiếp cận tốt nhất những vấn đề địa lí
KT-XH nói chung và địa lí KT-XH Việt Nam-lớp 12 nói riêng.
Đây cũng là nội dung tôi mạnh dạn áp dụng một vài kinh nghiệm khi xây dựng
- Phương pháp thử nghiệm và đối chứng
- Các phương pháp có liên quan đến lí luận dạy-học đổi mới.
II-NỘI DUNG, KẾT QỦA NGHIÊN CỨU
II.1- CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
a. Bài tập nhận thức( BTNT) là gì ?
Định nghĩa:
BTNT là đối tượng nhận thức của học sinh, bất kì bài tập nhận thức nào cũng
chứa đựng bên trong nó một tình huống xung đột, mâu thuẫn giữa cái đưa ra và cái cần
tìm. Mà việc nhận thức nó là nguồn gốc của tư duy.
Hiểu một cách khác BTNT là một dạng bài học lĩnh hội kiến thức mới, nhưng thay
vì cấu trúc giờ dạy cũ (Thầy giảng-Trò nghe) thì học sinh phát hiện những kiến thức
mới qua việc nghiên cứu, giải bài tập mà không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên.
Khi bàn về bài tập nhận thức: B.P. Ex Pov (Nhà Sư phạm Nga) nói: “ Công tác
độc lập của học sinh được đưa vào quá trình dạy học là công tác được thực hiện không
có sự tham gia trực tiếp của giáo viên nhưng theo bài tập giáo viên giao cho trong
khoảng thời gian dành riêng cho nhiệm vụ này; ở đây học sinh tự giác vươn tới đích đã
được vạch trong bài làm, làm biểu lộ mọi lĩnh vực của mình và thể hiện hoạt động trí
tuệ hoặc thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ hoặc hoạt động thể lực của mình dưới một
mặt nào đó ”.
Như vậy, khác với các loại bài tập khác, vận dụng những kiến thức đã học, giải
bài tập để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Còn đối với BTNT, giải bài tập là dựa trên cơ sở
những kiến thức cũ đã học để nghiên cứu, tư duy và phát hiện kiến thức mới.
b. Đặc điểm chung của BTNT:
BTNT là đối tượng nhận thức của học sinh do vậy sẽ có nhiều dạng, bởi đặc
điểm về nội dung từng loại bài giảng khác nhau nên cách biểu hiện và nhận thức cũng
khác nhau. Tuy nhiên, BTNT cũng có các đặc điểm cơ bản sau:
BTNT là hạt nhân trong bất kì công tác độc lập nào trong quá trình dạy học.
BTNT luôn chứa đựng bên trong nó những tình huống, những mâu thuẫn cần giải
ĐK & A/g
YC
2
Xác lập
YC & A/g
ĐK
3
Biến đổi
ĐK & YC
A/g
4
Xây dựng
YC
ĐK & A/g
Trong đó: ĐK là điều kiện bài cho; A/g là chương trình giải; YC là yêu cầu cần tìm
-Bài tập kiểu chấp hành: là dạng bài tập cho trước điều kiện và chương trình
giải, học sinh tự tìm ra yêu cầu của BTNT.
-Bài tập kiểu xác lập: là dạng bài tập cho trước yêu cầu và chương trình giải, học
sinh tự tìm ra điều kiện của BTNT.
-BTNT kiểu biến đổi: là dạng bài tập cho trước điều kiện và yêu cầu học sinh
phải tìm ra phương pháp giải.
-BTNT kiểu xây dựng: là dạng bài tập cho trước yêu cầu, học sinh tự tìm ra điều
kiện và chương trình giải.
Các loại đó về mặt hình thức biểu hiện các thể loại như sau: d.Vị trí của BTNT:
- Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà bản thân giành được bằng lao động của
mình, đó cũng chính là quá trình tư duy tích cực, độc lập là cơ sở cho sự thông hiểu, là
điều kiện cơ bản cho việc nắm vững kiến thức.
nhiều khi còn nặng về nội dung bài học nên chưa thực sự mạnh dạn đầu tư về phương
pháp.
- Bài 20: “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ” là một trong những bài khó, nội dung
nhiều, trừu tượng, hệ thống thông tin, số liệu, bản đồ, bảng biểu, tranh ảnh lớn. Khi dạy
bài này hầu hết các giáo viên đều lần lượt đi theo từng mục, tận dụng các thông tin có
sẵn trong sách giáo khoa, giáo viên từng bước nêu câu hỏi cho học sinh đối chiếu. Đó
chỉ là dạy theo kiểu minh họa chưa khai thác triệt để nội dung kết hợp với phương tiện
dạy học khác để lấy kiến thức. Nên tiết học thường nặng nề, không hứng thú, từ đó khó
khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Tóm lại, vấn đề sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học địa lí ở cấp trung học
phổ thông mới chỉ ở dạng khơi mầm, hay tiềm ẩn dưới các dạng sơ lược chưa rõ ràng;
hoặc đã sử dụng nhưng còn rất ít nên hiệu quả sư phạm chưa cao.
b. Nguyên nhân của thực trạng:
- Điều đầu tiên cần nói đến là sự thống nhất quan điểm về phương pháp dạy học,
có ý kiến cho rằng dạy học lấy học sinh làm trung tâm mới chỉ là một quan điểm, xu
hướng; ý kiến khác khẳng định dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một nhóm phương
pháp. Quan điểm nào cũng có lí lẽ chứng minh mình là đúng. Đó cũng chính là một trở
ngại cho việc ứng dụng một phương pháp dạy học mới như sử dụng bài tập nhận thức.
XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN ĐỊA LÍ CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tháng 3/2012
5
Giáo viên: Bùi Văn Tiến-THPT Buôn Ma Thuột; Email: [email protected]
- Nguyên nhân thứ hai là phần địa lí KT-XH Việt Nam lớp 12 có nội dung, khối
lượng kiến thức lớn được trình bày theo từng mảng ngành kinh tế cụ thể, mỗi vấn đề
thường được bố trí trong một mục dạy nên người giáo viên chưa mạnh dạn đưa ra những
phương pháp để học sinh tự tìm tòi, khám phá do tâm lí e ngại thiếu thời gian.
- Một thực tế quan trọng nữa là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm chưa
MÔN ĐỊA LÍ CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tháng 3/2012
6
Giáo viên: Bùi Văn Tiến-THPT Buôn Ma Thuột; Email: [email protected]
ra khả năng rộng lớn, phát triển năng lực nhận thức của học sinh, nó không kìm hãm mà
ngược lại khuyến khích óc sáng tạo, sự sắc sảo và trình độ hiểu biết rộng rãi, phát huy
năng lực tư duy và khả năng nhận thức của học sinh.
b. Phương pháp xây dựng và sử dụng BTNT ứng dụng vào Tiết 23-Bài 20:
“ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế” ( Địa lí 12-Chương trình chuẩn)
Sử dụng BTNT trong chương trình Địa lí KT-XH Việt Nam không phải bài nào
cũng có thể áp dụng được mà nó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng cho dù là bài nào
khi xác định BTNT giáo viên cần tổ chức cho học sinh tự lực, chủ động hoạt động phát
triển tư duy mà không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên. Đối với bài Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, tôi mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm trong sử dụng phương pháp
giải BTNT cho học sinh.
Cấu trúc giờ dạy:
- Cấu trúc giờ dạy theo phương pháp cũ gồm 5 bước, giáo viên phải triển khai
từng bước cụ thể trong khoảng thời gian nhất định. Theo cấu trúc đó thời gian truyền
thụ, tiếp thu kiến thức mới chỉ hạn chế trong khoảng 20-25 phút, thời gian còn lại dành
cho các bước khác.
- Đối với tiết học có sử dụng BTNT cấu trúc giờ học dành thời gian cho một
BTNT tối đa là 10 phút (thông thường 5-7 phút). Tuy nhiên còn phụ thuộc vào tính chất
câu hỏi, mặt bằng trình độ học sinh, ngụ ý của giáo viên đối với bài tập mà lượng thời
gian có thể thay đổi, bù trừ nhau.
- Cấu trúc giờ dạy theo phương pháp mới gồm các bước như sau:
Ổn định tổ chức.
Giao BTNT cho học sinh (Bài cũ, bài tập 1, 2, 3 )
Tổng kết giờ học, nhận xét đánh giá kết quả.
Bài 20 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
I. XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ NHẬN THỨC
1. Về kiến thức:
- Phân tích được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh
tế và theo lãnh thổ ở nước ta, nguyên nhân của sự chuyển dịch đó.
- Trình bày được ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển kinh
tế ở nước ta .
2. Về kĩ năng:
- Đọc, vẽ biểu đồ, phân tích bảng số liệu, biểu đồ và sơ đồ hóa các hiện tượng liên
quan đến các ngành kinh tế.
- Xác định trên bản đồ về cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ.
- Kĩ năng làm việc cá nhân, cặp nhóm, nhóm và tập thể.
3. Thái độ hành vi:
- Có ý thức thái độ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
II- THIẾT BỊ DẠY HỌC
- Biểu đồ cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước ta, giai đoạn 1990-2005
- Bảng số liệu cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp; Các sơ đồ sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo ngành.
- Các phiếu học tập, bản đồ câm, bản đồ kinh tế chung Việt Nam.
III- HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1. Ổn định lớp học: (2 phút)
2. Giao bài tập nhận thức (BTNT):
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
NỘI DUNG CHÍNH
Hoạt động 1
Tìm hiểu về cơ cấu kinh tế-các bộ phận hợp thành CCKT
Hình thức: Cả lớp: ( 5 phút )
Bước 1: Gv cho cả lớp xem qua phần giới thiệu và các
mục trong bài 20, yêu cầu HS trả lời các câu hỏi sau đây:
Tháng 3/2012
8
Giáo viên: Bùi Văn Tiến-THPT Buôn Ma Thuột; Email: [email protected]
Bước 2: Sau khi gọi lần lượt một số HS trả lời, Gv chuẩn
kiến thức và đưa ra sơ đồ nhằm khắc sâu kiến thức
(Gv chuẩn bị trước ở nhà hoặc sử dụng máy chiếu) Bước 3: Chuyển ý:
Cơ cấu kinh tế không phải là bất biến, nó mang tính lịch sử và
chỉ được coi là hợp lí ở mỗi thời kỳ cụ thể, vì vậy mỗi thời kỳ có
một hình thái kinh tế nhất định người ta gọi sự thay đổi đó là sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hoạt động 2:
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Hình thức: Theo nhóm: ( 15 phút )
Bài tập 2:
* Bước 1: Gv đưa ra sơ đồ cơ cấu kinh tế và biểu đồ cơ cấu GDP
phân theo khu vực kinh tế ở nước ta giai đoạn 1990-2005 (Gv có
tế trong GDP:
- Đang có sự chuyển
dịch theo hướng:
+ Tăng tỷ trọng
KVII, giảm tỷ trọng
KVI, KVIII có tỷ
trọng khá cao nhưng
chưa ổn định.
- Xu hướng chuyển
dịch như trên là
thuận lợi, đúng
hướng, phù hợp với
yêu cầu CNH-HĐH.
c. Cơ cấu kinh tế
trong nội bộ từng
ngành:
- Sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế cũng thể
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu ngành
kinh tế
Cơ cấu
TPKT
Cơ cấu
LTKT
* Bước 3:
- Gv gọi đại diện từng nhóm lên bảng trình bày các nội dung của
nhóm mình, lần lượt các thành viên góp ý bổ sung.
- Gv đưa ra thông tin phản hồi bằng các sơ đồ, sau đó chuẩn kiến
thức (Chuẩn kiến thức gắn với sơ đồ)
* Bước 4: Chuyển ý
Trong quá trình phát triển kinh tế nếu như phân công lao động
xã hội là cơ sở cho việc hình thành cơ cấu ngành thì chế độ sở
hữu lại là nền tảng để hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. (ghi
mục 2)
Hoạt động 3:
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Hình thức: Theo nhóm: (10 phút)
Bước 1:
- Gv chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu học sinh dựa vào bảng 20.2
kết hợp với biểu đồ biểu hiện cơ cấu GDP phân theo thành phần
kinh tế trên bảng (GV có thể sử dụng máy chiếu)
hiện khá rõ:
+ Trong khu vực I:
- Giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp,
mới.
2. Chuyển dịch cơ
cấu thành phần
kinh tế
a. Khái niệm:
Cơ cấu ngành kinh tế
?
?
?
?
? Cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch
?
?
?
+ Nhóm 2-4: Hoàn thành nội dung vào phiếu học tập số 2: (Gv
chuẩn bị vào giấy A4_khổ ngang) Bước 2:
- Các nhóm theo dõi yêu cầu cùng làm việc, thư ký các nhóm
tổng hợp ý kiến, hoàn thành nội dung.
Bước 3:
- Đại diện các nhóm lên bảng trình bày kết quả của nhóm mình.
- Các nhóm khác lần lượt góp ý, bổ sung. Gv đưa ra kết quả 2
phiếu học tập và trình bày theo nội dung, kết hợp với bảng số
Cơ cấu TPKT là
tương quan theo tỉ lệ
giữa các TPKT tham
gia vào các ngành,
các khu vực hay các
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
- Nêu khái niệm cơ cấu thành phần kinh tế?
- Kể tên một số thành phần kinh tế ở nước ta?
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
- Phân tích sự chuyển dịch TPKT nhà nước?
- Phân tích sự chuyển dịch TPKT ngoài nhà nước ? - Phân tích sự chuyển dịch TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ?
XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Gv dán bản đồ câm 7 vùng kinh tế Việt Nam lên bảng sau đó
phát cho các cặp một tờ giấy có thể dán được lên bản đồ câm.
Bài tập 4:
Bước1:
-Gv yêu cầu các cặp dựa vào vốn hiểu biết của bản thân, kết hợp
với Atlát địa lí Việt Nam, mỗi cặp tự chọn cho mình một ngành
kinh tế viết vào tờ giấy Gv đã phát, chọn cho ngành KT của cặp
mình một vị trí thích hợp và dán lên trên bản đồ câm.
Bước 2:
- Sau khi các cặp đã làm xong nhiệm vụ của mình, Gv nêu một
số câu hỏi: Tại sao các cặp lại chọn đặt vị trí của ngành kinh tế
đó vào các vị trí trên bản đồ ?
- Đại diện 1 số cặp trả lời, cả lớp góp ý, bổ sung.
Vậy: CCKT theo lãnh thổ là gì ? CCKT-lãnh thổ ở nước ta thay
đổi như thế nào ?
Bước 3:
- Gv treo bản đồ Kinh tế chung Việt Nam, gọi từng đại diện HS
trả lời, giải thích. Gv chỉ bản đồ, chuẩn kiến thức.
3. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo
lãnh thổ:
a. Khái niệm:
Là tương quan tỷ lệ
giữa các khu vực, các
vùng được sắp xếp
một cách tự phát hay
tự giác và có mối
quan hệ mật thiết với
minh họa
- Sau khi dạy mỗi tiết đều tiến hành kiểm tra 15 phút ở cả hai lớp đối chứng và
lớp thực nghiệm với cùng một nội dung kiến thức để thu kết quả.
d.Kết quả thực nghiệm:
Sau khi tiến hành kiểm tra, kết quả thu được như sau:
Lần dạy thứ nhất: Lớp đối chứng (ĐC) 12A1, lớp thực nghiệm (TN) 12A5.
Lần dạy thứ hai : Lớp đối chứng (ĐC) 12A10, lớp thực nghiệm (TN) 12A5.
( Giữ nguyên kết quả ban đầu )
(Hàng ngang trên là điểm từ điểm 1 đến điểm 10; hai hàng ngang tiếp theo là số học
sinh đạt điểm tương ứng)
-Kết quả thu được ở lần dạy thứ nhất như sau:
Điểm
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
TN
0
0
0
0
0
4
11
0
0
0
8,0
21,0
54,0
13,0
4,0
100%
ĐC
0
0
0
0
13,0
11,0
41,0
31,0
4,0
0,0
100%
-Kết quả thu được từ tiết đối chứng thứ 2 là:
Điểm
1
2
3
4
5
6
7
4
5
6
7
8
9
10
Tổng
TN
0
0
0
0
0
8,0
21,0
54,0
13,0
4,0
100%
ĐC
0
0
0
0
12,0
29,0
38,0
17,0
4,0
0
0
6
10
14,5
9
2
0
6,91
-Cho điểm trung bình = 100% ta có:
Điểm
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Tổng
TN
0
0
0
0
0
7,6
21,0
e. Nhận xét chung:
Về định tính:
-Căn cứ vào mức độ tập trung, phát biểu ý kiến xây dựng bài, thảo luận nhóm của
học sinh có thể rút ra một số nhận xét:
-Tỷ lệ học sinh tham gia vào xây dựng bài trong giờ học lớp thực nghiệm luôn
cao hơn lớp đối chứng, tức là BTNT đã kích thích được học sinh trong quá trình học tập.
-Qua giờ thực nghiệm hoạt động của Thầy-Trò sôi nổi, gắn bó và tích cực hơn
trong giờ học của lớp đối chứng. Người thầy làm việc ít hơn, học sinh làm việc tích cực
hơn, hiệu quả hơn.
Về định lượng:
Qua kết quả kiểm tra, nhận thấy rằng: lớp thực nghiệm có điểm số khá, giỏi cao
hơn so với lớp đối chứng, tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình lại ít hơn; cụ thể: ở lớp thực
nghiệm học sinh đạt điểm khá giỏi là: 92,4%, nhưng lớp đối chứng chỉ đạt: 62,0%, còn
điểm trung bình của lớp thực nghiệm chỉ chiếm 7,6%, nhưng lớp đối chứng chiếm
38,0%.
III-KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III.1-KẾT LUẬN
-Giải BTNT là phương pháp phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh, phù hợp với xu hướng dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên,
trong quá trình dạy học không có phương pháp nào là vạn năng và được sử dụng trong
toàn bộ quá trình dạy học mà thực tế là sự kết hợp nhiều phương pháp. Phương pháp
giải BTNT được áp dụng đối với tiết học này thực chất là cá biệt hóa phương pháp này
trong hệ thống các phương pháp được sử dụng để nêu lên tính ưu việt của nó. Điều đó
cũng nói lên trong giảng dạy bài này các phương pháp cơ bản khác không hề bị coi nhẹ.
-Bản chất của phương pháp này là quá trình hướng dẫn giải BTNT một cách tích
cực độc lập của học sinh, là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động chỉ đạo của giáo
viên và hoạt động lĩnh hội tích cực độc lập sáng tạo của học sinh nhằm giúp thầy-trò đạt
tới mục tiêu dạy học.
-BTNT là một trong những áp dụng mới được đưa vào giảng dạy trong những
-Quá trình học sinh giải các bài tập nhỏ, liên kết với nhau sẽ trở thành một bài tập
lớn; đó là nội dung của tiết học, bài học.
a.Đối với các cấp quản lí:
-Đối với các nhà trường cần trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị, đồ dùng…
để tạo điều kiện tốt hơn nữa cho giáo viên trong việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng
bài tập nhận thức trong dạy-học.
-Các cấp quản lí cần tổ chức định kỳ việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về
đổi mới phương pháp dạy-học, kĩ thuật dạy-học và định kỳ kiểm tra kiến thức chuyên
môn này của giáo viên.
-Định hướng và khuyến khích, động viên, hỗ trợ giáo viên trong việc bồi dưỡng
và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ công nghệ thông tin, từ đó góp phần nâng cao hiệu
quả của việc đổi mới phương pháp dạy-học hiện nay.
Do kinh nghiệm bản thân trong quá trình thiết kế và ứng dụng bài tập nhận thức
chưa được nhiều và kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế nên khi viết đề tài này không
tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo và đồng nghiệp
để đề tài hoàn thiện hơn; góp phần cùng với Trường, Sở giáo dục-đào tạo Đắk Lắk
mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy-học lấy học sinh làm trung tâm, nâng cao chất
lượng giáo dục./.
* Tác giả xin chân thành cám ơn
Buôn Ma Thuột, ngày 15.03.2012
NGƯỜI VIẾT BÙI VĂN TIẾN
XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC