Sáng kiến kinh nghiệm " XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ BỔ TÚC THPT GÓP PHẦN TÍCH CỰC VÀO VIỆC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC " - Pdf 19

20
XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ BỔ TÚC
THPT GÓP PHẦN TÍCH CỰC VÀO VIỆC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
ThS. Nguyễn Minh Tuấn - Viện KHGD Việt Nam
Đặt vấn đề
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học đã trở thành trào lưu
trong nhiều năm qua. Đặc biệt là từ năm học 2008-2009, việc “ứng dụng CNTT
trong dạy học” đã trở thành một chủ trương của ngành và được đông đảo giáo viên
nhiệt tình hưởng ứng, tích cực thực hiện và đã góp phần vào việc thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH), nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học. Tuy
nhiên, việc đưa CNTT vào ứng dụng ở mỗi cấp học, môn học có sự khác biệt và có
những nét đặc thù riêng nhưng đều thống nhất về quan điểm đó là CNTT được sử
dụng như một công cụ để hỗ trợ cho quá trình dạy - học.
Đối với giáo viên, CNTT được sử dụng hỗ trợ việc thiết kế bài giảng điện tử,
xây dựng các phần mềm dạy học, phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo, …
Đối với người học, CNTT được sử dụng như công cụ hỗ trợ quá trình học. Người
học dùng CNTT để thực hiện các nhiệm vụ học tập đã được giáo viên thiết kế trước và
giao cho thực hiện. Các công việc có thể là tìm kiếm thông tin, xử lí thông tin thu thập
được, trình bày báo cáo bằng PowerPoint, tính toán hoặc sử dụng các phần mềm dạy
học, mô phỏng, thí nghiệm ảo, trao đổi và chia sẻ thông tin qua việc nối mạng, sử dụng
internet…từ đó người học tự hình thành kiến thức, kĩ năng cho mình.
Các trung tâm GDTX điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, thiết bị thí
nghiệm, thực hành còn thiếu do đó giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc hỗ
trợ việc thực hiện đổi mới PPDH nhất là đối với môn học cần làm nhiều thí nghiệm,
thực hành như môn Vật lí. Vì vậy, việc khai thác sử dụng CNTT trong dạy học vật lí
thông qua việc giáo viên thiết kế các bài giảng điện tử, các thí nghiệm ảo thực hiện
21
trên máy tính sẽ góp phần tích cực vào việc đổi mới PPDH và phần nào khắc phục
được những khó khăn về mặt cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm hiện nay.
Tuy nhiên, để ứng dụng CNTT trong dạy học môn Vật lí ở các trung tâm

Ở mức độ cao nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kịch bản dạy học của giáo
viên được số hoá, tạo nên một phần mềm dạy học hoàn chỉnh có tương tác và khả
năng quản lý. Đặc biệt là nó có thể thay thế vai trò của người thầy ở một số thời
điểm nhất định.
Thuật ngữ Giáo án điện tử hiện nay còn có những quan niệm khác nhau nhưng
theo chúng tôi, giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy
học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia
hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài
học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng
vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành.
Giáo án điện tử hay chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy
xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho
một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử.
2. Những ưu điểm của ứng dụng bài giảng điện tử vào trong giảng dạy
vật lí chương trình GDTX cấp THPT (gọi tắt là BTTH PT)
2.1. Tạo hứng thú học tập cho học viên
Các bài giảng điện tử có giao diện đẹp, với những hiệu ứng về âm thanh, hình ảnh
tĩnh hoặc động làm cho tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn đối với học viên. Từ đó
học viên hào hứng, thích thú với bài học, từ đó tích cực tham gia vào quá trình học tập.
Do đặc thù của học viên ở các trung tâm GDTX nên việc gây hứng thú học
tập cho họ là điều rất quan trọng, vì vậy đây là một trong những ưu điểm GV cần
phải khai thác và cũng là điều kiện cần thiết để thực hiện đổi mới phương pháp dạy
23
học. Khi học viên đã có hứng thú học tập thì sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức và làm dễ
dàng và nhớ lâu hơn.
2.2. Tiết kiệm được thời gian và chi phí trong giảng dạy
Đối với giáo viên, với sự giúp đỡ của bài giảng điện tử, giáo viên tiết kiệm
được thời gian ghi bảng, kẻ, vẽ hình (đặc biệt đối với các sơ đồ phức tạp trong vật
lí). Vì vậy, giáo viên sẽ tiết kiệm được những khoảng thời gian không cần thiết. Đặc
biệt khi giáo viên muốn kiểm tra, ôn tập lại những kiến thức cũ có liên quan đến các

Những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại đã cho thấy, tỷ lệ % nội dung kiến
thức mà người học có thể nhớ được phụ thuộc vào cách thức tổ chức hoạt động như sau :
- Thông qua đọc tài liệu : có thể nhớ được 5 % nội dung kiến thức
- Nghe giảng (thụ động) : có thể nhớ được 15 % nội dung kiến thức ;
- Quan sát : có thể nhớ được 20 % nội dung kiến thức ;
- Kết hợp nghe và nhìn : có thể nhớ được 25 % nội dung kiến thức ;
- Thông qua thảo luận : có thể nhớ được 55 % nội dung kiến thức ;
- Trực tiếp tham gia hoạt động, tự làm thí nghiệm, tự khám phá tri thức
có thể nhớ được 75 % nội dung kiến thức ;
- Giảng lại cho người khác : có thể nhớ được 90 % nội dung kiến thức.
25
Khi sử dụng bài giảng điện tử có kết hợp với các bài thí nghiệm ảo, mô
phỏng, học viên được tiếp cận với kiến thức mới thông qua việc nghe, nhìn, trực tiếp
làm việc, hoạt động nhóm, trình bày ý kiến, giải thích cho nhau nghe một vấn đề nào
đó. Đặc biệt đối với các vấn đề trừu tượng trong vật lí không thể quan sát được bằng
mắt thường, khó tiếp thu ví dụ như: chuyển động cơ học, chuyển động của êlectron,
sóng ánh sáng, các hiện tượng quang học như phản xạ, khúc xạ, ảnh qua các loại
gương, hiện tượng tán sắc ánh sáng qua lăng kính… thì bằng các mô phỏng, các thí
nghiệm ảo học viên có thể dễ dàng tiếp thu hơn. Vì vậy, khi sử dụng bài giảng điện
tử có kết hợp với các mô phỏng và thí nghiệm ảo là một công cụ hỗ trợ đắc lực để
nâng cao hiệu quả học tập cho học viên.
3. Qui trình thiết kế bài giảng điện tử
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Trước những khó khăn của thực tiễn giáo dục ở các trung tâm GDTX, khi
thực hiện đổi mới PPDH, chúng ta phải chấp nhận một giải pháp quá độ mang tính
cải tiến, với phương châm là: dạy học tạo điều kiện để học viên “làm việc nhiều hơn,
thảo luận nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn”.
Trong dạy học hướng tập trung vào người học hay lấy người học làm trung
tâm thì mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học viên đạt được cái gì. Mục tiêu ở đây
là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà

nghiệm ảo, mô phỏng, phim, ảnh, text) hoạt động của thầy, trò và công cụ hỗ trợ.
 Xác định các câu hỏi, phản hồi trong các hoạt động.
 Hình dung (lắp ghép) thành tiến trình dạy học.
Bước này đòi hỏi giáo viên phải thiết kế kịch bản thật chi tiết. Để làm được điều
này, chúng ta phải hình dung trên màn hình máy tính có nhiều đối thượng khác nhau
(văn bản, hình ản, âm thanh ), mỗi đối tượng sẽ được xuất hiện trên mà hình như thế
27
nào, ở ví trí nào, giáo viên và người học có thể tương tác với các đối tượng bằng cách
nào, khi tương tác với một đối thượng nào đó thì sẽ cho phản hồi như như thế nào
Bước 4: Xác định tư liệu cho các hoạt động
- Xác định các tư liệu cần thiết như: Phim (video), ảnh (imge), hoạt cảnh
(animation), thí nghiệm ảo, mô phỏng
- Tìm kiếm, xử lý tư liệu. Đây là công việc mất nhiều thời gian đòi hỏi giáo viên
phải có đầu tư về thời gian, công sức cũng như phải có những kĩ năng về sử dụng các
phần mềm xử lí dữ liệu. Đối với dạy học vật lí giáo viên cần lưu ý điến việc thiêt kế thí
nghiệm ảo, thí nghiệm trình diễn, hoặc mô phỏng các hiện tượng và đinh luật vật lí cho
học viên quan sát. Hiện nay có nhiều phần mềm vật lí, phần mềm công cụ hỗ trợ giáo
viên thiết kế, sử dụng các thí nghiệm ảo như Coridile Physics thiết kế thí nghiệm có thể
theo trình tự sau :
 Phác thảo sơ đồ thí nghiệm trước bằng giấy
 Tạo không gian làm việc cho thí nghiệm (đối với các thí nghiệm quang,
sóng, cơ). Đưa các thiết bị thí nghiệm cần sử dụng từ kho vào không gian làm việc.
 Lắp ráp các thiết bị theo sơ đồ đã phác thảo trên giấy.
 Thiết lập các thuộc tính cần thiết cho từng đối tượng.
 Kiểm tra lại sơ đồ, tiến hành thí nghiệm, quan sát, đo đạc.
- Phân phối tư liệu cho mỗi hoạt động.
Bước 5: Lựa chọn công cụ và số hoá kịch bản
- Lựa chọn phần mềm công cụ thích hợp cho việc số hóa kịch bản.Hiện nay
có khá nhiều công cụ hỗ trợ cho việc xây dựng bài giảng điện tử. Tuy nhiên những
công cụ được nhiều giáo viên sử dụng đó là PowerPoint, Violet, Lectrure Maker

học. Thí nghiệm ảo đạt hiệu quả cao cho minh hoạ, khám phá, học viên quan sát
được các hiện tượng chính phù hợp với tốc độ nhận thức và giúp khắc sâu kiến thức.
- Các câu hỏi trắc nghiệm đa dạng, kiểm tra được kiến thức của bài học, đạt
hiệu quả củng cố, luyện tập.
4.2. Về hình thức
Trình bày thẩm mỹ, rõ nét, dễ hiểu, dễ nắm, kích thích được sự hưng phấn,
tích cực, chủ động, không làm học viên mất tập trung vào bài học.
Yêu cầu cụ thể:
- Hình và chữ phải rõ, nét, cỡ chữ đủ lớn để xem, gọn lời, trình bày đẹp và có
tính trực quan, thể hiện nổi bật được kiến thức.
- Các hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng có
mức độ hợp lý, không bị lạm dụng, không gây nhiễu loạn làm mất tập trung vào bài
học. Các hiệu ứng không làm cho học viên bị phân tán chú ý, không quá nhiều, sử
dụng có cân nhắc đến ảnh hưởng bất lợi của nó. Ví dụ: hay cho con chữ xuất hiện lẻ
tẻ, rời rạc, chuyển động bay bướm, vòng vèo, chậm chạp các dòng chữ chuyển động
quá cầu kỳ hoặc rời rạc, lừ đừ. Màu sắc sặc sỡ, loè loẹt; âm thanh ồn ào, chói tai khi
chuyển slide hoặc đánh dấu trắc nghiệm
4.3. Về hiệu quả
Việc ứng dụng CNTT phải góp phần mang lại hiệu quả trong dạy và học.
Trong dạy học vật lí CNTT phải giúp cho học viên dễ hiểu, dễ tiếp thu hơn, khắc sâu
kiến thức hơn, khắc phục được những thiếu thốn về thiết bị thí nghiệm và góp phần
vào thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Yêu cầu cụ thể:
- Thực hiện được mục tiêu bài học, học viên hiểu bài và hứng thú học tập.
30
- Học viên tích cực, chủ động trong quá trình học tập.
- Học viên được thực hành, luyện tập nhiều hơn.
- Phát huy được tác dụng nổi bật của công nghệ thông tin mà bảng đen và các đồ
dùng dạy học khác khó đạt được thông qua việc thực hiện các thí nghiệm ảo, luyện tập
trên máy tính, khai thác các phần mềm dạy học có liên quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status