Luận văn tốt nghiệp Đề tài
ứng dụng công nghệ thông tin
trong đổi mới phương pháp dạy học
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Thế Thạch - Phạm Đức Quang
Phan Đoài Bắc - Lê Minh Đức - Trƣơng Tứ Hải Tài liệu tập huấn giáo viên
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
và
ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
MÔN TOÁN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
III. Xu thế ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường
THPT
16
6
Phần 2. Hƣớng dẫn khai thác thông tin và sử dụng một số
phần mềm góp phần đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Toán ở trƣờng THPT
20
7
I. Sử dụng phần mềm Maple góp phần đổi mới PPDH môn Toán
ở trường THPT
20
8
II. Sử dụng phần mềm POWERPOINT góp phần đổi mới PPDH
môn Toán ở trường THPT
23
9
III. Sử dụng Internet, Website, Blog trong dạy học
39
10
Phần 3. Ứng dụng CNTT góp phần đổi mới PPDH và kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trƣờng THPT
46
11
I. Ứng dụng CNTT góp phần đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập môn Toán ở trường THPT
46
12
II. Minh họa về ứng dụng CNTT góp phần đổi mới PPDH dạy
học môn Toán ở trường THPT (các bài: Phép tịnh tiến; Hai mặt
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tập thể biên soạn:
Nguyễn Thế Thạch - Vụ GDTrH, Bộ GD và ĐT
Phạm Đức Quang - Viện KHGD VN
Phan Đoài Bắc – Công ty TBGD TƢ1
Lê Minh Đức - THPT Long Khánh, Sở GD và ĐT Đồng Nai
Trƣơng Tứ Hải - THPT Trần Đại Nghĩa, Sở GD và ĐT Tp.HCM
4
LỜI NÓI ĐẦU
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học là một chủ đề lớn, một xu
thế mới và sẽ làm thay đổi nền giáo dục Việt Nam một cách cơ bản trong giai đoạn
hiện nay và trong tương lai.
Ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và đổi mới kiểm tra
đánh giá kết quả học tập (KT ĐG KQHT) môn Toán ở Trung học phổ thông (THPT)
là một xu thế tất yếu. Thực tế đã có nhiều nhà khoa học, toán học, tin học, nhà giáo và
nhà quản lý không ngừng xây dựng, thiết kế và sử dụng các phần mềm quản lý, các
phần mềm hỗ trợ giảng dạy, phần mềm tính toán, phần mềm ứng dụng CNTT cho
môn Toán để phục vụ việc dạy-học, đổi mới PPDH và KT ĐG KQHT môn Toán ở
trường phổ thông. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện dạy học, nội dung từng bài học, đối
tượng nghiên cứu cụ thể mà chúng ta có phương pháp ứng dụng CNTT với các mức
độ và hình thức khác nhau sao cho việc dạy-học và KT ĐG KQHT đạt yêu cầu khoa
học và hiệu quả mong đợi. Ở đây, chúng ta sử dụng thuật ngữ CNTT với nghĩa rộng,
bao gồm thiết bị kĩ thuật, chương trình phần mềm, v.v…
Trước đây, ở trường phổ thông người thầy giảng giải rất nhiều, chủ yếu là dạy
học đọc – chép, truyền thụ một chiều, người học thụ động, chủ yếu là học thuộc lòng
- Xu thế ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT
- Xu thế ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường THPT
Phần 2. Hƣớng dẫn khai thác thông tin và sử dụng một số phần mềm góp phần
đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trƣờng THPT
- Sử dụng phần mềm Maple góp phần đổi mới PPDH môn Toán ở trường THPT
- Sử dụng phần mềm POWERPOINT góp phần đổi mới PPDH môn Toán ở trường
THPT (Nhúng, chèn các file kết xuất từ các phần mềm Toán học để tạo bài giảng)
- Sử dụng Internet, Website, Blog trong dạy học
Phần 3. Ứng dụng CNTT góp phần đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Toán ở trƣờng THPT
- Dạy học môn Toán ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT góp phần đổi mới PPDH
- Minh họa về ứng dụng CNTT góp phần đổi mới PPDH dạy học môn Toán ở trường
THPT (các bài: Phép tịnh tiến; Hai mặt phẳng vuông góc; Hàm phân thức hữu tỉ, bậc
nhất/bậc nhất;…)
6
Phần 1: Công nghệ thông tin và xu hướng ứng dụng
trong dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập
môn Toán ở trường THPT I. ĐÔI NÉT VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN và TRUYỀN THÔNG
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng dụng
trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy nhiên nếu như công dụng của
máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tính toàn cầu (Internet) đem lại
những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được. Chính vì vậy, ngày nay chúng ta
thường nghe nói đến thuật ngữ CNTT&Truyền thông (ICT) thay vì CNTT (IT).
chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến
HS, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm
thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tác người và máy.
7
- E-learning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà GV đã soạn sẵn,
hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của GV, hoặc có thể trao đổi trực tuyến với GV
thông qua mạng Internet. Điểm khác cơ bản của hình thức E-learning là lấy người học làm
trung tâm, người học sẽ tự làm chủ quá trình học tập của mình, người dạy chỉ đóng vai trò hỗ
trợ việc học tập cho người học.
Như vậy, có thể thấy CBT và e-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vào dạy và học
khác nhau về mặt bản chất:
+ Một bên là hình thức hỗ trợ cho GV, lấy người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên
mô hình lớp học cũ ( CBT )
+ Một bên là hình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm, trong khi người dạy
chỉ là người hỗ trợ ( E-learning )
Dưới đây, chúng ta xem xét những ứng dụng của CNTT vào hai hoạt động cơ bản
của quá trình dạy học.
2.1. Ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên
2.1.1 Phát triển và hoàn thiện tài liệu dạy học
Trong môi trường học tập mang tính chất cá thể hoá cao, HS theo đuổi những câu
hỏi khác nhau, tốc độ làm việc khác nhau, sử dụng tài liệu khác nhau, tham gia vào
các loại hoạt động khác nhau, và làm việc trong các nhóm học tập thì người thầy cần
thiết (và có thể) dựa vào CNTT để phát triển và hoàn thiện tài liệu nhằm đáp ứng tốt
hơn các nhu cầu phân hóa HS. Dưới đây sẽ mô tả hai cách thức khác nhau mà GV có
thể sử dụng CNTT để soạn tài liệu hướng dẫn cho HS.
Phát triển tài liệu hướng dẫn dựa trên cơ sở CNTT
CNTT cho phép GV sáng tạo tài liệu cho mình, có thể được xem là vô cùng hấp
CNTT có một vai trò đắc lực trong việc phân định luồng suy nghĩ và học tập của HS:
- Phản ánh cách thức HS học tập qua thông tin phản hồi.
- Ghi chép lại các quá trình suy nghĩ và sách lược giải quyết vấn đề của HS trước
một vấn đề hay nhiệm vụ nào đó.
- Đánh giá khả năng xử lý vấn đề của HS.
Thí dụ, ở Mỹ có phần mềm gọi là siêu thẻ, nó có khả năng tạo ra tệp dẫn dắt chứa
tất cả các hoạt động của mỗi HS trong lớp. Tệp này có thể được cài đặt vào ngay
trong máy tính cùng với các sản phẩm nhìn-viết của HS. GV có thể kiểm tra tệp đó
nhằm phát hiện được cách tiến hành công việc mà mỗi HS đang thực hiện. Bởi vậy,
các công nghệ có chức năng mạnh hơn cho ta khả năng nắm bắt được “luồng” suy
nghĩ của mỗi HS khi các em xử lý vấn đề.
Bổ sung cho khả năng phân tích quá trình làm việc của HS như nói ở trên, nhờ quan
sát qua màn hình máy tính GV có thể tiến hành đánh giá liên tục và không chính thức
trong lúc HS đang làm việc. Khi đi kiểm tra phòng máy hay trong lớp học, GV có thể
dừng lại, quan sát, và can thiệp ngay trong lúc HS đang làm bài tập viết hay một công
việc nào đó. Qua đó, GV nhận biết được nhiều hơn cách thức mà các HS đang học
nhờ quan sát được toàn bộ lớp khi HS đang làm việc tại bàn máy tính.
Công nghệ Multimedia cho ta dạng phương tiện tương tự để ghi chép và truy cập
quá trình học tập của HS. Ví dụ như các GV trường Skyline Elementary - ở
California, đã sử dụng thiết bị video như là một công cụ để quan sát và phân tích các
chiến lược mà HS theo đuổi khi tham gia vào hoạt động xử lý vấn đề. Dù máy quay
video không có những khả năng chuẩn đoán và tổng hợp như ở các hệ thống máy vi
9
tính, nhưng chúng vẫn cho ta một nguồn dữ liệu dồi dào phục vụ công việc kiểm tra
các quá trình học tập của HS thể hiện trên thao tác.
Cung cấp khung cảnh đánh giá thực
Các phòng học có các máy quay video gắn tại bàn bổ sung cho thiết bị video toàn
phòng như là một công cụ để quan sát sẽ cung cấp cho chúng ta khung cảnh đánh giá
10
hạn, các khả năng về suy nghĩ, ngôn từ, và sắp xếp ý tưởng mang tính đa dạng được
thường xuyên thực hiện tại lớp, nhưng những nhận xét có được này thường bị thất
thoát khỏi hệ thống mỗi khi HS đem chúng về nhà. GV không có cách nào để lưu trữ
các nhận xét mang tính tiến bộ theo thời gian về nội dung công việc của HS, hay để dễ
dàng tổng hợp về điểm số, về các sở trường hay vấn đề về khả năng viết để điều chỉnh
việc giảng dạy.
Một sản phẩm hiện đang được Midian Kurland phát triển tại Trung tâm phát triển
giáo dục Hoa Kỳ giúp GV tăng cường đáng kể được khả năng lưu trữ, truy cập và
xác định kết quả công việc của HS. Công cụ có tên là TextBrowser này cho phép truy
cập đến bài tập, nhận xét bài làm của HS, ra thông tin phản hồi, ghi chép và giám sát
HS theo kiểu truyền thống của GV, nhưng lại có được ưu việt của công nghệ nâng cao
lên rất nhiều lần về mức độ và tính linh hoạt; nhờ đó GV có thể hoàn thành tốt nhiệm
vụ đã trao cho mình. Mặc dù TextBrowser lúc đầu được phát triển như một hệ thống
đánh giá kỹ năng viết bài, nhưng về sau công cụ này có thể được vận dụng để đánh giá
mọi lĩnh vực mang tính nội dung.
2.1.3 Quản lý có hướng dẫn học tập của HS
Công tác giảng dạy kéo theo lượng công việc khổng lồ về quản lý các mục tiêu hỗ
trợ dạy-học và hồ sơ thực hành của HS, đặc biệt là khi nội dung hướng dẫn đã được
soạn thảo riêng cho cá nhân. Một trong các “ngăn chứa” lớn nhất của các hệ thống
chuyên về học tập là để chứa phần mềm nhằm tự động hoá quy trình này. Mục tiêu
học tập của mỗi HS, đơn vị học phần dự định và đã hoàn thành, công việc đánh giá
cuối mỗi tiểu mục đều được ghi lại. Rất nhiều hệ thống có khả năng làm ra các báo
cáo tình hình học tập cả cho cá nhân HS và cho tập thể lớp. Những điểm đặc trưng về
“quản lý có hướng dẫn” như vậy sẽ không thể làm được nếu thiếu vắng một hệ thống
chuyên về học tập được thiết kế để bố trí hướng dẫn đúng chỗ, đúng lúc.
2.1.4 Mở rộng kiến thức của GV
Dịch vụ Voice Link (Ý kiến qua điện thoại) được Tổ hợp viễn thông miền nam
nước Anh cung cấp cho hơn 20 thị trấn vùng Connecticut, đã giúp cho GV có thể
thông báo với phụ huynh về bài tập về nhà, phiếu học tập và các chuyến đi thực tế.
Rất đơn giản đó là hệ thống điện thoại tại phòng học có thể giải phóng GV khỏi vấn
đề đi lại và tạo kênh thường trực nối GV với phụ huynh.
Voice Mail (Ý kiến qua thư) để cập nhật phụ huynh về nội dung giáo trình giảng
trên lớp và về bài tập tại nhà và Voice Bulletin Boards (Ý kiến qua phiếu) đánh dấu
các hoạt động của nhà trường có thể giúp HS, phụ huynh và GV có thông tin về các
hoạt động đang diễn ra tại trường học.
Sử dụng điện thoại hiện có, một số cộng đồng đã thiết lập được các chương trình
“Đường dây nóng bài tập ở nhà” hoặc “Gọi cho thầy giáo”. Tuy vậy, những chương
trình loại này mới chỉ bắt đầu khai phá các cách thức mà qua đó công nghệ có thể giúp
phụ huynh tham gia được nhiều hơn vào việc học tập của con em mình. Phụ huynh có
thể sử dụng thông tin này làm điểm khởi đầu để lôi cuốn con em họ vào những hoạt
động có liên quan, để thảo luận thường xuyên về tiến bộ và nhu cầu học tập của HS. 12
2.1.7 Tích hợp CNTT vào lớp học
Tích hợp CNTT vào lớp học là một biện pháp làm tăng hiệu quả sử dụng công nghệ
trong dạy và học. Cuộc cách mạng về công nghệ máy tính và công nghệ truyền thông
đã đem lại hiệu quả cao hơn cho việc đổi mới PPDH học so với các công nghệ trước.
CNTT và truyền thông cho phép người học kết nối với nhiều thông tin hơn, với nhiều
người hơn và việc dạy học được cá biệt hoá cao hơn. Nếu CNTT được kết hợp với
các thiết bị dạy học khác sẽ nâng cao hiệu quả của công nghệ lên rất nhiều.
Thí dụ đầu tiên nói về tích hợp công nghệ là các phòng thí nghiệm có trang bị máy
vi tính - MBLs (Microcomputer-Based Laboratories). Các phòng MBLs bao gồm một
chương trình thiết kế trên máy vi tính PC để vẽ đồ thị các số liệu với một bộ các thiết
bị đánh giá ngoại vi (ví dụ: thiết bị đo cảm ứng, máy đo nhiệt độ) có tác dụng để thu
Hướng thứ 3: GV xây dựng một đơn vị chương trình giảng dạy theo một đề tài hay
một chủ đề, có sử dụng một loạt các ứng dụng công nghệ khác nhau.
Bất kể là cách thức sử dụng công nghệ ra sao (đơn chương trình, đa chương
trình) hay ứng dụng công nghệ sử dụng cao hay thấp (chế bản văn bản, CD-ROM), thì
việc hoà nhập công nghệ nào cũng buộc GV phải tái suy nghĩ, tái chuyển đổi và tái bố
cục chương trình giảng dạy của mình. Mọi sử dụng công nghệ đều bắt buộc GV phải
nêu được các câu hỏi như: Công nghệ mang lại điều gì cho HS trong quá trình lĩnh
hội tri thức? HS sẽ hợp tác với nhau ra sao trong học tập? Mối quan hệ giữa công
nghệ với các tài liệu hướng dẫn khác? HS phải cần những kiến thức, quy trình và kỹ
năng gì để có thể sử dụng công nghệ? Kiến thức gì về nội dung hay nguyên lý giảng
dạy hoặc về công nghệ mà tôi cần phải có để có thể củng cố cách học tập trong HS
của tôi? Trả lời cho các câu hỏi như trên đòi hỏi GV tự bồi dưỡng để có thể ứng dụng
CNTT khi dạy học trên lớp.
2.2 Ứng dụng CNTT trong học tập của học sinh
CNTT cũng hỗ trợ cho hoạt động học tập của HS, góp phần làm tăng hiệu quả
giáo dục. Trước hết hãy so sánh CNTT với các phương tiện dạy học truyền thống.
2.2.1 So sánh CNTT với các phương tiện truyền thống
Khi CNTT được áp dụng vào trường học thì đương nhiên có yêu cầu muốn so sánh
tính năng hiệu quả của nó với các phương tiện hiện có. Những nghiên cứu ban đầu so
sánh CNTT với đài phát thanh, TV, và trên cơ sở bài giảng ở lớp và sách giáo khoa.
Hầu hết đều phát hiện rằng CNTT hơn hoặc là tương đồng hoặc là ưu việt hơn phương
tiện truyền thống nếu xét về phương diện tác động tới việc học tập của HS.
Hướng dẫn HS học tập có hỗ trợ của CNTT
Các cuộc nghiên cứu được tiến hành ở Hoa Kỳ ở cấp độ trường tiểu học (Niemiec &
Walberg 1985), và trường trung học (Weinstein & Walberg 1986), cho thấy thế mạnh
đáng kể của hướng dẫn HS học tập có sự hỗ trợ của công nghệ (phần mềm CAI). Lợi
thế của học tập có công nghệ hỗ trợ tỏ ra lớn hơn hẳn đối với HS yếu hoặc kém chức
môn học về khoa học, lịch sử, và xã hội. Hệ thống này được thiết kế trên cơ sở hợp tác
làm việc, cho phép HS tiếp cận được với công việc của HS khác và tự mình có lời
chú giải, cho lời bình luận, thêm thông tin và các kiểu loại giúp đỡ khác.
Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về xây dựng môi trường học tập cho HS và có
thể đưa ra nhận định rằng phương pháp này mang lại một sự chuyển đổi trong các lớp
học. Đó là một chuyển biến từ các hoạt động theo điều khiển của GV sang trạng thái
học tập lấy HS làm trung tâm, trong đó xu hướng hợp tác cùng học ngày càng gia
tăng. HS thường được mô tả là hoạt động nhiều hơn và hăng say học tập hơn. Về GV,
tính chất giáo huấn ít đi và ngày càng thêm tính huấn luyện.
15
Một trong những môi trường học tập tiêu biểu có ứng dụng CNTT là lớp học
thông minh (Smart classroms). Mô hình của Lớp học thông minh đầu tiên ra đời năm
1983 tại trường Blackstock Junior High School, Hoa Kỳ. Đó là lớp học có những đặc
trưng như:
- Có môi trường học tập giàu công nghệ (technology-rich enviroment).
- Tích hợp công nghệ vào chương trình dạy học (technology integrated into
curriculum).
- Khuyến khích GV và HS thực hiện PPDH mới
Lớp học thông minh có những đặc tính tiêu biểu như sau:
Thứ nhất nhấn mạnh đến vai trò trung tâm và sự nhiệt tình của những người đứng đầu
nhà trường, của gia đình và HS trong việc ứng dụng CNTT vào học tập. Môi trường
học tập ở các Lớp học thông minh này tập trung vào vấn đề: CNTT có thể hỗ trợ cho
nhu cầu và khả năng của cá nhân như thế nào chứ không phải về tính năng kỹ thuật
của bản thân công nghệ.
Thứ hai là vấn đề đánh giá HS. Hiện nay thành tích của nhà trường và HS được đánh
giá dựa trên điểm số của bài kiểm tra. Cách chắc chắn nhất để nâng cao điểm số bài
thi là kiểu dạy để thi, kiểm tra và cách dạy học truyền thống rất phù hợp với cách đánh
giá kiểu này. Người ta thấy không cần thiết phải đưa CNTT vào hỗ trợ dạy-học. Như
một hệ quả tất yếu của đưa công nghệ vào dạy học đó là phải đổi mới cách đánh giá
rất nhiều thuật toán, có thể giải quyết bằng lập trình.
3.1 Vai trò của máy tính trong dạy học môn Toán
Máy tính với các phần mềm ứng dụng đã tạo được vai trò trợ giúp đặc biệt việc
dạy học môn Toán mà các phương tiện dạy học truyền thống không có được.
3.1.1 Đảm bảo tính cá thể hoá cao trong dạy và học môn Toán
Ngày nay việc máy tính kết hợp với kỹ thuật đa phương tiện, người ta có điều kiện
rất tốt để thực hiện nguyên tắc cá thể hoá trong dạy học. Máy tính có khả năng tạo lập
mức độ kiến thức cần trình bày một cách phù hợp với trình độ học tập của từng HS.
HS học với sự trợ giúp của máy tính có thể theo tiến độ riêng. HS có cơ hội thoả mãn
các nhu cầu, sở thích, phát triển thiên hướng, tiến hành học theo tiến độ riêng của
mình.
3.1.2 Tính ưu việt của máy tính trong dạy và học môn toán được thể hiện ở:
- Chú trọng đến tư duy thuật toán và kĩ năng giải quyết vấn đề hơn là học nhiều vấn
đề rời rạc.
- Các kĩ năng cơ bản không học riêng lẻ mà gắn với giải quyết các vấn đề của thế
giới thực, nghĩa là phải có sự tổng hợp một số kĩ năng.
- HS không phải nhập tâm quá nhiều, nguồn thông tin đến với HS vào thời điểm khi
chúng trở nên có ích để giải quyết các vấn đề cụ thể.
- Số vấn đề cần học trong chương trình toán có trợ giúp của máy tính ít hơn so với
chương trình cũ, nhưng các vấn đề thường đi sâu hơn.
17
- HS đóng vai trò chủ động hơn so với phương pháp học cũ ở đó HS chỉ thụ động
tiếp nhận thông tin do GV cung cấp.
3.1.3 Hệ thống dạy học dựa trên máy tính (Computer-Based Tutorial Systems)
Trong số những ứng dụng sớm nhất có ý nghĩa của máy tính đối với giáo dục nói
sites các vấn đề đang được quan tâm về toán.
18
- Nhiều phần mềm có khả năng đặc biệt: xử lý được trên các biểu tượng, vẽ đồ thị,
giải phương trình Các phần mềm thuộc loại này như MATHEMATIC, MAPLE,
GSP, VIOLET,…
- Khả năng lưu trữ, xử lý, lập báo cáo kết quả các cuộc điều tra; thí dụ các phần
mềm như SPSS, AMOS, QUEST
- Khả năng hiển thị, soạn thảo tài liệu để trình bày một chuyên đề trong nhóm học
tập, lớp. Minh hoạ về tính năng này là các phần mềm như POWERPOINT,
WORD,…
- Có các phần mềm tạo ra môi trường thuộc lĩnh vực giải toán, là môi trường mở có
khả năng giải quyết được một số dạng toán, sự giao tiếp giữa người và máy rất
thuận tiện. Thí dụ về lĩnh vực này là MAPLE, CABRI-GEOMETRE
- Máy tính có thể thiết lập môi trường nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho các nhóm học
tập hợp tác.
- Trang tính số (Spreadsheet) có rất nhiều ứng dụng trong toán thống kê, lập biểu
bảng báo cáo.
- Ngôn ngữ siêu văn bản có khả năng giao tiếp cao kết hợp với các ứng dụng đa
phương tiện, được kết nối mạng tạo điều kiện trao đổi thuận tiện giữa GV, phụ
huynh, các chuyên gia. Ngoài ra người ta còn tổ chức dạy học từ xa, hội nghị “ảo”
và nhiều ứng dụng khác.
3.1.5 Máy tính còn là công cụ có hiệu lực trong giảng dạy toán của GV:
- Giám sát, hướng dẫn, theo dõi quá trình học của HS
- Lưu trữ kết quả học tập
- Chuẩn bị tư liệu, soạn bài giảng trên lớp
- Trao đổi với HS, phụ huynh HS và các nhà quản lý
- Trao đổi chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy và tư liệu với đồng nghiệp
- Làm việc với chuyên gia về các lĩnh vực thuộc chuyên môn sâu
của CNTT. Mặt khác, nếu không đặt ra yêu cầu có tính chất pháp lệnh thì họ cảm thấy
cứ giảng dạy toán theo kiểu cũ như bao nhiêu năm nay, không cần đổi mới.
- Chưa có sự hỗ trợ kịp thời về chuyên môn. Thông thường thì máy tính ít được ứng
dụng bởi vì phần mềm hiện có không phù hợp với các mục tiêu chương trình giảng
dạy của GV. Vấn đề này có thể khắc phục trên hai hướng:
Thứ nhất, thông qua việc khuyến khích sự phát triển tài liệu phần mềm tương thích
với các mục tiêu giảng dạy.
Thứ hai, sử dụng các phần mềm hiện có, khai thác các khía cạnh phù hợp của phần
mềm, tổ chức huấn luyện GV từ khâu soạn giao án cho đến sử dụng phần mềm.
- Cách thi cử như hiện nay chưa khuyến khích ứng dụng máy tính vào dạy học. Thành
tích của nhà trường được phản ánh dựa trên cơ sở điểm số của bài thi hoặc kiểm tra
của HS. Cách chắc chắn nhất để nâng cao điểm thi là phương pháp dạy để đi thi
(luyện thi). Do đó, thời gian dành để sử dụng công nghệ hỗ trợ cho các mục đích học
tập khác sẽ trở nên hiếm hoi và là “việc làm không cần thiết” nếu cứ áp dụng kiểu
đánh giá như hiện nay. 20
Phần 2. Hướng dẫn khai thác thông tin và sử dụng
một số phần mềm góp phần đổi mới PPDH và kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trường THPT
I. SỬ DỤNG PHẦN MỀM Maple HỖ TRỢ ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP
DẠY HỌC và KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN
TOÁN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1. 1 Giới thiệu
• Gói lệnh Student có 3 gói lệnh con là Calculus1, LinearAlgebra và Precalculus.
Để nạp từng gói lệnh, làm như sau:
> with(Student[Precalculus]):
• Gói lệnh con Calculus1 là gói lệnh quan trọng nhất của Student. Nó chứa các công
cụ hỗ trợ từ hướng dẫn thực hiện các phép tính vi tích phân cho đến khảo sát và vẽ đồ
thị hàm; từ việc minh họa vẽ tiếp tuyến đường cong cho đến việc tính diện tích, thể
tích mặt tròn xoay,v.v
Ví dụ: Khảo sát hình học và thể tích của vật thể tròn xoay.
Ta có thể vào các câu lệnh sau
> with(Student[Calculus1]):
> VolumeOfRevolution(cos(x) + 3, sin(x) + 2, x=0 4*Pi);
20 π2
> VolumeOfRevolution(cos(x) + 3, sin(x) + 2,x=0 4*Pi,output=integral);
d ⌠⌡
0
4 π
π ( cos(x )2 + 6 cos(x ) + 5 − sin(x )2 − 4 sin(x ) ) x
> VolumeOfRevolution(cos(x) + 3, sin(x) + 2, x=0 4*Pi,output=plot):
Lệnh cuối cùng tính thể tích của mặt tròn xoay xác định bởi hàm trên, kèm theo với
hình vẽ.
• Sử dụng các Tutor trong các gói của Student và các hỗ trợ tính toán từng bước.
Ví dụ: Tích tích phân
Ta có thể vào câu lệnh sau
> with(Student[Calculus1]):IntTutor()
22
Sau khi nhấn Enter, một cửa sổ Maplet hiện ra, cho phép ta nhập hàm và các khoảng
cần tính tích phân (xác định). Maple này có thể giúp đưa ra các biến đổi từng bước
>pointplot([seq([n,abs(sin(n)+1/n)^(sqrt(n))],n=1 1000)],color=blue);
1.2.5 Maple hỗ trợ GV trong các hoạt động giảng dạy khác
Maple có nhiều ứng dụng cho hoạt động giảng dạy của GV toán, chẳng hạn:
a) Dùng Maple để tìm và soạn hệ thống bài tập, đề thi theo ý muốn.
b) Kiểm tra các kết quả của các bài toán tính toán để dự đoán các chứng minh (ví dụ
về các bài toán giải phương trình, phân tích hoặc rút gọn đa thức, phân thức )
c) Soạn giáo án, vẽ các đồ thị chính xác phục vụ giảng dạy hoặc sinh hoạt chuyên
môn; viết các báo cáo khoa học.
d) Công cụ hỗ trợ trong bồi dưỡng HS giỏi hoặc hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa
học.
e) Là nguồn dữ liệu phong phú để lựa chọn các kịch bản lên lớp.
f) Maple là một nguồn mở, cho phép người dùng dễ dàng tạo ra các lệnh và chương
trình cho riêng mình bằng các modun lệnh có sẵn và ráp nối bằng các lệnh đơn giản.
23
II. SỬ DỤNG PHẦN MỀM Power Point HỖ TRỢ ĐỔI MỚI PHƢƠNG
PHÁP DẠY HỌC và KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN
TOÁN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Nhúng, chèn các file kết xuất từ các phần mềm toán học trong Power Point)
Powerpoint với rất nhiều ưu điểm và tính năng mạnh mẽ, linh hoạt đã trở thành
phần mềm trình chiếu được GV sử dụng nhiều trong giảng dạy môn Toán. Là phần
mềm trình diễn, do đó Powerpoint phải cần đến các phần mềm hỗ trợ khác, như Cabri,
Geometer Sketchpad, Geogebra để có thể chèn, nhúng các dữ liệu.
Trong phần này chúng ta sẽ lần lượt tiếp cận về cách nhúng, chèn vào bài giảng các
dữ liệu được xây dựng từ các phần mềm Cabri II Plus, Cabri 3D, Geometer Sketchpad
và Geogebra.
2.1 Nhúng (Tích hợp) Cabri II Plus trong Powerpoint