Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG NAM THẮNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG NAM THẮNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. MAI VĂN TRINH
Nghệ An - 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn chân thành cảm ơn trường
Đại học Vinh, UBND tỉnh Nghệ An, Sở GDĐT Nghệ An và các trường THPT
ngoài công lập Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện cho tôi tham
gia khóa học thật sự hữu ích và cung cấp tài liệu, số liệu trong quá trình
hoàn thành luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp
đỡ trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai
Văn Trinh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình

MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Những đóng góp của đề tài 5
8. Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2. Các khái niệm cơ bản 7
1.2.1. Công nghệ thông tin 7
1.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin 9
1.2.3. Quản lý 10
1.2.4. Quản lý giáo dục 12
1.2.5. Hoạt động dạy học 14
1.2.6. Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học 15
1.2.7. Trường THPT ngoài công lập 19
1.3. Một số vấn đề về ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học
ở trường THPT ngoài công lập 20
1.3.1. Ứng dụng CNTT trong quản lý soạn thảo giáo án 20
1.3.2. Ứng dụng CNTT trong quản lý thực hiện bài giảng 21
1.3.3. Ứng dụng CNTT trong quản lý khai thác dữ liệu 22

2.3. Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học ở
các trường THPT ngoài công lập Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 44
2.3.1. Thực trạng thực hiện các nội dung việc ứng dụng CNTT trong
quản lý hoạt động dạy học 44
2.3.2. Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy
học 946
2.4. Thực trạng về hệ thống mạng thông suốt từ Trung ương đến địa
phương trong ngành GDĐT 48
2.4.1. Bộ GDĐT 48
2.4.2. Sở GDĐT 50
2.4.3. Trường THPT 52
2.5. Đánh giá chung thực trạng
2.5.1. Thành công
52
52
2.5.2. Hạn chế
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế
53
54
Tiểu kết chương 2 55
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
57
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

81
74
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp
86
75
3.4. Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp
86
3.4.1. Thăm dò và kết quả thăm dò
3.4.2. Đánh giá kết quả thăm dò
76
76
78
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
80
80
82
2.1. Với Bộ GDĐT 83
2.2. Với Sở GDĐT tỉnh Nghệ An
2.3. Với các trường THPT ngoài công lập
83
84
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… 84
PHỤ LỤC………………………………………………………………… 86
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do về mặt lý luận
Vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin

động dạy học được chúng ta quan tâm, các thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục
vụ dạy học như máy tính, máy chiếu được các trường quan tâm trang bị,
nhiều giáo viên (GV) đã đầu tư cho bài giảng của mình để nâng cao chất
lượng giảng dạy. Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy
học vẫn chưa được thường xuyên và rộng khắp.
Với xu thế phát triển hiện nay, mô hình giáo dục cần phải có những thay
đổi phù hợp, trường học phải thay đổi môi trường giáo dục. Mỗi trường học
cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho
học sinh (HS). Một môi trường hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tự
tìm kiếm thông tin cá nhân cho mỗi HS, GV chỉ đóng vai trò hướng dẫn kỹ
năng, phương pháp giải quyết công việc. Kỹ năng giải quyết công việc và xử
lý thông tin là cốt lõi của phương thức giáo dục này và CNTT chính là công
cụ, chìa khóa để hiện thực giá trị cốt lõi trên.
Ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học được coi là một trong những
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập. Chỉ khi nào mỗi cán bộ
(CB), GV coi đổi mới phương pháp giảng dạy và QL hoạt động dạy học thông
qua việc ứng dụng CNTT như là một nhu cầu tự thân, không mang tính áp buộc từ
trên, họ tự tìm tòi, không ngừng đổi mới và hoàn thiện tri thức, kỹ năng áp dụng
sáng tạo các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực thì việc đổi mới PPDH mới
thực sự sâu rộng và có hiệu quả bền vững.
2
1.2. Lý do về mặt thực tiễn
Cùng với các cơ sở giáo dục trên cả nước, nhiều năm qua các trường
Trung học Phổ thông (THPT) nói chung và các trường THPT ngoài công lập
(NCL) Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng đã có nhiều nỗ lực trong việc
ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học phù hợp cho riêng mình, những
cố gắng ấy đã tạo ra những chuyển biến đáng kể trong phong trào thi đua dạy
tốt, học tốt của các trường thành phố.
Tuy nhiên, phong trào ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở
mỗi trường vẫn chưa đều khắp ở các tổ, đoàn thể và các CB, GV. Nó mới chỉ

4. Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An sẽ được nâng cao nếu đề xuất được một số giải pháp ứng dụng
CNTT vào QL hoạt động dạy học có tính khoa học và khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt
động dạy học ở trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu thực trạng việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy
học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất, thăm dò tính cần thiết và khả thi của một số giải pháp ứng
dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích và tổng hợp
4
- Khái quát hóa các nhận định độc lập
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra; Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn;
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm
hoạt động.
7. Những đóng góp của đề tài
Khẳng định cơ sở lý luận khoa học về ứng dụng CNTT trong QL hoạt
động dạy học là một việc làm quan trọng và cần thiết trong vai trò là nhà QL
của Hiệu trưởng (HT), đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện Nhà trường trong
đó có yêu cầu đổi mới QL và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt
động dạy học ở các trường THPT NCL.
Phân tích, đánh giá nguyên nhân tồn tại việc ứng dụng CNTT trong QL
hoạt động dạy học. Đưa ra một số giải pháp khả thi về ứng dụng CNTT trong

tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một
công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở
tất cả các môn học”. Việc tăng cường ứng dụng và phát triển CNTT trong
GDĐT tất yếu dẫn tới việc phải xúc tiến xây dựng nền “Giáo dục điện tử”.
Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì việc đổi mới
phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục là hết sức cần thiết.
Hiện nay ngoài các phương pháp dạy học truyền thống, việc ứng dụng CNTT
trong dạy học sẽ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích
6
thích được tính tích cực, sáng tạo của HS. Hiện nay có nhiều trường phổ
thông đã được trang bị phòng máy và các thiết bị Tin học nhưng việc sử dụng
chủ yếu mới chỉ để dạy Tin học như một môn học, còn việc sử dụng phòng
máy, các thiết bị Tin học cùng với các phần mềm dạy học như một công cụ
dạy học còn là vấn đề cần giải quyết.
CNTT tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy
và học, CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập. CNTT có vai trò
quan trọng trong việc đổi mới công tác QL và đổi mới PPDH theo hướng tích
cực, phát huy tối đa khả năng chủ động, sáng tạo của HS.
Khi ý tưởng ứng dụng CNTT trong GDĐT được đưa ra cách đây nhiều
năm, đã có nhiều ý kiến cho rằng điều đó là chưa cần thiết. Nhiều người còn
cho rằng không có CNTT thì ngành GDĐT vẫn phát triển tốt trong nhiều năm
qua, vẫn đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, cả thế giới
đang vận động theo hướng ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả hoạt động
và ngành giáo dục cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Công nghệ thông tin
1.2.1.1. Khái niệm công nghệ
Công nghệ (Technology) là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng,
bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản
phẩm. Như vậy công nghệ là việc ứng dụng của các dụng cụ, máy móc

thường được ghi lên đĩa từ, đĩa quang, chíp điện tử (là tổ hợp các linh kiện
điện tử)… Thông tin muốn được xử lý trên máy tính phải được mã hoá theo
những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được. Sau khi xử
8
lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận
thức được.
1.2.1.3. Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin (Information Technology - viết tắt là IT) là một
ngành ứng dụng công nghệ vào QL xã hội, xử lý thông tin. Có thể hiểu CNTT
là ngành sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu thập,
truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền thông tin. Hiện nay, có nhiều cách
hiểu về CNTT. Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong
Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ
Việt Nam như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các
phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và
viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài
nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động
của con người và xã hội”.
1.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin
Là việc sử dụng công cụ CNTT nhằm hỗ trợ cho một hoạt động nào đó
mà nó góp phần cho người sử dụng nó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
trong một thời gian ngắn hơn, kết quả chuẩn xác hơn nhờ các tính toán chính
xác từ máy tính.
Việc ứng dụng CNTT trong việc dạy học đang phát triển ngày càng
nhiều về số lượng ở Việt Nam với nhiều hình thức rất đa dạng.
Luật CNTT số 67/2006/QH11, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm
2006, tại Điều 4 Khoản 5, 6 đã nêu: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT
vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an
ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự
vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
[11]
Ngày nay thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định
nghĩa thống nhất. Có người cho rằng QL là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn
thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác, cũng có người cho QL là
một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm
đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên theo nghĩa rộng, QL là hoạt động có
mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: QL chính là các
hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác
nhằm thu được kết quả mong muốn.
Các nhà khoa học Việt Nam ở mỗi góc nhìn khác nhau khi đề cập đến
QL cũng đã đưa ra các khái niệm khác nhau. Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo:
“QL về bản chất bao gồm quá trình quản và quá trình lý. Quản là chăm sóc,
giữ gìn nhằm làm ổn định hệ thống. Lý là xử lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm
làm cho hệ thống phát triển.” [1, Tr 176]
Tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ cho rằng: “QL là hoạt động
thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể
vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người nhằm thực
hiện mục tiêu chung của tổ chức.” [5, Tr 41]
Tác giả Nguyễn Văn Lê thì quan niệm: “QL là một hệ thống xã hội, là
khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những
11
phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố
của hệ.” [10,Tr 6]
Theo hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “QL là một quá trình
định hướng, có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục

luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của trường học XHCN,
tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo
dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. QLGD là sự tác
động của hệ thống QLGD Nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương, đến
khách thể QL và hệ thống giáo dục quốc dân và sự nghiệp giáo dục của mỗi
địa phương nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn.”
[13, Tr 35]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt
động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác
đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.
QLGD vừa là một khoa học đồng thời mang tính nghệ thuật.
Tác giả Trần Kiểm có nêu QLGD có nhiều cấp độ, mà chủ yếu là ở hai
cấp độ vĩ mô và vi mô.
Cấp độ vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác của chủ thể
QL đến tất cả hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả
mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội yêu cầu”.
Cấp độ vi mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác của chủ thể
QL đến GV, nhân viên (NV), HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài Nhà
trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của Nhà
trường”. [9, Tr 36]
13
QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL nhằm
đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt đến kết quả mong muốn
bằng cách hiệu quả nhất.
Như vậy, QLGD là QL quá trình hoạt động dạy và học bao gồm các
thành tố của hoạt động dạy học, những tác động của nó lên hệ thống là tác
động kép tạo ra sức mạnh tổng hợp, vì thế chủ thể QL cần phải chú ý đến mối
quan hệ QL dạy học trong hoạt động giáo dục, các mối quan hệ giữa các cấp
QL, quan hệ nội bộ và bên ngoài. QLGD cũng có quy mô và các cấp độ đa

hiện tốt các chức năng dạy học. Vì vậy muốn nâng cao mức độ khoa học của
việc dạy học ở trường phổ thông, người QL cần đặc biệt chú ý hoạt động dạy
của GV, chuẩn bị cho họ có khả năng hình thành và phát triển ở HS các
phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập. Đây là khâu cơ
bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động của HS.
Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó: Quan hệ
giữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan
hệ điều khiển, với tác động sư phạm của mình, thầy tổ chức điều khiển hoạt
động của trò. Từ đó, chúng ta có thể thấy công việc của người QL nhà trường
là: QL hoạt động dạy học chủ yếu tập trung QL hoạt động dạy của thầy và
trực tiếp đối với thầy, thông qua hoạt động dạy của thầy mà QL hoạt động học
của trò.
1.2.6. Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học
Trong xu thế mở cửa hội nhập với thế giới, lĩnh vực giáo dục đào tạo,
đặc biệt là giáo dục phổ thông được cập nhật những tiến bộ trong cách dạy,
cách học cũng như cách thức QLGD của các nền giáo dục tiên tiến trên thế
giới. Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng giáo dục hiện đại là sự
15
thay đổi trong triết lý giáo dục, đó là xem người học là trung tâm của mô hình
giáo dục thay cho GV là trung tâm như mô hình giáo dục truyền thống. Vì
thế, giáo dục Việt Nam, nơi đề cao vị thế người Thầy phải thay đổi căn bản
trong nhận thức. HS là sản phẩm của Nhà trường, vì vậy chất lượng của người
học chính là thước đo, là tiêu chí để đánh giá chất lượng và hiệu quả của
ngành giáo dục.
Với sự thay đổi mô hình giáo dục trong trường phổ thông như trên, vai
trò của CNTT trở nên đặc biệt quan trọng, CNTT trở thành công cụ cần thiết
phục vụ hiệu quả mọi hoạt động trong Nhà trường, vì vậy HT cần có ý thức
cao về ứng dụng CNTT trong QL cũng như trong hoạt động dạy và học.
Ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học là xu thế tất yếu của giáo
dục thế kỷ XXI. Chúng ta đang sống trong thời đại kinh tế tri thức mà đặc

CNTT trong GDĐT.
4. Bộ GDĐT quy định điều kiện hoạt động GDĐT, công nhận giá trị
pháp lý của văn bằng, chứng chỉ trong hoạt động GDĐT trên môi trường
mạng và thực hiện kiểm định chất lượng GDĐT trên môi trường mạng”.
Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là một xu thế tất yếu đã và
đang phát triển ngày càng nhiều về số lượng cũng như chất lượng trong ngành
giáo dục trên thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng.
Năm học 2008 - 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng
CNTT, đổi mới QL tài chính và xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”,
tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển
ứng dụng CNTT trong những năm tiếp theo. [6]
17

Trích đoạn Giải pháp 3: Tăng cường lập kế hoạch và chỉ đạo triển kha Giải pháp 4: Quản lý công tác biên soạn, lưu trữ các phần Giải pháp 5: Xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống cơ sở Giải pháp 6: Tăng cường kiểm tra việc thực hiện ứng dụng Với các trường THPT ngoài công lập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status