I. Đặt vấn đề:
Trong hoàn cảnh toàn nghành Giáo dục - Đào tạo đang nỗ lực đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động của học sinh thì người
giáo viên cũng phải trăn trở để tìm cho mình một phương pháp dạy học với
tinh thần chung ấy.
Giảng dạy mọi bộ môn khoa học nói chung và giảng dạy môn Ngữ văn
trong trường THCS nói riêng luôn đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, sáng
tạo để có phương pháp thích hợp giảng dạy và mang lại hiệu quả cao nhất. Sở
dĩ như vậy là vì phương pháp giảng dạy có ý nghĩa quyết định đối với chất
lượng một giờ dạy. Có thể nói, cùng một nội dung chương trình nhưng phương
pháp giảng dạy của giáo viên khác nhau thì mức độ hiểu bài của học sinh cũng
khác nhau. mặt khác đối tượng giảng dạy là những con người cụ thể, nội dung
kiến thức cần giảng dạy thuộc những bộ môn khoa học khác nhau. Vì vậy,
người dạy học phải làm sao có được phương pháp phù hợp nhất để chuyển tải
đúng đắn chân lý khoa học vào đối tượng giảng dạy để đối tượng có thể hiểu
đúng đắn và sâu sắc nội dung tri thức đó và vận dụng vào cuộc sống của mình.
Môn ngữ văn trong nhà trường vừa là một môn học nghệ thuật, vừa là môn
học công cụ. Dạy - học tác phẩm văn chương trong nhà trường có nhiệm vụ
nâng cao chất lượng cho người học, làm phong phú hơn về văn hoá, về tâm
hồn và phát triển nhân cách của người học. Dạy học tác phẩm văn chương
trong nhà trường là hướng dẫn sự tiếp nhận của tác phẩm, làm cho văn bản
ngôn từ sống lại trong học sinh, giúp câc em nhận ra điều mà tác giả muốn đối
thoại với người đời. Từ sự nhận thức đó, các em đi đến sự tự ý thức, tự điều
chỉnh mình trong cuộc sống.
Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi luôn tìm cách cải tiến phương pháp
giảng dạy đối với từng loại kiến thức, từng bài dạy cụ thể để mỗi giờ dạy từ
chỗ học sinh ít chú ý nghe giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn với các em.
Đặc biệt trong vài năm gần đây với chủ trương của ngành giáo dục là đẩy
mạnh công nghệ thông tin vào trường học, công nghệ thông tin đã góp phần
1
hiện đại hoá phương tiện, thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy
bài giảng một cách thụ động. Giáo viên chỉ hỏi khoảng bốn, năm câu trong đó
có ba câu cổ điển bất di bất dịch là : đại ý, bố cục, tư tưởng chủ đề sau đó là
dùng phương pháp thuyết trình là chính. Thầy tự cảm thụ tác phẩm và truyền
thụ một chiều cho học sinh, học sinh chỉ có việc ngồi nghe một cách máy móc.
Trong lúc đó qua những kết quả nghiên cứu tâm sinh lý của học sinh và điều
tra xã hội học gần đây cho thấy thanh, thiếu niên có những thay đổi trong sự
phát triển tâm sinh lý, đó là sự thay đổi có gia tốc. Trong điều kiện phát triển
của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu,
học sinh được tiếp thu nhiều nguồn đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc
sống, có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng
lứa tuổi trước đây. Trong học tập họ không thoả mãn với vai trò của người tiếp
thu thụ động, không chấp nhận các giải pháp có sẵn nên học sinh có chiều
hướng không thích học môn văn. Đây là một thực tế được thể hiện qua việc
học sinh không có hứng thú gì khi học môn văn, uể oải, không tập trung,
không nhớ, không thuộc thơ, văn; khi làm bài viết thì không có cảm xúc, điểm
thấp
Đối với giáo viên thì công cụ chủ yếu là viên phấn trắng và bảng đen và sử
dụng các phương pháp dạy học truyền thống một cách khuôn sáo và cứng
nhắc, trong một giờ học thì hoạt động của giáo viên là chủ yếu. bên cạnh đó
giáo viên lại không có bất kỳ một dụng cụ trực quan hay thiết bị hỗ trợ cho
giảng dạy nào cả nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc chuyển tải nội dung
bài giảng . Ví dụ khi giảng về tác giả, tác phẩm, minh hoạ cụ thể cho một hình
3
tượng nhân vật hay các chi tiết nghệ thuật, các giai đoạn lịch sử văn học, các
đoạn tả cảnh thiên nhiên không có tranh, ảnh hoặc video clíp để minh hoạ.
Thực trạng trên đã đặt ra nhiệm vụ cho giáo viên dạy văn ở các trường
trung học là phải tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn, phát huy tính
tích cực chủ động của các em nhằm nâng cao chất lượng giờ học văn. vấn đề
dạy học bây giờ điều quan trọng không chỉ ở chỗ đưa ra kết luận mà chủ yếu là
tìm ra con đường đi đến kết luận. Đối với môn văn, một môn học đồng thời là
- Các phương tiện dạy học hiện đại sẽ tạo ra khả năng để giáo viên trình
bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi
nhanh chóng của khoa học hiện đại.
- Các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hoá các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với
những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp.
* Hạn chế khi sử dụng giáo án điện tử:
- Giáo viên chưa thành thạo các thao tác cơ bản đối với máy tính, chưa biết
sử dụng thành thạo các phần mềm để thiết kế giáo án, đây là mặt yếu của
nhiều giáo viên hiện nay.
- Khi thiết kế giáo án điện tử giáo viên sử dụng màn hình chưa thật hợp lí
trong việc bố trí chữ (viết quá nhiều hoặc viết quá ít - phải lật trang liên tục),
kích cỡ chữ.
- Nội dung viết cũng như tính nhất quán trong trình bày chưa phù hợp (đâu
là nội dung cho học sinh ghi chép, đâu là điều khiển của giáo viên ).
- Còn lạm dụng các hiệu ứng làm học sinh mất tập trung vào bài giảng.
- Lạm dụng màu sắc, âm thanh hoặc sử dụng chúng không hợp lí.
Để xây dựng và sử dụng có hiệu quả giáo án điện tử, bài viết đề xuất một
số vấn đề sau:
3. Một số nguyên tắc trong thiết kế các trang trình chiếu của
giáo án điện tử.
3.1 Sử dụng màu sắc:
Để sử dụng những trang trình chiếu thu hút và ấn tượng, ngoài nội
dung khoa học ra, chúng ta phải biết sử dụng màu sắc hợp lí: chọn màu, phối
5
màu giữa nền và chữ, phối màu giữa các dòng văn bản. Mỗi màu nền mang ý
nghĩa riêng của nội dung và đối tượng học sinh.
Màu chữ và hình sẽ là công cụ đắc lực phục vụ bài giảng, mỗi bài
giảng sử dụng nhiều nhất là 05 màu. Việc phân phối màu hợp lí sẽ làm cho bài
giảng trở nên hấp dẫn hơn. Chẳng hạn như một bài giảng cần dùng một màu
chính xuyên suốt cho nội dung của bài giảng, một vài màu nổi hơn cho các đề
Nên chọn một số kiểu xuất hiện của màn hình phù hợp, mỗi bài giảng chỉ nên
dùng một kiểu thống nhất. Kiểu xuất hiện của chữ nên sử dụng hạn chế ở một
vài Effect như: Box, Diamond, Rese Chú ý cho thực hiện nhanh để không
mất thời gian và nhàm chán.
3.4 Sử dụng kết hợp các hoạt động và minh hoạ.
Đây cũng là một ưu thế tuyệt đối của bài giảng điện tử mà chiếc
bảng thông thường không thể làm được. Nhất là đối với những bài sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực, giáo viên cần mở rộng các nội dung ra thực tế
bằng hình ảnh phim, các phần mềm mô phỏng. Cần cập nhập thông tin, chèn
các câu hỏi, hướng dẫn thảo luận trong khi vẫn để nội dung bài giảng trên màn
hình để tiếp tục bài dạy. Có nhiều cách để người thiết kế thực hiện được điều
đó:
- Sử dụng liên kết:
+ Sử dụng tư liệu theo kiểu liên kết rất thuận lợi. Các thao tác với
máy đơn giản, tư liệu xuất hiện nhanh rõ.
+ Sử dụng các tư liệu là hình ảnh động, film.
+ Có thể liên kết nhiều tư liệu, nhưng trong bài giảng nếu thiếu thời
gian thì ta có thể bỏ qua tư liệu đó cũng không sao. Tuy nhiên, khi trình chiếu
tư liệu thì bài giảng bị gián đoạn.
+ Khi thiết kế các bài giảng tất cả các trang chủ và trang tư liệu để
trong một folder thì mới sử dụng các trang minh hoạ được. Nếu muốn chuyển
sang máy khác cần phải copy toàn bộ folder ấy để chuyển đi.
7
+ Dấu hiệu liên kết sẽ là thay đổi màu sắc, kí tự đã thống nhất trong
trang trình chiếu (chú ý các tư liệu là hình động hoặc film cần được đóng gói
với phần mềm xử lí động (windows media player, winnap ) để đề phòng khi
đem bài giảng sang máy khác thiếu phần mềm xử lí ấy).
- Chèn tư liệu bằng các hiệu ứng xuất hiện và xoá đi:
Một số tư liệu không chiếm đầy trang bài giảng như một hình vẽ, một trích
dẫn, một câu hỏi, một yêu cầu học sinh làm việc, (trao đổi nhóm về một nội
thông tin có hiệu quả thì dù có sự xuất hiện của máy móc và trang thiết bị hiện
đại vẫn không thể làm "xơ cứng" đời sống tâm hồn của người học văn.
4.2 Khai thác kênh hình trong dạy Văn ở trường THCS.
Kênh hình của bộ môn Văn không sẵn có, không cố định như những bộ
môn Lịch sử, Địa lý; vì thế, giáo viên Văn nếu muốn đưa kênh học vào bài
giảng buộc phải tự kiếm tìm và khai thác qua mạng, qua sách báo. Cách khai
thác và sử dụng kênh hình của họ cũng không giống nhau do ý tưởng bài giảng
của mỗi người mỗi khác, do vậy, có sự đòi hỏi cao ở giáo viên sự chịu khó,
khả năng đầu tư về chuyên môn và một niềm say mê trong đổi mới phương
pháp dạy học.
Chương trình Ngữ văn ở trường THCS bao gồm các phân môn: Văn học,
Tiếng Việt, Tập làm văn . Kênh hình được khai thác và sử dụng nhiều nhất ở
phân môn Văn học do đặc thù của phân môn này là học những kiền thức về
lịch sử văn học, tác giả, tác phẩm nên dễ dàng hơn trong quá trình kiếm tìm và
khai thác nguồn kênh học. Tuy nhiên, trong phân môn này, không phải bài học
nào cũng có thể khai thác và sử dụng hiệu quả kênh hình; do đó, giáo viên cần
có sự lựa chọn bài học cho phù hợp trước khi có ý định khai thác và sử dụng
kênh hình.
Phân môn Văn học trong chương trình THCS là "tổng thể" kiến thức về
Văn học của cả 4 năm THCS, phân bố đều ở các giai đoạn khác nhau của tiến
trình lịch sử văn học. Qua quá trình giảng dạy và trên cơ sở nguồn tư liệu có
khả năng đưa vào sử dụng được trên giờ giảng, chúng tôi nhận thấy giáo viên
có thể khai thác kênh hình trong giảng dạy phân môn Văn học ở trường THCS
từ các nguồn sau:
9
- Sử dụng băng tư liệu để minh họa tác phẩm bằng giọng đọc, giọng ngâm,
lời hát của các nghệ sĩ khi giảng dạy các tác phẩm Văn học dân gian , tác
phẩm Văn học trung đại , các tác phẩm Văn học hiện đại.
- Sử dụng các video clip vốn là các tác phẩm đã chuyển thể thành sân khấu
hoặc kịch bản phim để tóm tắt tác phẩm hoặc minh hoạ cho các đoạn trích
Từ ý tưởng của bài giảng đã được xây dựng, giáo viên dự kiến sử dụng
nguồn kênh hình tương ứng để phục vụ cho ý tưởng của mình nhằm đạt hiệu
quả cao nhất. Khả năng khai thác và sử dụng kênh hình của mỗi giáo viên
khác nhau có thể đem đến kết quả dạy học khác nhau. Ví dụ cùng dạy một tác
phẩm nhưng giáo viên nào đầu tư và sử dụng kênh hình hợp lí, phù hợp với
nội dung truyền đạt thì chắc chắn giờ dạy của họ sẽ thành công hơn. Khi đã dự
kiến được nguồn kênh hình, giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin để thiết
kế kênh hình trên máy tính, tập trình chiếu và khai thác thử thông tin qua các
câu hỏi liên quan đến kênh hình.
Quá trình sử dụng công nghệ thông tin trong khai thác kênh hình cần lưu ý:
không được dùng kênh hình để làm mất đi đặc thù của bộ môn Văn. Các hình
ảnh phải đảm bảo các tiêu chí: không lạm dụng kĩ thuật để tạo các hình ảnh có
màu sắc loè loẹt, uốn lượn, bay nhảy cầu kì, mà phải được chọn lọc kĩ, mang
tính điển hình cho ý tưởng mà giáo viên cần thể hiện trong bài giảng, tạo hứng
thú học tập cho học sinh và có giá trị thẩm mĩ cao.
4.3.2 Sử dụng trên lớp:
Đây là công đoạn giáo viên trình bày lại toàn bộ bài giảng điện tử có ứng
dụng công nghệ thông tin để khai thác kênh hình gồm các thao tác:
- Trình chiếu kênh hình lên màn hình lớn cho học sinh quan sát. Giáo viên
có thể dừng lại lâu hơn ở những kênh hình có liên quan tới việc gợi mở các
kiến thức quan trọng nhằm giúp các em khắc sâu và ghi nhớ tốt hơn.
Ví dụ:
11
12
Hình ảnh ông đồ này sẽ được trình chiếu khi dạy bài "Ông đồ" của Vũ
Đình Liên để qua bức ảnh này học sinh có thể hiểu hơn về Ông đồ của
ngày xưa và ý nghĩa của tác phẩm
13
Bốn bức ảnh này được trình chiếu khi dạy đoạn con Hổ nhớ về những kỷ niệm
xưa: "Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
kênh hình.
- Giáo viên cần có phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc thù của bộ môn
Văn, ngôn ngữ trình bày rõ ràng, lời nói và thao tác trên máy tính, cách gợi mở
và kênh hình phải kết hợp hài hoà, linh hoạt để việc khai thác kênh hình vừa
mang tính trực quan sinh động vừa không làm giảm đi "chất văn" thực sự của
một giờ học văn.
Xung quanh hiệu quả của mỗi giờ dạy vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn,
nhưng về cơ bản, công nghệ thông tin đã tác động trực tiếp vào phần nào làm
đổi mới các hính thức dạy học truyền thống, đưa vào các giờ học văn một
không khí sôi nổi, đầy hứng thú, bắt kịp với đà phát triển của giáo dục hiện
đại. Đặt trong xu thế chung ấy, mỗi giáo viên Văn, một mặt cần không ngừng
nâng cao hiểu biết về công nghệ thông tin, mạnh dạn đưa những ứng dụng của
công nghệ thông tin vào trong dạy học; mặt khác, phải biết giữ lại những điểm
ưu việt của cách dạy học truyền thống để mội giờ học Văn thực sự là niềm vui
thích và say mê đối với từng học sinh.
5 Bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
vào dạy học cho giáo viên THCS
5.1 Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học của giáo viên
19
5.1.1 Những năng lực cơ bản về khai thác, ứng dụng công nghệ
thông tin
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, giáo viên phải đáp ứng được
các kỹ năng cơ bản sau:
- các thao tác sử dụng máy vi tính và các thiết bị ngoại vi.
- Thực hiện việc giao tiếp với máy vi tính qua các phần mềm hệ thống và
phần mềm ứng dụng văn phòng.
- Biết tìm kiếm, khai thác thông tin trên mạng internet, biết thực hiện việc
trao đổi thông tin qua mạng.
- Biết sử dụng các phương tiện ghép nối với máy vi tính thường gặp như:
loa, máy in, máy quét ảnh Scanner, máy ảnh số, máy chiếu
công nghệ thông tin, chương trình tin học cơ sở, ngoài các kiến thức cơ bản
nên lựa chọn thêm các nội dung sau: các thao tác cơ bản sử dụng máy vi
tính, đĩa mềm, CD-ROM, máy in ; sử dụng công cụ soạn thảo văn bản và
trình diễn phổ thông, chẳng hạn như: Winword, PowerPoint ; sử dụng một
số phần mềm đồ hoạ cơ bản như PaintBruth, Draw của MS Office và
hướng dẫn thêm các phần mềm đồ hoạ chuyên nghiệp như CoreiDraw,
PhotoShop để giáo viên có thể tham khảo thêm.
5.2.2 Xây dựng chương trình tin học nâng cao cho giáo viên.
- Chương trình này nhằm củng cố và hoàn thiện các kỹ năng cơ bản về sử
dụng máy tính và sử dụng các phần mềm thông dụng. Các kỹ năng cơ bản
để khai thác internet, truy cập các website, cách download thông tin từ
mạng internet, cách trao đổi thông tin qua mạng như gửi thư điện tử email,
gửi và nhận tệp tin
- Sử dụng các phần mềm công cụ để thiết kế bài giảng điện tử, nên lựa
chọn các phần mềm thông dụng như PowerPoint, Flash Sử dụng các
phương tiện kỹ thuật điện tử như máy chiếu đa năng Projector, máy chiếu
vật thể, máy quét, máy ảnh
- Sử dụng và khai thác một cách sáng tạo các phần mềm dạy học hiện có.
Giới thiệu một số phần mềm công cụ như: ProntPage, Flash để một số
21
giáo viên có điều kiện có thể tự mình hoặc kết hợp thành một nhóm biên
tập các bài giảng điện tử, các website, thậm chí các phần mềm dạy học.
5.2.3 Xây dựng phòng bộ môn " Nghiên cứu triển khai ứng dụng
công nghệ thông tin vào dạy học".
Trong điều kiện hiện nay, việc trang bị một phòng khoảng 20-30 mày vi
tính nối mạng internet có đầy đủ các trang thiết bị tối thiểu để giáo viên
thực hành khai thác, tìm kiếm thông tin, sử dụng phần mềm dạy học, thiết
kế các bài giảng điện tử là cần thiết và không vượt qua khả năng tài chính
của trường. Không thể tiến hành bồi dưỡng , trang bị kỹ năng ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học theo kiểu học chay được mà đòi hỏi phải
Bài giảng phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với đặc
trưng bộ môn, phương pháp dạy học. Thể hiện nổi bật được bài học, khơi gợi
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong nhận thức, luyện tập.
* Yêu cầu cụ thể cho các tiêu chí:
- Tiêu chí 1 (4 điểm): Đảm bảo chính xác về nội dung kiến thức, chính xác
về chính tả, từ ngữ.
- Tiêu chí 2 (3 điểm): Khoa học trong cách thiết kế, trình bày các slide
không quá nhiều, không quá phức tạp, được thiết kế khoa học, phù hợp với
đặc trưng bộ môn, có tác dụng giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá,
luyện tập. Giáo viên và học sinh đều dễ sử dụng. Nội dung các slide được thiết
kế, trình bày sao cho thể hiện nổi bật kiến thức, có tính hệ thống, trình tự,
logic; Hình thức thẩm mĩ, hấp dẫn, giúp học sinh tập trung chú ý, không gây
phân tán sự chú ý của học sinh; phù hợp với phương pháp dạy học tích cực,
thể hiện rõ dụng ý dẫn dắt học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá (phát huy trí
lực của học sinh).
- Tiêu chí 3 (3 điểm): Các phần mềm và các slide, các phim tư liệu (nếu có)
làm rõ và thể hiện được sinh động nội dung bài học, đạt được hiệu quả cao
trong minh hoạ, khám phá, hệ thống hoá và khắc sâu chốt kiến thức (đặc biệt
là phần trọng tâm bài), hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá bài học. Phần
23
mềm ứng dụng đạt hiệu quả cao và sinh động trong thể hiện kiến thức và dẫn
dắt học sinh xây dựng bài.
- Tiêu chí 4 (2 điểm): Trắc nghiệm sinh động đạt hiệu quả củng cố, luyện
tập, đánh giá tiết học.
5.2 Tiêu chí về hình thức (2 điểm):
Trình bày thẩm mĩ, rõ nét, dễ hiểu, dể nắm bắt nội dung bài học, kích thích
được sự hưng phấn, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Không làm học
sinh mất tập trung vào bài học.
* Yêu cầu cụ thể:
- Tiêu chí 5 (1 điểm): Hình và chữ phải rõ, nét, cỡ chữ đủ lớn để xem, lời lẽ
ngày càng cao của người học.
Kết quả cụ thể năm học 2010-2011 qua so sánh đối chiếu với những năm
trước:
Loại Không sử
dụng GAĐT
Sử dụng
GAĐT
Tăng Giảm
Giỏi 0 4 7,3%
Khá 6 11 15%
Trung bình 24 15 21,2%
Từ đó tôi nhận thấy sử dụng giáo án điện tử trong dạy học môn Ngữ văn là
một nhu cầu ngày càng được người dạy và người học quan tâm và cũng
phù hợp với sự phát triển chung của xu thế thời đại và yêu cầu của ngành
giáo dục. Theo tôi vấn đề này cần được coi trọng trong quá trình dạy học
văn, cần được triển khai, mở rộng thành những chuyên đề bồi dưỡng cho
giáo viên THCS để chất lượng trong mỗi giờ dạy ngày càng được nâng cao
và mang lại hiệu quả
25